MỘT SỐ LÝ THUYẾT KINH TẾ VỀ ĐẦU TƯ CÙNG VAI TRÒ CỦA ĐẦU TƯ VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ - Pdf 76

MỘT SỐ LÝ THUYẾT KINH TẾ VỀ ĐẦU TƯ CÙNG VAI TRÒ CỦA
ĐẦU TƯ VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
I. Tổng quan về đầu tư
1. Khái niệm:
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các
hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các
nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy , mục tiêu của mọi công
cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực
mà nhà đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư.
Nguồn lực được nói đến ở đây có thể là tiền, tài nguyên, công nghệ, nhà
xưởng, sức lao động, trí tuệ… và các mục đích hướng tới chính là sự tăng lên về
tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, máy
móc…), tài sản trí tuệ (trình độ chuyên môn, kỹ năng tay nghề, năng suất lao
động, trình độ quản lý… ) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm việc với năng
suất cao hơn trong nền sản xuất XH.
Có hai hình thức đầu tư mà ta xét:
+ Đầu tư trực tiếp là sự đầu tư thông qua sản xuất, cung cấp dịch vụ,
buôn bán tại nước nhận đầu tư. Hình thức đầu tư này thường dẫn đến sự thành
lập một pháp nhân riêng như công ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài,
chi nhánh công ty nước ngoài. Đầu tư trực tiếp góp phần làm tăng tổng sản
phẩm quốc nội, thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ và phương thức quản
lý, kinh doanh tiên tiến, đồng thời góp phần giải quyết vấn đề việc làm tại nước
nhận đầu tư.
+ Đầu tư gián tiếp là sự đầu tư thông qua việc buôn bán cổ phiếu và các
giấy tờ có giá trị, gọi chung là chứng khoán. Hình thức đầu tư này không dẫn
đến việc thành lập pháp nhân riêng. Hình thức này mang tính đầu cơ nên có thể
thu lãi rất lớn thông qua sự biến động giá chứng khoán (điều này lại liên quan
đến nhiều yếu tố khác như tình hình chính trị, phát triển kinh tế, chính sách điều
hành vĩ mô, v.v...), nhưng cũng chính vì thế mà có thể phải chịu những rủi ro
khó lường trước. Đối với nước nhận đầu tư, hình thức đầu tư góp phần giải
quyết sự khan hiếm vốn, nhưng khi các nhà đầu tư đồng loạt rút đi (bằng cách

vai trò quản lí, kiểm tra giám sát của cơ quan quản lí Nhà nước các cấp. Thực
tế, có những khoản đầu tư tuy không trực tiếp tạo ra tài sản cố định và tài sản
lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đầu tư cho y tế, giáo dục, xoá
đói giảm nghèo… Nhưng lại rất quan trọng để nâng cao chất lượng cuộc sống
và vì mục tiêu phát triển, do đó cũng được xem là đầu tư phát triển.
* Mục đích
Đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia, cộng
đồng và nhà đầu tư. Trong đó, đầu tư Nhà nước nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, tăng thu nhập quốc dân, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao đời sống
của các thành viên trong XH. Đầu tư của doanh nghiệp nhằm tối thiểu chi phí,
tối đa lợi nhuận, nâng cao khả năng cạnh tranh và chất lượng nguồn nhân lực…
Hoạt động của đầu tư phát triển là một quá trình diễn ra trong thời kì dài
và tồn tại vấn đề “độ trễ thời gian”. Độ trễ thời gian là sự không trùng hợp giữa
thời gian đầu tư và thời gian vận hành các kết quả đầu tư. Đầu tư hiện tại nhưng
kết quả thường được thu trong tương lai. Đặc điểm này của đầu tư cần được
quán triệt khi đánh giá kết quả ,chi phí và hiệu quả đầu tư phát triển.
* Đặc điểm của đầu tư phát triển:
- Quy mô tiền vốn vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát
triển thường rất lớn. Vốn đầu tư lớn nằm khô đọng lâu trong suốt quá trình thực
hiện đầu tư. Lao động cần sử dụng cho cac dự án rất lớn, đặc biệt đối với các dự
án trọng điểm quốc gia.
- Thời kì đầu tư kéo dài: thời kì đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự
án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động. Nhiều công trình đầu tư phát
triển có thời gian kéo dài hàng chục năm.
- Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài: thời gian vận hành các
kết quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn
sử dụng và đào thải công trình.
- Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựng
thường phát huy tác dụng ở ngay nơi no được tạo dựng nên, do đó, quá trình
thực hiện đầu tư cũng như thời kì vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng

