THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM - Pdf 76

Thực trạng hoạt động đầu t nớc ngoài trên thị
trờng chứng khoán Việt Nam
1.1 Quá trình cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc và sự
phát triển Thị trờng chứng khoán Việt Nam
1.1.1 Quá trình Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nớc thời gian qua
Trong hơn 10 năm qua, Đảng và Nhà nớc đã thực hiện nhiều chủ trơng, biện
pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiêp nhà nớc, trong đó
phải kể tới sự đóng góp to lớn của hoạt động cổ phần hoá DNNN.
Chơng trình cổ phần hoá DNNN đã bắt đầu thực hiện thí điểm tại Thành phố
Hồ Chí Minh vào năm 1992, mở đầu cho công cuộc cải cách hệ thống DNNN một
cách sâu rộng. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, đã có lúc từ năm 1993 đến
1997, quá trình cổ phần hoá đã gần nh dừng lại. Từ cuối thập kỷ 90, cổ phần hóa
đợc đẩy mạnh lên một bớc đáng kể. Đánh dấu cho sự hồi sinh của chơng trình là
chủ trơng tại Nghị quyết Hội nghi lần thứ ba BCH Trung ơng Đảng khoá IX về tiếp
tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN. Tiếp đến, Nghị định
64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 về chuyển DNNN thành công ty cổ phần và các
văn bản hớng dẫn liên quan đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho việc sắp xếp,
đổi mới DNNN. Gần đây, ngày 30/3/2004, Thủ tớng Chính phủ đã ký Chỉ thị
11/CT-TTg về đẩy mạnh sắp xếp đổi mới DNNN.
Trên tinh thần của Nghị quyết Trung ơng 3, Nghị quyết Trung ơng 9 khoá
IX, triển khai thực hiện các văn bản pháp luật liên quan, chơng trình CPH DNNN
đã thu đợc nhiều kết quả. Tính tới cuối năm 2003, tổng số DNNN đợc cổ phần hoá
lên tới gần 1400 doanh nghiệp, riêng gần 3 năm từ 2001, số doanh nghiệp đợc CPH
là 979, chiếm 71,6% tổng số doanh nghiệp đã CPH. Số lợng doanh nghiệp CPH
tăng mạnh vào năm 2003:
Năm 1999 2000 2001 2002 2003 2004 (kế hoạch)
Số D N
CPH
249 212 204 164 611 1000
Nguồn: Thông tin tổng hợp
Các bộ, địa phơng thực hiện cổ phần hoá tốt là Bộ Công nghiệp, Bộ Giao

Trớc thực tế đó, Thủ tớng Chính phủ đã ra chỉ thị về đẩy mạnh sắp xếp đổi
mới DNNN, trong đó nhấn mạnh việc cổ phần hoá các DNNN quy mô lớn, các
tổng công ty. Phơng thức bán cổ phiếu đã gắn với đấu giá qua thị trờng chứng
khoán, không khép kín trong nội bộ doanh nghiệp. Trên tinh thần đó, Tổng công ty
Điện tử-tin học Việt Nam (Bộ Công nghiệp), Tổng công ty Xuất nhập khẩu và Xây
dựng Việt Nam (Bộ Xây dựng), Tổng công ty Thơng mại và xây dựng (Bộ Giao
thông vận tải) đã nằm trong danh sách các tổng công ty đầu tiên thực hiện cổ phần
hoá trong năm 2004
1
. Cùng lúc đó, Chính phủ đề nghị NHNN trong quý 2 năm
2004 gấp rút chuẩn bị đề án cổ phần hoá hai NHTM quốc doanh là Ngân hàng
Ngoại thơng Việt Nam và Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long
trình Chính phủ.
Nhìn lại hơn 10 năm bắt đầu thí điểm cổ phần hoá DNNN, kết quả đầy khích
lệ bên cạnh hàng loạt các khó khăn cần giải quyết. Với chủ trơng đẩy mạnh CPH
sâu rộng hiện nay, tơng lai về nguồn hàng dồi dào, chất lợng cao cho thị trờng là
điều có thể thấy rõ. Hàng hoá nhiều và chất lợng tốt chính là yếu tố quyết định thu
hút sự tham gia của nhà đầu t trong và ngoài nớc.
