HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP - Pdf 75

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP
1.1 . Khái quát về doanh nghiệp
1.1.1. Khái niệm
Ở mỗi nước, trong thời kỳ khác nhau, tùy thuộc vào những điều kiện cụ
thể của nền kinh tế mà hình thành nên những mô hình tổ chức sản xuất, kinh
doanh khác nhau. Nhà nước tạo lập và vận hành nền kinh tế thị trường thông
qua việc xác định các mô hình cơ bản của tổ chức sản xuất, quy định địa vị pháp
lý của mỗi loại chủ thể kinh doanh phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội trong
từng thời kỳ.
Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh
tế. Tổ chức cá nhân thuộc các thành kinh tế được sản xuất kinh doanh trong
những ngành nghề mà pháp luật không cấm cùng phát triển lâu dài, hợp tác,
bình đằng và cạnh tranh theo pháp luật.
Có nhiều chủ thế tham gia vào nền kinh tế nhiều thành phần của nước ta.
Nhóm chủ thể kinh doanh quan trọng nhất là đối tượng điều chỉnh chủ yếu của
pháp luật kinh tế đó là các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, loại chủ
thể thứ hai là các hộ kinh doanh cá thể. Hộ kinh doanh cá thể tuy số lượng lớn
nhưng cần thiết trong điều kiện hiện tại của nền kinh tế hiện nay, song quy mô
và phạm vi kinh doanh nhỏ, thường là hộ gia đình hoạt động trong phạm vi
quận huyện. Ngoài ra còn có những người kinh doanh nhỏ, thường là các cá
nhân và người kinh doanh lưu động và không ổn định về địa điểm mặt hàng hay
dịch vụ.
Theo luật doanh nghiệp, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có
tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của
pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh- tức là thực hiện
một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu
thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Như vậy thuật ngữ doanh nghiệp dùng để chỉ một chủ thể kinh doanh
độc lập có đủ những đặc trưng pháp lý và thoả mãn những điều kiện do pháp
luật quyđịnh.Trong thực tế doanh nghiệp được thành lập và hoạt động dưới

• Doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân
Các doanh nghiệp loại này bao gồm: các công ty hợp danh, các loại
doanh nghiệp tư nhân, trong kinh doanh các doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm
vô hạn, đặc biệt trong trường hợp doanh nghiệp tuyên bố phá sản
• Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân
Là các loài hình doanh nghiệp còn lại trừ công ty hợp danh và các doanh
nghiệp tư nhân. Các doanh nghiệp này có trách nhiệm hữu hạn.
1.1.2.3.Phân loại theo hình thức pháp lý của các tổ chức kinh doanh
Nếu xem xét doanh nghiệp từ ý nghĩa là một chủ thể pháp lý và từ thực
tiễn Việt nam khái quát lại có các mô hình cơ bản là:
• Công ty cổ phần
• Công ty TNHH: công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH
có từ hai thành viên trở lên.
• Công ty hợp danh
• Doanh nghiệp tư nhân
Các công ty Nhà nước, trước hết là công ty Nhà nước độc lập thực chất
là một loại hình công ty TNHH một thành viên.
1.2.Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
1.2.1. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
1.2.1.1. Khái niệm và đặc điểm tài sản ngắn hạn.
Để đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp phải có tư liệu sản
xuất mà nó bao gồm hai bộ phận là tư liệu lao động và đối tượng lao động.
Nếu như tư liệu lao động tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, hình thái
vật chất không thay đổi từ chu kỳ đầu tiên cho tới khi bị sa thải khỏi quá trình
sản xuất thì đối tượng lao động lại khác, nó chỉ tham gia vào một chu kỳ sản
xuất đến chu kỳ sản xuất sau lại phải sử dụng các đối tượng lao động khác.
Phần lớn các đối tượng lao động thông qua quá trình chế biến để hợp
thành thực thể của sản phẩm như bông thành sợi, cát thành thuỷ tinh, một số
khác bị mất đi như các loại nhiên liệu. Bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh
nào cũng cần phải có các đối tượng lao động. Lượng tiền ứng trước để thoả mãn

Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn, tài sản ngắn hạn được
chia thành:
Tài sản ngắn hạn dự trữ : là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu
dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, bao
gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang đi
đường, nguyên nhiên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho, hàng gửi gia
công, trả trước cho người bán.
Tài sản ngắn hạn sản xuất: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong
khâu sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: giá trị bán thành phẩm, các chi phí
sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, các
khoản chi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất…
Tài sản ngắn hạn lưu thông: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong
khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán,
các khoản nợ phải thu của khách hàng.
Theo cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định
được các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của tài sản ngắn hạn để
đưa ra biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng một
cách cao nhất.
1.2.1.2.2. Phân loại theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán
Căn cứ vào các khoản mục trong bảng cân đối kế toán tài sản ngắn hạn
bao gồm: tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và
tài sản ngắn hạn khác.
Tiền mặt
Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của
doanh nghiệp ở ngân hàng.
Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định,
trả tiền thuế, trả nợ.
Tiền mặt bản thân nó là loại tài sản không sinh lãi, do vậy trong quản lý tiền
mặt thì việc tối thiểu hoá lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan trọng nhất.
Các khoản đầu tư ngắn hạn.

cân đối giữa các khoản phải thu thì doanh nghiệp sẽ gặp phải những khó khăn
thâm chí dễ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán.
Hàng tồn kho
Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất, kinh
doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hoá dự trữ, tồn kho là những bước đệm cần
thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp.
Hàng hoá tồn kho có ba loại: nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình
sản xuất, kinh doanh; sản phẩm dở dang và thành phẩm. Các doanh nghiệp
không thể tiến hành sản xuất đến đâu mua hàng đến đó mà cần phải có nguyên
vật liệu dự trữ.
Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó có vai trò
rất lớn để cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành được bình thường. Tuy
nhiên nếu doanh nghiệp dự trữ quá nhiều sẽ tốn kém chi phí, ứ đọng vốn thậm chí
nếu sản phẩm khó bảo quản có thể bị hư hỏng, ngược lại nếu dự trữ quá ít sẽ làm
cho quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, các khâu tiếp theo sẽ không thể
tiếp tục được nữa đồng thời với việc không hoàn thành được kế hoạch sản xuất.
Tồn kho trong quá trình sản xuất là các loại nguyên liệu nằm tại từng
công đoạn của dây truyền sản xuất. Thông thường quá trình sản xuất của các
doanh nghiệp được chia thành nhiều công đoạn, giữa những công đoạn này bao
giờ cũng tồn tại những bán thành phẩm.
Đây là những bước đệm nhỏ để quá trình sản xuất được liên tục. Nếu dây
truyền sản xuất càng dài và càng có nhiều công đoạn thì tồn kho trong quá trình
sản xuất sẽ càng lớn.
Khi tiến hành sản xuất xong hầu hết các doanh nghiệp chưa thể tiêu thụ
hết sản phẩm. Phần thì do có “độ trễ” nhất định giữa các sản xuất và tiêu dùng,
phần phải có đủ lô hàng mới xuất được... Những doanh nghiệp mà sản xuất
mang tính thời vụ và có quy trình chế tạo tốn nhiều thời gian thì dự trữ, tồn kho
sản phẩm sẽ lớn.
Do đó để đảm bảo cho sự ổn định sản xuất, doanh nghiệp phải duy trì một
lượng hàng tồn kho dự trữ an toàn và tuỳ thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà

chi phí đặt hàng khẩn cấp và chi phí thiệt hại do ngừng sản xuất. Khi sản phẩm
dở dang tồn kho bị hết thì doanh nghiệp bị thiệt hại do kế hoạch sản xuất kinh
doanh bị thay đổi, gây nên thiệt hại do ngưng trệ sản xuất và phát sinh chi phí.
Khi thành phẩm, hàng hóa tồn kho hết có thể gây ra hậu quả là lợi nhuận bị mất
trong ngắn hạn kho khách hàng mua sản phẩm của doanh nghiệp khác gây nên
những mất mát tiềm năng trong dài hạn.
• Mô hình quản lý hàng tồn kho hiệu quả - Mô hình EOQ
Mô hình EOQ là một mô hình quản lý hang tồn kho mang tính định lượng
được sử dụng để xác định mức tồn kho tối ưu cho doanh nghiệp, dựa trên cơ sở
giữa chi phí tồn trữ hàng tồn kho và chi phí đặt hàng có mối quan hệ tương quan
tỷ lệ nghịch. Cụ thể, nếu số lượng sản phẩm cho mỗi lần đặt hàng tăng lên thì số
lần đặt hàng trong kỳ giảm xuống và dẫn đến chi phí đặt hàng trong kì giảm
trong khi chi phí tồn trữ hàng hóa tăng lên. Do đó mục đích của quản lý hàng
tồn kho là cân bằng hai loại chi phí: chi phí tồn trữ và chi phí đặt hàng sao cho
tổng chi phí tồn kho là thấp nhất.
Gọi Q là lượng hàng tồn kho cho mỗi lần đặt hàng, khi hết hang doanh
nghiệp lại tiếp tục đặt mua Q đơn vị hàng mới, Tại thời điểm đầu kỳ, lượng
hàng tồn kho là Q và ở thời điểm cuối kỳ là 0 nên số lượng tồn kho bình quân
trong kỳ là:
22
0 QQ
=
+

Hình 1.1. Biến động hàng tồn kho trong một chu kỳ, hàng tồn kho
bình quân
Gọi C là chi phí tồn trữ cho mỗi đơn vị hàng tồn kho thì tổng chi phí tồn trữ
hàng tồn kho trong kỳ là:
xC
Q

Mô hình EOQ dựa trên một số giả định, bao gồm nhu cầu về hàng tồn kho, thời
gian chuẩn bị giao nhận hàng bổ sung, chi phí đặt hàng và chi phí tồn trữ là cố
định. Tuy nhiên trong ứng dụng thực tế mô hình hàng tồn kho, một vài giả định
không còn giá trị. Do vậy, để hiểu sự khác biệt về các giả định đã tác động đến
phân tích số lượng đặt hàng tối ưu như thế nào là điều cần thiết và quan trọng.
Sau đây xin trình bày một số phương pháp khi một vài giả định ban đầu được
thay thế.
Thời gian chuẩn bị giao nhận hàng khác.
Mô hình EOQ giả định rằng việc cung cấp bổ sung hàng tồn kho sẽ được
diễn ra ngay tức thời, như vậy thời gian chuẩn bị giao nhận hàng là bằng 0. Tuy
nhiên, trên thực tế thường có một khoảng thời gian trôi qua giữa thời điểm đặt
mua hàng và thời điểm hàng được nhận tại kho. Khoảng thời gian chuẩn bị giao
nhận hàng này có thể bao gồm khoảng thời gian cần thiết để sản xuất mặt hàng
đó hay khoảng thời gian cần thiết để đóng gói và vận chuyển hoặc cả hai. Nếu
thời gian chuẩn bị giao nhận hàng là một con số nào đó không thay đổi theo thời
gian và được biết chắc chắn thì số lượng đặt hàng tối ưu Q* sẽ không bị tác
động bởi việc đặt hàng lại. Trong thực tế doanh nghiệp không bao giờ chờ đến
cuối chu kỳ hàng tồn kho mới đặt hàng mà là thường đặt hàng trước n ngày cho
cuối mỗi chu kỳ dự trữ. Số ngày n được xác định bằng với thời gian chuẩn bị
giao nhận hàng bổ sung.
Gọi Q' là điểm đặt hàng lại, khi đó điểm đặt hàng lại được tính bằng công
thức sau:

Trích đoạn Nhân tố khách quan
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status