nghiệp lần đầu, mua lại cổ phần hoặc sáp nhập doanh nghiệp. Đầu tư tài chính
thường được thực hiện gián tiếp thông qua các trung gian tài chính như các
ngân hàng, các quĩ đầu tư, công ty chứng khoán.
- Đầu tư tài sản tài chính là loại đầu tư không trực tiếp làm tăng sản phẩm
thực (tài sản vật chất) cho nền kinh tế (nếu không xét đến quan hệ quốc tế trong
lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính cho chủ đầu tư. Với sự
hoạt động của hình thức đầu tư này, vốn được lưu chuyển dễ dàng, khi cần có
thể rút ra nhanh chóng. Đây thực sự là một nguồn cung cấp vốn quan trọng cho
đầu tư phát triển.
2.3 Đầu tư thương mại
Đầu tư thương mại là hình thức đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra
mua hàng hóa và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận chênh lệch do
giá khi mua và khi bán. Loại đầu tư này không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế
(nếu không xét đến ngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của nhà đầu
tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa
người bán với nhà đầu tư và giữa nhà đầu tư với khách hàng của họ. Tuy nhiên
đầu tư thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất do
đầu tư phát triển tạo ra. Từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho ngân
sách, tăng tích luỹ vốn cho phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ nói riêng và
nền sản xuất xã hội nói chung.
3. Các lí thuyết kinh tế về đầu tư
3.1.Số nhân đầu tư
Số nhân đầu tư phản ánh vai trò của đầu tư đối với sản lượng. Nó cho
thấy sản lượng gia tăng bao nhiêu khi đầu tư gia tăng 1 đơn vị .
Công thức tính:
k = ∆Y/ ∆I (1)
Trong đó: ∆Y: Mức gia tăng sản lượng
∆I : Mức gia tăng đầu tư
k : Số nhân đầu tư
Từ công thức (1) ta được

=
MPS
1
(3)

Trong đó:

MPC =
Y
C


Khuynh hướng tiêu dùng biên

MPS =
Y
s


Khuynh hướng tiết kiệm biên
Vì MPS < 1 nên k >1
Nếu MPC càng lớn thì k càng lớn, do đó, độ khuyếch đại của sản lượng
càng lớn. Sản lượng càng tăng, công ăn việc làm càng tăng.
Thực tế, gia tăng đầu tư, dẫn đến cầu về các tư liệu sản xuất (máy móc,
thiết bị, nguyên nhiên vật liệu…) và quy mô lao động. Sự kết hợp hai yếu tố này
làm cho sản xuất phát triển, kết quả là gia tăng sản lượng nền kinh tế.
3.2. Gia tốc đầu tư
Số nhân đầu tư giải thích mối quan hệ giữa gia tăng đầu tư gia tăng sản
lượng hay việc gia tăng đầu tư có ảnh hưởng như thế nào đến sản lượng. Như
vậy, đầu tư xuất hiện như một yếu tố của tổng cầu. Theo Keynes (nhà kinh tể học

tế đại lượng này (x) luôn luôn biến động do sự tác động của nhiều nhân tố khác
nhau.
- Thực chất lí thuyết đã xem xét sự biến động của đầu tư thuần (NI) chứ
không phải sự biến động của tổng đầu tư do sự tác động của thay đổi sản lượng.
Vì, từ công thức (5) có thể viết:
+ Tại thời điểm t:
tt
YxK
∗=
(6)
+ Tại thời điểm (t-1):
11
−−
∗=
tt
YxK
(7)
+ Lấy (6) trừ (7) ta được:

)(
111 −−−
−∗=∗−∗=−
tttttt
YYxYxYxKK
(8)
Trong đó:

1−

tt

I =0)
- Theo lí thuyết này toàn bộ vốn đầu tư mong muốn đều được thực hiện
ngay trong cùng một thời kì. Điều này không đúng bởi nhiều lí do, chẳng hạn do
việc cung cấp các yếu tố liên quan đến thực hiện vốn đầu tư không đáp ứng, do
cầu vượt quá cung… Do đó, lí thuyết gia tốc đầu tư tiếp tuc được hoàn thiện qua
thời gian.theo lí thuyết gia tốc đầu tư sau này thì vốn đầu tư mong muốn được
xác định như là một hàm của mức sản lượng hiện tại và quá khứ, nghĩa là, qui
mô đầu tư mong muốn được xác định trong dài hạn.
Nếu gọi:
t
K

1

t
K
là vốn đầu tư thực hiện ở thời kì t và (t-1)
*t
K
là vốn đầu tư mong muốn

λ
là một hằng số ( 0<
λ
<1 )
Thì:
)(*
11 −−
−=−
tttt

)(*
1* −
−=∆
tt
KKI
λ

Để xác định tổng đầu tư,chúng ta giả định:
t
D
=
1
*
−t
K
δ

δ
là hệ số khấu hao và 0
1
<<
δ
.
Do đó:

−=−
ttt
IDI
)(**
1*1 −−

được lựa chọn. Vì lợi nhuân cao, thu nhập giữ lại cho đầu tư sẽ lớn và mức đầu
tư sẽ cao hơn. Nguồn vốn cho đầu tư có thể huy động bao gồm: Lợi nhuận giữ
lại, tiền trích khấu hao, đi vay các loại trong đó bao gồm cả việc phát hành trái
phiếu và bán cổ phiếu. Lợi nhuận giữ lại và tiền trích khấu hao tài sản là nguồn
vốn nội bộ của doanh nghệp, còn đi vay và phát hành trái phiếu, bán cổ phiếu là
nguồn vốn huy động từ bên ngoài. Vay mượn thì phải trả nợ, trường hợp nền
kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, doanh nghiệp có thể không trả được nợ và
lâm vào tình trạng phá sản. Do đó việc đi vay không phải là điều hấp dẫn, trừ
khi được vay ưu đãi. Cũng tương tự, việc tăng vốn đầu tư bằng phát hành trái
phiếu cũng không phải là biện pháp hấp dẫn. Còn bán cổ phiếu để tài trợ cho
đầu tư chỉ được các doanh nghiệp thực hiện khi hiệu quả của dự án đầu tư là rõ
ràng và thu nhập do dự án đem lại trong tương lai lớn hơn các chi phí đã bỏ ra.
Chính vì vậy, theo lí thuyết quỹ nôi bộ của đầu tư, các doanh nghiệp
thường chọn biện pháp tài trợ cho đầu tư từ các nguồn vốn nội bộ và chính sự
gia tăng của lợi nhuận sẽ làm cho mức đầu tư của doanh nghiệp lớn hơn.
Sự khác nhau giữa lí thuyết gia tốc đầu tư và lí thuyết nàydẫn đến việc
thực thi các chính sách khác nhau để khuyến khích đầu tư. Theo lí thuyết gia tốc
đầu tư, chính sách tài khóa mở rộng sẽ làm cho mức đầu tư cao hơn và do đó
sản lượng thu được cũng sẽ cao hơn. Còn việc giảm thuế lợi tức của doanh
nghiệp không có tác dụng kích thích đầu tư. Ngược lại, theo lí thuyết quỹ nội bộ
của đầu tư thì việc giảm thuế lợi tức của doanh nghiệp sẽ làm tăng lợi nhuận từ
đó tăng đầu tư và tăng sản lượng, mà tăng lợi nhuận có nghĩa là tăng quỹ nội bộ.
Quỹ nội bộ là một yếu tố quan trọng để xác định lượng vốn đầu tư mong muốn,
còn chính sách tài khóa mở rộng không có tác dụng trực tiếp làm tăng đầu tư
theo lí thuyết này.
3.4.Lí thuyết tân cổ điển
Theo lí thuyết này thì đầu tư bằng tiết kiệm (ở mức sản lượng tiềm năng).
Còn: tiết kiệm S = s*y trong đó 0
1
<<