1 Quyết định 84/2004/QĐ-TTg ngày 13 tháng 5 năm 2004
1.1.2 Quá trình hình thành và phát triển Thị trờng Chứng khoán Việt
Nam
1.1.2.1 Sự ra đời thị trờng chứng khoán Việt Nam
Xuất phát từ nhận thức đúng đắn về vai trò của thị trờng chứng khoán trong
việc thúc đẩy phát triển kinh tế nói chung và hoàn thiện thị trờng tài chính nói
riêng, việc thiết lập và phát triển TTCK đã đợc đặt ra ngay từ đầu thập kỷ 90.
Chính Phủ Việt Nam đã có những bớc chuẩn bị khá thận trọng và công phu cho
việc ra đời của TTCK.
Ngày 21/12/1990, Quốc hội Nớc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã
thông qua Luật Công ty nhằm điều chỉnh hoạt động của công ty trách nhiệm hữu
hạn và công ty cổ phần. Luật này đã đợc thay thế bằng Luật Doanh nghiệp thông

hội nhập khu vực và quốc tế.
Từ thời điểm tháng 7 năm 2000 đến nay, các chứng khoán ở Việt Nam đợc
giao dịch trên hai thị trờng, thị trờng chính thức tại Trung tâm giao dịch chứng
khoán thành phố Hồ Chí Minh đối với các chứng khoán niêm yết và "thị trờng tự
do" đối với các chứng khoán còn lại.
Gần 4 năm đi vào hoạt động là quãng đờng không dài so với lộ trình 15 năm
đổi mới. Quãng đờng đó càng ngắn nếu đem so với lôgíc hình thành TTCK trong
lịch sử phát triển lâu dài của thể chế kinh tế thị trờng mà trong đó TTCK là nấc
thang cao nhất. Tuy nhiên, TTCK Việt Nam cũng đã trải qua nhiều bớc thăng trầm,
đúc rút đợc nhiều kinh nghiệm, và đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế
đất nớc. Năm 2004, UBCKNN đã chính thức trực thuộc Bộ Tài chính, thị trờng
chứng khoán dành cho các DNV&N (TTGDCK Hà Nội) đang đợc gấp rút đa vào
hoạt động. Với rất nhiều các nỗ lực của các Bộ, ngành liên quan, một loạt các văn
bản pháp luật mới, các văn bản thay thế, chỉnh sửa trong lĩnh vực chứng khoán và
thị trờng chứng khoán đã đợc ban hành, đặc biệt là việc ban hành Nghị định
144/2004/NĐ-CP thay thế Nghị định 48/1998/NĐ-CP về Chứng khoán và thị trờng
chứng khoán và Quyết định 163/2003/QĐ-TTg phê duyệt chiến lợc phát triển thị tr-
ờng chứng khoán từ nay đến năm 2010, đang hứa hẹn một sự trỗi dậy của TTCK
Việt Nam sau một thời gian dài trầm lắng.
1.1.2.2 Đánh giá kết quả hoạt động thị trờng chứng khoán Việt Nam đến
cuối năm 2003
Với mục tiêu cơ bản đề ra cho thời kỳ đầu hoạt động của TTCK Việt Nam là
đa vào vận hành một TTCK qui mô nhỏ, phát triển từ thấp đến cao và không gây
mất ổn định kinh tế-xã hội, TTCK sau hơn ba năm hoạt động đã bớc đầu đạt đợc
mục tiêu và dần khẳng định vị thế của mình trong tổng thể hệ thống tài chính quốc
gia. Dới đây là một số khía cạnh chính trong tổng thể hoạt động của thị trờng hơn
3 năm qua:
Về công tác tổ chức và vận hành TTGDCK
Hiện thị trờng chứng khoán Việt Nam mới đa vào hoạt động TTGDCK Tp.
HCM với vai trò là Sở giao dịch chính thức của thị trờng chứng khoán Việt Nam.

trong đó cổ phiếu chỉ có 1.223 tỷ đồng (chiếm 6,96%), trái phiếu là 16.345 tỷ đồng
(chiếnm 93,04%). Tính đến nay tổng giá trị niêm yết trên thị trờng đạt khoảng
2,8% GDP năm 2003. Mức vốn hoá của thị trờng (thị giá) là 19.382 tỷ đồng, chiếm
3,2% GDP năm 2003.
Bảng số liệu dới đây cho thấy toàn cảnh tình hình chứng khoán niêm yết trên
thị trờng:
Bng 3 : Thng kờ tỡnh hỡnh niờm yt chng khoỏn n ht ngy
31/12/2003.
