HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC BẢO HIỂM CHÁY VÀ CÁC RỦI RO
ĐẶC BIỆT TẠI CÔNG TY BẢO MINH TH¡NG LONG (2006 -2008)
2.1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY BẢO MINH TH¡NG LONG
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Công ty cổ phần Bảo minh Thăng long đư c ợ thành lập ngày 05/05/2006 -
Quyết định số 27/GPĐC/KDBH ngày 05/5/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
Bảo minh Thăng long được thành lập trên cơ sở chia tách bộ máy từ Bảo
minh Hà nội, Bảo minh Hà nội thành lập từ năm 1995.
Sự ra đời của Công ty cổ phần Bảo minh Thăng long nằm trong phương
châm đa dạng hóa hoạt động của Tổng công ty, mở rộng thị trường, góp phần
nâng cao năng lực cũng như thị phần của Bảo minh trên thị trường bảo hiểm
Việt nam.
Khi mới chia tách bộ máy của Bảo minh Thăng long còn thiếu hụt: thiếu
phòng tổng hợp, phòng bảo hiểm con người, xe cơ giới, phòng khai thác trên địa
bàn huyện Đông Anh và huyện Từ Liêm.
Trong thời gian ngắn công ty đã cùng một lúc đẩy mạnh nhiều hoạt động:
tuyển dụng bổ sung cán bộ, xây dựng bộ máy tổ chức, ổn định văn phòng làm
việc ở trụ sở chính song song với việc đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh.
Hiện nay Bảo minh Thăng long đang tiến hành những nghiệp vụ bảo
hiểm sau:
- Nhóm các nghiệp vụ bảo hiểm con người.
- Nhóm các nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới.
- Nhóm các nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải.
- Nhóm các nghiệp vụ bảo hiểm tài sản- kĩ thuật.
Ngoài ra còn có một số loại hình bảo hiểm khác đang được triển khai
thực hiện như:
- Bảo hiểm hộ gia đình là sự kết hợp của ba loại hình: Bảo hiểm sức khỏe
gia đình, Bảo hiểm hỏa hoạn nhà tư nhân và Bảo hiểm xe mô tô.
- Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh…
2.1.2. Cơ cấu tổ chức
1:Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty Bảo minh Thăng long
5.480,12
4 BH hµng h¶i
14.163,04
18.958,10 36.069,32
Tổng
38.561,32
57.455,49 79.127,47
Tốc độ tăng trưởng
doanh thu (%)
_
49 37,72
Nguồn: B¶o minh Thăng long
Bảng số liệu 2.1 cho thấy doanh thu phí bảo hiểm của B¶o minh Thăng
long có xu hướng gia tăng qua các năm, tuy nhiên tốc độ tăng không đều. Bảo
minh Thăng long do mới ra đời nên bộ máy còn thiếu hụt và đa phần là cán bộ
mới nên gặp rất nhiều khó khăn tại thị trường Thủ đô cạnh tranh gay gắt. Cho
nên năm 2006 doanh thu của Bảo minh Thăng Long chỉ đạt 38 tỷ 561 triệu
đồng.Tuy nhiên qua hơn một năm hoạt động, Công ty đã cùng một lúc đẩy
mạnh nhiều mặt: xây dựng bộ máy tổ chức (đến nay, bộ máy của Công ty đã
hoàn thiện các phòng quản lý và các phòng khai thác bảo hiểm phủ kín địa
bàn); ổn định văn phòng làm việc song song với việc đẩy mạnh hoạt động
kinh doanh. Vì vậy năm 2007, doanh thu thực hiện của Bảo minh Thăng long
đã đạt 57 tỷ 455 triệu đồng, đạt 118,5% kế hoạch kinh doanh Tổng Công ty
giao, tăng trưởng 49% so với doanh thu thực hiện năm 2006. Đạt được kết quả
trên là do có sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ nhân viên Bảo minh Thăng
long và được sự quan tâm chỉ đạo giúp đỡ sát sao của ban điều hành và các ban
nghiệp vụ của Tổng công ty; Công ty cũng nhận được sự quan tâm ủng hộ của
chính quyền địa phương, các cơ quan ban ngành của thành phố.