)1(
α

: Lao động
A*
)(
π
E
biểu thị ảnh hưởng của yếu tố công nghệ.

α

)1(
α

là hệ số co giãn thành phần của sản xuất với các yếu
tố vốn và lao động (thí dụ nếu
α
=0.25 thì 1% tăng lên của vốn sẽ làm cho sản
lượng tăng lên 25%). Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo thì
α

)1(
α

biểu
thị phần thu nhập quốc dân từ vốn và lao động.
Từ hàm sản xuất Cobb Douglas trên đây ta có thể tính được tỷ lệ tăng
trưởng của sản lượng như sau:
=

Ys
K
K *
=

Hoặc: h = s *
K
Y
Khi h không đổi, s không đổi thì
K
Y
cũng không đổi và Y phải tăng
trưởng cùng tỷ lệ như h và K.
Khi đó: g =
ngr *)1(*
αα
−++

Ở đây g là tỷ lệ tăng trưởng ở “thời đại hoàng kim”.
Suy ra:
g -
nrg *)1(*
αα
−+=
(1-
−+= 1(*) rg
α
α
)*n
Hay g =

Từ công thức: ICOR =
Y
K


Nếu
IK
=∆
, ta có : ICOR =
Y
I

Ta lại có: I = S =s *Y. Thay vào công thức tính ICOR,ta có:
ICOR =
Y
Ys
Y
K

=


*
Từ đây suy ra:
R
*
ICO
Ys
Y =∆
Phương trình phản ánh tốc độ tăng trưởng kinh tế:

sử dụng nhiều nhân tố khác phục vụ tăng trưởng.
II. KHÁI NIỆM TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1. Khái niệm:
1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng thu nhập của nền kinh tế trong một
khoảng thời gian nhất định (thường là một năm). Sự gia tăng thể hiện ở quy mô
và tốc độ. Quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng nhiều hay ít, còn tốc độ
tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng
nhanh hay chậm giữa các thời kì. Như vậy, bản chất của tăng trưởng là phản ánh
sự thay đổi về lượng của nền kinh tế.
Nhìn chung, tăng trưởng kinh tế được tính bằng % thay đổi của mức sản
lượng quốc dân.
g
t
= ( Y
t
– Y
(t+1
)/Y
(t-1)
*100%
Trong đó: g
t
: Tốc độ tăng trưởng của thời kì t
Y : GDP thực tế của thời kì t
Thước đo đó có thể gây nhầm lẫn nếu như dân số tăng rất nhanh trong khi
GDP thực tế lại tăng trưởng chậm.
Một định nghĩa khác có thể thích hợp hơn về tăng trưởng kinh tế theo
mức sản lượng bình quân đầu người được tính bằng tổng sản lượng hàng hoá và
dịch vụ được tạo ra trong năm chia cho dân số.