(đơn vị: tr. ng)
Ton th
trng
C phiu Trỏi phiu
Chớnh ph
Trỏi phiu
Cụng ty
Trỏi phiu
a phng
Tng s CK
niờm yt
125 22 100 2 1
T trng 100,00% 17,60% 80,00% 1,60% 0,80%
Khi lng
CK niờm yt
231.044.460 112.001.080 114.966.330 1.577.050 2.500.000
T trng 100,00% 48,48% 49,76% 0,68% 1,08%
Giỏ tr CK
niờm yt
13.024.349 1.120.011 11.496.633 157.705 250.000
T trng 100,00% 8,60% 88,27% 1,21% 1,92%
GDP nm

việc đăng ký lại cổ phiếu để niêm yết và giao dịch trên TTGDCK. Vì thế, chức
năng đặc trng của TTCK là huy động vốn cho doanh nghiệp cha đợc phát huy theo
đúng nghĩa của nó.
Việc phát hành thêm của các công ty niêm yết cũng cha phát triển.
UBCKNN đã cấp giấy phép phát hành thêm cổ phiếu cho 5 công ty với tổng giá trị
trên 155,4 tỷ đồng. HAPACO đã thực hiện thành công đợt phát hành thêm một
2 Phụ lục 1: Thông tin về các công ty niêm yết trên thị trờng chứng khoán Việt Nam
triệu cổ phiếu mới ra công chúng để huy động vốn cho dự án xây dựng nhà máy
giấy Kraf với tổng số tiền thu đợc từ đợt phát hành là 32 tỷ đồng. CTCP Cơ điện
lạnh đã phát hành thêm 7,5 cổ phiếu thởng để tăng vốn điều lệ từ 150 tỷ lệ 225 tỷ
đồng. CTCP Xuất nhập khẩu Bình Thạnh niêm yết bổ sung 50.000 cổ phiếu, CTCP
Cáp và vật liệu viễn thông cũng tăng vốn điều lệ từ 120 tỷ đồng lên 180 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, CTCP xuất nhập khẩu Khánh Hội niêm yết bổ sung 190.000 cổ phiếu,
nâng vốn điều lệ của công ty từ 19 tỷ lên 20,9 tỷ đồng.
Hoạt động phát hành trái phiếu
Thị trờng trái phiếu Việt Nam nói chung còn cha phát triển và nhiều hạn chế.
Hiện nay, trên TTGDCK hiện chỉ có TPCP và trái phiếu doanh nghiệp (ngân hàng)
niêm yết, cha có trái phiếu công trình, trái phiếu của các Tổng công ty lớn niêm
yết. Tính đến đầu tháng 4/2004, trên TTGDCK có 121 loại TPCP với tổng giá trị là
15.450 tỷ đồng và niêm yết trái phiếu Ngân hàng Đầu t - Phát triển là 157 tỷ đồng.
Trái phiếu chính phủ đợc phát hành chủ yếu nhằm bủ đắp ngân sách và huy động
vốn đầu t cho các công trình quốc gia.
Về các phơng thức phát hành, gần đây, các hình thức phát hành TPCP có tính
đại chúng hơn. Các kỳ hạn trái phiếu phát hành đã đợc đa dạng hoá, thời gian đáo
hạn đợc mở rộng đáng kể. Hiện tồn tại song song 3 phơng thức phát hành : bán lẻ
qua hệ thống KBNN, bảo lãnh phát hành và đấu thầu qua TTGD. Tuy nhiên trên
thực tế còn tồn tại một số bất cập, ảnh hởng trực tiếp tới hiệu quả phát hành, trong
đó nổi bật nhất là 2 vấn đề liên quan đến lãi suất và kế hoạch phát hành. Các đợt
phát hành của 2 hình thức bảo lãnh và đấu thầu diễn ra đan xen quá gần nhau; trong
khi đó, phơng thức đấu thầu hiện nay sử dụng hình thức đấu thầu bán trái phiếu

phản ảnh tình hình thực tế của các công ty niêm yết do P/E của toàn thị trờng hiện
trung bình ở mức 5,5-6 trong khi đó ở các thị trờng khác trung bình là trên 10. Cổ
tức trung bình ở mức 15%/năm cao hơn hẳn mức lãi suất tiền gửi ngân hàng
7,5%/năm. Hiện nay, chỉ số VN-Index tơng đối ổn định và dao động xung quanh
mức 250 điểm.