Đến năm 2008, Bảo minh Thăng long tiếp tục đẩy mạnh nhiều mặt hoạt
động: ổn định văn phòng làm việc, cơ cấu và kiện toàn bộ máy tổ chức ở các
quyết định là công ty bảo hiểm sẽ áp dụng tỷ lệ phí nào đối với doanh nghiệp.
Do vậy, nhất thiết các khai thác viên cần nắm rõ các yếu tố này.
Bước 3: Điều tra rủi ro.
Tại Bảo minh Thăng long, đối với các dịch vụ có số tiền bảo hiểm lớn hơn
300.000 USD thì trước khi chào phí bảo hiểm, các khai thác viên cần phải tiến
hành lập phiếu điều tra rủi ro.
Trong quá trình sản xuất có thể phát sinh các rủi ro, vì vậy đánh giá rủi ro
trong quá trình này là rất cần thiết. Quy trình sản xuất cần phải được mô tả chi
tiết đến mức tối đa có thể đánh giá được rủi ro một cách tốt nhất. Trong biên
bản đánh giá rủi ro này, các khai thác viên nên đưa ra một sơ đồ đơn giản về
quy trình sản xuất, nhờ đó mà ta có thể có được đánh giá rủi ro tổng quát về quy
trình sản xuất này.Trong biên bản đánh giá rủi ro này, các khai thác viên cũng
cần phải đưa ra và mô tả sơ qua các hoạt động, hay yếu tố có thể làm tăng mức
độ rủi ro (nếu có). Đặc biệt, một số sản phẩm sản xuất trong các quy trình sản
xuất mang tính rủi ro cao như: phun, nhúng, mạ …. cần được mô tả chi tiết.
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng đều sử dụng điện và đây cũng là một
nguy cơ tiềm tàng gây hoả hoạn rất lớn. Điện có thể được cung cấp bằng nguồn
điện công cộng qua hệ thống dây cáp ngầm, đường cáp điện ở trên cao, hoặc từ
trạm phát điện tự động riêng của cơ sở đặt ngay ở cơ sở. Và các trạm phát điện
riêng này chính là hiểm hoạ gây ra cháy nổ lớn nhất đối với các doanh nghiệp.
Ngoài ra, các tuabin phát điện cũng có khả năng gây ra hỏa hoạn. Trong những
trục trặc chính xảy ra đối với hệ thống điện cần lưu ý đến các đường ống, rãnh
đặt dây và đường dây cáp bị hư hỏng hay được đặt không phù hợp. Do vậy, khi
đánh giá rủi ro, các khai thác viên cần quan tâm đến các yếu tố đó để có thể
bước đầu đánh giá được mức độ rủi ro mà khách hàng có thể gặp phải.
Bước 4 : Chào phí bảo hiểm và hướng dẫn khách hàng kê khai bảo hiểm.
Trong thực tế, Bảo minh Thăng long cũng áp dụng hai phương pháp tính
tỷ lệ phí là: theo danh mục và theo phân loại.
Cụ thể ở Bảo minh Thăng long, biểu phí hoả hoạn (A) thuần tuý áp dụng
đối với các loại tài sản, nghành nghề sau:
dược, y khoa.
Khó cháy 0,1- 0,13% Như trên
Cửa hàng gas, bình gas (trừ
chiết xuất gas)
Dễ cháy 0,25- 0,3% Như trên
Sản phẩm chế biến nông sản,
thực phẩm, đồ uống
Trung bình 0,16- 0,25% Như trên
Nhà máy, xưởng dệt may Dễ cháy 0,22- 0,28% Như trên
Nhà máy, xưởng thủ công mỹ
nghệ, cao su, nhựa
Dễ cháy 0,28- 0,38% Như trên
Nhà máy, xưởng sản xuất
giấy, in ấn
Trung bình 0,2- 0,25% Như trên
Nghành điện, nước, kinh
doanh ô tô, kỹ thuật kim loại
và các nghành tương tự.