Tăng trưởng bền vững: Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm
định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự
tiếp tục phát triển trong tương lai xa. Khái niệm này hiện đang là mục tiêu
hướng tới nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế,
xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa... riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất
với quốc gia đó.
1.2 Khái niệm phát triển kinh tế
Hiện nay mọi quốc gia đều phấn đấu vì mục tiêu phát triển và trải qua thời
gian, khái niệm về phát triển cũng đã đi đến thống nhất. Phát triển kinh tế được hiểu
là quá trình biến đổi cả về lượng và chất,nó là sự kết hợp chặt chẽ quá trình hoàn
thiện của hai vấn đề kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Theo cách hiểu như vậy, phát
triển phải là một quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết
định. Nội dung của phát triển kinh tế được khái quát theo ba tiêu thức:
- Sự tăng lên của GDP, GNP hoặc GDP, GNP tính theo đầu người. Có nghĩa
là sự tăng trưởng kinh tế phải lớn hơn mức tăng dân số.
- Sự biến đổi theo đúng xu thế của cơ cấu kinh tế: tỷ trọng của các ngành
dịch vụ và công nghiệp trong GDP tăng lên còn tỷ trọng của nông nghiệp giảm
xuống. Nhưng giá trị tuyệt đối của các ngành tăng lên.
- Sự biến đổi ngày càng tốt hơn trong các vấn đề xã hội. Chất lượng cuộc
sống của đại bộ phận dân cư phải được cải thiện chính vì vậy phải phối hợp có
hiệu quả tăng trưởng kinh tế, ổn định lạm phát.
1.3 Mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển
Nói đến tăng trưởng kinh tế người ta thường liên tưởng đến việc gia tăng
về số lượng các chỉ tiêu kinh tế. Chẳng hạn như các chỉ tiêu về GDP, GNP, cán
cân thương mại, sản lượng sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu,...
Còn đề cập đến vấn đề phát triển kinh tế, ngoài các chỉ tiêu về số lượng
người ta còn quan tâm đến các chỉ tiêu về chất lượng như: công bằng xã hội,
khoảng cách giàu nghèo, trình độ dân trí, dịch vụ công ích,...
Tăng trưởng kinh tế chưa chắc đã là phát triển kinh tế. Ngược lại phát
triển kinh tế là đã bao hàm cả tăng trưởng kinh tế Tăng cường kinh tế là “điều

phối. Theo cách tiếp cận từ sản xuất, GDP là giá trị gia tăng tính cho toàn bộ
nền kinh tế. Nó được đo bằng tổng giá trị gia tăng của tất cả các đơn vị thường
trú trong nền kinh tế.
Như vậy: VA
i
= GO
i
- IC
i
Trong đó: GO
i
là tổng giá trị sản xuất, IC
i
là chi phí trung gian của ngành
i.
Tiếp cận từ chi tiêu, GDP là tổng chi cho tiêu dùng cuối cùng của các hộ
gia đình (C), chi tiêu của chính phủ (G), đầu tư tích luỹ tài sản (I) và chi tiêu
qua thương mại quốc tế, tức là giá trị kim ngạch xuất khẩu trừ kim ngạch nhập
khẩu (X-M).
GDP = C + G + I + (X – M)
Nếu tiếp cận từ thu nhập, GDP đựơc xác định trên cơ sở các khoản hình
thành thu nhập và phân phối thu nhập lần đầu, bao gồm: Thu nhập của người có
sức lao động dưới hình thức tiền công và tiền lương (W); thu nhập của người có
đất cho thuê(R); thu nhập của người có tiền cho vay (In); thu nhập của người có
vốn (Pr); khấu hao vồn cố định (Dp) và cuối cùng là thuế kinh doanh (Ti).
GDP = W + R + In + Pr + Dp + Ti
2.1.2. Tổng thu nhập quốc dân ( GNI )
Tổng thu nhập quốc dân(GNI): Đây là chỉ tiêu xuất hiện trong bảng SNA
năm 1993 thay cho chỉ tiêu GNP sử dụng trong bảng SNA năm 1968. Về nội
dung thì GNI và GNP là như nhau, tuy vậy khi sử dụng GNI là muốn nói theo