Chỉ số VN-Index từ phiên đầu tiên đến phiên 745
3 Phụ lục 2: Tình hình giao dịch cổ phiểu trên thị trờng chứng khoán Việt Nam năm 2003
(Chỉ số VN-Index vào lúc thị trờng đóng cửa phiên giao dịch giữa tháng 4-
2004 l 259,43 điểm so với mức cao nhất 571,04 điểm v o 25-6-2001 v mức thấp
nhất 130,90 điểm v o 24-10-2003).
Đối với giao dịch trái phiếu, tình tình có ấm lên trong vài tháng cuối năm
2003. Các giao dịch chủ yếu tập trung vào hình thức giao dịch thoả thuận và thực
hiện đối với các trái phiếu đã đợc phát hành qua hình thức bảo lãnh. Tính đến
30/6/2003, tổng giá trị TPCP niêm yết là 5.561 tỷ đồng nhng việc giao dịch trái
phiếu trên TTGDCK chỉ dừng lại ở mức 336,523 tỷ đồng, chiếm 6,5% tổng giá trị
trái phiếu niêm yết. Hầu hết các trái phiếu sau khi phát hành đều đợc các tổ chức
đầu t, công ty bảo hiểm nắm giữ, không bán ra ngoài, kể cả đối với loại trái phiếu
5, 10 năm.
Các kết quả trên chỉ ra một chiều hớng lạc quan hơn về khả năng phát triển
của thị truờng sau một thời gian trầm lắng kéo dài. Đó là kết quả của sự phối hợp
nhiều biện pháp của các cơ quan, tổ chức khác nhau cũng nh sự quan tâm đầu t của
công chúng đầu t, đặc biệt là của các nhà ĐTNN.
Kết luận lại, TTCK Việt Nam đợc xây dựng theo mô hình tập trung với quy
mô nhỏ. Hoạt động của thị trờng bớc đầu đã đợc triển khai khá suôn sẻ, không gây
những biến động lớn hoặc tác động tiêu cực tới đời sống kinh tế-xã hội của đất nớc.
Tuy vậy thị trờng cha thực sự khai thác hiệu quả nguồn lực tài chính trong dân, tỷ lệ
đầu t vào chứng khoán còn quá nhỏ bé, tổng giá trị các chứng khoán niêm yết trên
thị trờng tập trung mới chiếm khoảng 2,43% GDP. Số lợng hàng hoá ít, chất lợng
hàng hoá trên thị trờng cha cao đang là một nguyên nhân chính dẫn đến tốc độ phát
triển chậm chạp của thị trờng trong giai đoạn hiện nay. Nhiều hạn chế khác cần đ-

ban hành ngày 12/11/1996, đợc sửa đổi, bổ sung ngày 9/6/2000. Luật Đầu t nớc
ngoài tại Việt Nam (gọi tắt là Luật Đầu t nớc ngoài) quy định các vấn đề liên quan
tới hoạt động ĐTNN tại Việt Nam bao gồm các hình thức đầu t, biện pháp bảo đảm
đầu t, quyền và nghĩa vụ của nhà ĐTNN và doanh nghiệp có vốn ĐTNN, và các
quy định về quản lý nhà nớc đối với ĐTNN.
Các nhà ĐTNN thực hiện bỏ vốn đầu t vào Việt Nam, không kể theo hình
thức đầu t trực tiếp hay đầu t gián tiếp đều có thể chịu sự điều chỉnh theo Luật này
5
.
Bên cạnh đó, Luật Đầu t nớc ngoài có các quy định làm cơ sở cho việc tạo hàng hoá
có vốn ĐTNN trên thị trờng chứng khoán nh cho phép các doanh nghiệp có vốn
ĐTNN chuyển đổi hình thức đầu t, chia tách, sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp; cho
phép các bên tham gia liên doanh chuyển nhợng giá trị vốn góp của mình trong liên
doanh
6
.
Không chỉ có vậy, các quy định trong Luật cũng cho thấy các điều kiện hỗ
trợ cho ĐTNN bao gồm các quy định về tỷ lệ đầu t tối thiểu của Bên nớc ngoài
trong liên doanh, về mua bán, trao đổi, chuyển ngoại hối, về chuyển lợi nhuận ra n-
ớc ngoài với các mức thuế chuyển lợi nhuận u tiên khác nhau, về thuế u đãi đối với
thu nhập doanh nghiệp
7
.