Khó cháy 0,12- 0,18% Như trên
(Nguồn: Bảo minh Thăng long)
Còn đối với các rủi ro đặc biệt, Bảo minh Thăng long chỉ chấp nhận bảo
hiểm cho nếu khách hàng đã tham gia rủi ro hoả hoạn (A). Tỷ lệ phí rủi ro phụ
được tính bằng tỷ lệ % trên tỷ lệ phí của rủi ro hảo hoạn (A) thuần tuý.Tỷ lệ %
của rủi ro phụ được quy định như sau:
Biểu phí các rủi ro đặc biệt
STT Tên rủi ro phụ Tỷ lệ (%) Ký hiệu
1 Nổ 3 B
2 Máy bay và phương tiện hàng không rơi 2 C
3 Bạo động đình công 1 E
4 Động đất 1 G
Cũng như các công ty bảo hiểm hợp đồng bảo hiểm của Bảo minh Thăng
long cũng bao gồm đầy đủ các chứng từ sau:
- Giấy yêu cầu bảo hiểm.
- Giấy chứng nhận bảo hiểm.
- Sửa đổi bổ sung (nếu có).
- Điều khoản, điều kiện.
2.2.2. Thị trường bảo hiểm Cháy và các RRĐB trong hai năm 2007-2008.
Năm 2007, thị trường bảo hiểm Việt nam trải qua năm đầu tiên kể từ khi
Việt nam chính thức gia nhập WTO với những thành tựu đáng khích lệ. Doanh
thu bảo hiểm phi nhân thọ đạt 8.500 tỉ đồng, tăng trưởng 30%. Nghiệp vụ Bảo
hiểm Cháy và các RRĐB đạt doanh thu 661 tỉ đồng (tăng 43%) trong đó Bảo
hiểm cháy nổ đạt 78,7 tỉ đồng. Tốp 5 doanh nghiệp dẫn đầu thị trường về doanh
thu là Bảo minh 182 tỷ đồng, Bảo việt Việt nam là 163 tỷ đồng, PVI là 70 tỷ
đồng, GIC 48 tỉ đồng và VIC 47 tỉ đồng. Và tỷ lệ bồi thường toàn thị trường là
43%. Trong đó, bồi thường cao nhất là Bảo minh 77,3%, PVI 52,7%, UIC
48,2%, Bảo long 42,18%, PJICO 48,1%, Bảo việt 26.7%. Quyết định
28/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 ban hành Quy tắc biểu phí bảo hiểm cháy nổ
bắt buộc, có hiệu lực từ ngày 28/7/2007 đã làm cho thị trường tăng trưởng tốt
hơn vào 6 tháng cuối năm 2007. Nhất là từ năm 2008 trở đi khi các đối tượng có
nguy cơ về cháy nổ được công khai minh bạch, được cấp Giấy chứng nhận an
toàn về phòng cháy chữa cháy và đối tượng sử dụng Ngân sách Nhà nước đã
được cấp kinh phí mua bảo hiểm.
Năm 2008 chứng kiến cơn khủng hoảng kinh tế diễn ra trên phạm vi toàn
cầu, ảnh hưởng sâu sắc tới nền kinh tế nước ta, gây ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt
động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp... Trong bối cảnh bất lợi của
kinh tế thế giới, GDP của Việt nam vẫn tăng trưởng ở mức 6,23%, tuy thấp hơn
so với năm 2007 nhưng vẫn tạo ra những nhân tố ảnh hưởng tích cực đối với sự
tăng trưởng của thị trường bảo hiểm. Trong năm 2008, thị trường vẫn tiếp tục