người có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu xu hướng chuyển biến thu nhập
của các quốc gia từ nhóm này sang nhóm khac so với mức bình quân toàn thế
giới.
2.1.4. Tổng giá trị sản xuất ( GO )
Tổng giá trị sản xuất (GO) là tổng giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ
được tạo nên trên phạm vi lãnh thổ của một quốc gia trong một thời kì nhất định
(thường là một năm). Chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất có thể được tính theo hai
cách. Thứ nhất, đó là tổng doanh thu bán hàng thu được từ các đơn vị, các
ngành trong toàn bộ nền kinh tế Quốc Dân. Thứ hai, tính trực tiếp từ sản xuất và
dịch vụ gồm chi phí trung gian (IC) và giá trị gia tăng của sản phẩm vật chất và
dịch vụ (VA).
Công thức tính:
GO = Chi phí trung gian + giá trị gia tăng
= IC + VA
2.1.5. Thu nhập quốc dân( NI )
Thu nhập quốc dân (NI): Là phần giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ
mới sáng tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định.NI chính là tổng thu nhập
quốc dân (GNI) sau khi đã trừ đi khấu hao vốn cố định của nền kinh tế (Dp).
NI = GNI - Dp
2.1.6. Thu nhập quốc dân sử dụng ( NDI )
Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI): Là phần thu nhập của cả quốc gia
dành cho tiêu dùng cuối cùng và tích luỹ thuần trong một thời kì nhất định. Chỉ
tiêu này được hình thành sau khi thực hiện phân phối thu nhập lần thứ hai, thực
chất nó là thu nhập quốc dân (NI) sau khi đã điều chỉnh các khoản thu, chi về
chuyển nhượng hiện hành giữa các đợn vị thường trú và không thường trú. Tuy
vậy, xét trên toàn bộ nền kịnh tế các chuyển nhượng hiện hành giữa các đơn vị
thường trú sẽ triệt tiêu nhau, vì nếu có một đơn vị chi thì sẽ có một đơn vị khác
thu chuyển nhượng. Vì vậy, NDI và NI sau khi điều chỉnh các khoản chuyển
nhượng hiện hành với nước ngoài.
NDI = NI + Chênh lệch về chuyển nhượng hiện hành với nước ngoài

đó, khung pháp lý ngày càng được đổi mới, tạo thuận lợi cho việc chuyển dần từ
nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị
trường, nhằm giải phóng sức sản xuất, huy động và sử dụng các nguồn lực có
hiệu quả, tạo đà cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.
*Về cơ cấu vùng kinh tế:
Trong những năm vừa qua cũng đạt được nhiều thành tựu quan trọng,
đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế. Trên bình diện quốc gia, đã hình
thành 6 vùng kinh tế: vùng trung du miền núi phía Bắc, vùng đồng bằng sông
Hồng, vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung, vùng Tây Nguyên, vùng
Đông Nam bộ và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, có 3 vùng kinh tế
trọng điểm là vùng động lực cho tăng trưởng kinh tế cả nước.
Các địa phương cũng đẩy mạnh việc phát triển sản xuất trên cơ sở xây
dựng các khu công nghiệp tập trung, hình thành các vùng chuyên canh cho sản
xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chế biến, nuôi trồng thuỷ sản, hình thành các
vùng sản xuất hàng hoá trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của từng
vùng. Điều này tạo thuận lợi cho phát triển công nghiệp chế biến, góp phần tạo
nên xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng sản xuất
hàng hoá, hướng về xuất khẩu.
*Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng mở cửa, hội
nhập vào kinh tế toàn cầu:
Thể hiện ở tỷ lệ xuất khẩu/GDP (XK/GDP) ngày càng tăng, nghĩa là hệ
số mở cửa ngày càng lớn, từ 34,7% năm 1992 lên 47% năm 2001, và đến năm
2005 là trên 50%. Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm 2001 – 2005 đã đạt 111 tỉ
USD, tăng bình quân 17,5%/năm (kế hoạch là 16%/năm), khiến cho năm 2005,
bình quân kim ngạch xuất khẩu/người đã đạt 390 USD/năm, gấp đôi năm 2000.
Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu tiếp tục đạt mức cao – 40 tỉ USD, tăng 24% so

Trích đoạn Tổng quan về tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status