1.2.1.3 Luật Khuyến khích đầu t trong nớc
Nhằm mục tiêu tận dụng tối đa có hiệu quả mọi nguồn lực trong và ngoài n-
ớc để mở rộng đẩy mạnh hoạt động đầu t trong nớc, Quốc hội đã thông qua Luật
Khuyến khích đầu t trong nớc (sửa đổi) số 03/1998/QH10 ngày 20 tháng 5 năm
5 Các nhà đầu t nớc ngoài thờng trú lâu dài tại Việt Nam có quyền lựa chọn áp dụng Luật Đầu t nớc
ngoài tại Việt Nam hoặc Luật Khuyến khích đầu t trong nớc cho dự án đầu t của mình nhng chỉ đợc lựa
chọn một trong hai Luật đó.

10
. Theo Nghị định, nhà ĐTNN nếu nắm
giữ trên 20% số cổ phần phổ thông đợc quyền bán và thoả mãn một số quy định
khác thì trở thành cổ đông sáng lập, tham gia quản lý công ty.
8 Điều 5, khoản 1 Luật Khuyến khích đầu t trong nớc
9 Điều 27, 34 Luật Khuyến khích đầu t trong nớc
10 Điều 4, 5, chơng I Nghị định 64/2002/NĐ-CP
Nghị định cũng dành riêng một chơng để nói tới các quyền và nghĩa vụ của
cổ đông là nhà ĐTNN, trong đó có một số quyền cơ bản nh: quyền tham gia quản
lý, quyền sử dụng cổ phiếu trong các quan hệ tín dụng, quyền chuyển nhợng, mua
bán cổ phần.
Có thể nói, Nghị định 64 ra đời đã mở ra con đờng chính thức cho các nhà
ĐTNN tiếp cận với thị trờng chứng khoán sơ cấp của các DNNN cổ phần hoá. Nhờ
đó, công cuộc cải cách khối DNNN nhằm nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của
các doanh nghiệp này, tận dụng tối đa mọi nguồn lực của cá nhân, tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội trong và ngoài nớc đợc thực hiện sâu rộng và hiệu quả hơn.
1.2.1.5 Nghị định 38/2003/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2003
Nghị định 38/2003/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2003 ra đời đang tạo thêm
một nguồn hàng cho thị trờng chứng khoán Việt Nam thông qua việc hình thành
một loại hình doanh nghiệp mới là sự kết hợp của công ty trong nớc và công ty có
vốn nớc ngoài. Cụ thể là, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nớc
ngoài hiện tại có thể chuyển đổi thành Công ty cổ phần có vốn đầu t nớc ngoài.
Các công ty cổ phần có vốn ĐTNN sẽ tuân thủ các quy định của pháp luật về công
ty trong Luật Doanh nghiệp và đợc phép niêm yết trên TTCK, nhng giấy phép đầu
t và các hoạt động đợc phép vẫn sẽ đợc điều chỉnh theo Luật Đầu t nớc ngoài.
Để thực hiện Nghị định 38/2003/NĐ-CP, một thông t liên tịch giữa Bộ Kế
hoạch và Đầu t, Bộ Tài chính số 08/2003/TTLT-BKH-BTC đợc ban hành nhằm h-
ớng dẫn thực hiện các quy định trong Nghị định 38/CP.
Việc ban hành Nghị định 38/2003/NĐ-CP và thông t hớng dẫn 08?
2003/TTLT-BKH-BTC đang đặt ra một số vấn đề cần quan tâm đối với bộ phận

các quy tắc nghiêm ngặt này sẽ đợc nới lỏng tạo thuận lợi cho phía nớc ngoài. Tức
là, với đa số phiếu, các cổ đông nớc ngoài thờng là cổ đông đa số có thể kiểm soát
đợc công tác quản trị công ty và thông qua quyết định nếu không đợc sự nhất trí
của đại diện cổ đông trong nớc. Nhờ đó, tính linh hoạt trong việc ra quyết định,
nắm bắt thời cơ kinh doanh của doanh nghiệp đợc cải thiện một cách đáng kể.
Tuy tạo đợc nhiều thuận lợi cả về mặt tổ chức hoạt động, hoạch định chính
sách tài chính, song việc chuyển đổi này đặt ra không ít thách thức.
Một số bất lợi cần l ờng tr ớc
Theo qui định trong Nghị định 38/CP, bất kỳ sự chuyển nhợng cổ phần của
cổ đông sáng lập là ngời nớc ngoài cho bên thứ ba phải đợc sự phê chuẩn của Bộ
KH&ĐTvà số tiền thu đợc phải tái đầu t tại Việt Nam. Trong trờng hợp này, nếu cổ
đông sáng lập là ngời nớc ngoài muốn rút số tiền chuyển nhợng khỏi Việt Nam mà
không tái đầu t, họ sẽ phải đợc sự cho phép của Bộ Kế hoạch và Đầu t. Quy định
này sẽ gây thêm khó khăn cho việc chuyển cổ phần của cổ đông sáng lập nớc ngoài
sang đối tác Việt Nam.
Thực tế tại các doanh nghiệp có vốn ĐTNN hiện nay cho thấy, việc định giá
vốn góp ban đầu của các bên trong doanh nghiệp, đặc biệt về định giá đất đai, nhà
xởng, dây chuyền công nghệ có tính chính xác không cao và thờng cao hơn giá trị
thực tế. Trong khi đó, kết quả định giá này đợc phản ánh tại giá trị sổ sách, là cơ sở
để quyết định giá phát hành tối thiểu và giá bán ban đầu. Do đó, khi cổ phiếu đợc
đa ra thị trờng, giá sẽ có xu hớng giảm xuống cho bằng giá trị thực của doanh
nghiệp. Điều đó làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu và tính thanh khoản theo đó
cũng giảm xuống.
Vấn đề chuyển đổi các doanh nghiệp có vốn ĐTNN sang hoạt động theo
hình thức công ty cổ phần còn rất mới mẻ tại Việt Nam. Nhiều ý kiến trái ngợc bàn
về sự cần thiết của công tác chuyển đổi. Mặc dù vậy, phải khẳng định đây là xu h-
ớng tất yếu cho sự phát triển một hệ thống toàn diện các doanh nghiệp của nền kinh
tế thị trờng hiện đại, tạo nền tảng cho TTCK phát triển ổn định và vững mạnh.
1.2.1.6 Quyết định 36/2003/QĐ-TTg ngày 11 tháng 3 năm 2003
Thay thế cho Quyết định 145/1999/QĐ-TTg, Quyết định 36/2003/QĐ-TTg

. Điều này hạn
chế một lợng không nhỏ các nhà ĐTNN đang quan tâm đến các lĩnh vực kinh
doanh hấp dẫn khác.
Ngoài ra, Quyết định và Thông t hớng dẫn số 73/2003/TT-BTC đã đa ra các
quy định cụ thể về quy trình bán cổ phần cho nhà ĐTNN để tránh sự lúng túng của
các doanh nghiệp trớc cơ hội huy động nguồn vốn bên ngoài cũng nh của các cơ
11 Điều 5, khoản 1.a Quyết định 36/2003/QĐ-TTg
12 Quyết định 260/2002/QĐ-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu t ngày 10/5/2003
quan Nhà nớc trong công tác quản lý việc bán cổ phần cho nhà ĐTNN của các
doanh nghiệp Việt Nam.
1.2.2 Các văn bản pháp lý áp dụng trực tiếp cho hoạt động đầu t nớc
ngoài trên thị trờng chứng khoán Việt Nam
1.2.2.1 Nghị định 144/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 11 năm 2003
Nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn trên thị trờng chứng khoán Việt Nam sau
hơn 3 năm hoạt động, UBCKNN đã gấp rút soạn thảo và trình Chính phủ Nghị định
thay thế Nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và thị trờng chứng khoán.
Ngày 28/11/2003, Nghị định 144/2003/NĐ-CP đợc chính thức ban hành trở thành
văn bản có tính pháp lý cao nhất về lĩnh vực chứng khoán và thị trờng chứng khoán
tại Việt Nam. Nghị định 144/CP lấy tinh thần chung của Nghị định 48/CP tuy có
một số thay đổi cho phù hợp với đòi hỏi phát triển của thị trờng, trong đó có một số
thay đổi liên quan tới vấn đề tham gia của bên nớc ngoài vào thị trờng chứng
khoán.
Nghị định đề cập tới cả hai hình thức ĐTNN đợc phép tại Việt Nam: hình
thức đầu t gián tiếp của cá nhân, tổ chức nớc ngoài mua bán chứng khoán trên thị
trờng chứng khoán Việt Nam theo tỷ lệ do Thủ tớng Chính phủ quy định; và hình
thức đầu t trực tiếp thành lập tổ chức kinh doanh chứng khoán gồm có công ty
chứng khoán liên doanh và công ty quản lý Quỹ liên doanh. Việc quản lý và cấp
phép hoạt động cho hoạt động đầu t chứng khoán trực tiếp đều do UBCKNN đảm
nhiệm
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status