THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT TẠI CHI NHÁNH NHNO&PTNT HÀ GIANG - Pdf 76

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ SẢN
XUẤT TẠI CHI NHÁNH NHNO&PTNT HÀ GIANG
1. GIỚI THIỆU VỀ NHNO&PTNT HÀ GIANG VÀ HỘ SẢN XUẤT TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH HÀ GIANG
1.1. Khái quát về NHNo&PTNT Hà Giang
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Tiền thân là NHNo&PTNT Hà Tuyên với trụ sở đặt tại thị xã Tuyên Quang
và các chi nhánh trực thuộc. Tháng 10/1991, cùng với việc tách tỉnh Hà Tuyên
thành hai tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang, thực hiện theo quyết định số
136/NHQĐ ngày 7/9/1990 của thống đốc ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
NHNo&PTNT Hà Giang chính thức được thành lập và đi vào hoạt động với trụ
sở chính đặt tại thị xã Hà Giang, cho đến nay NHNo&PTNT Hà Giang gồm một
hội sở chính tại phường Nguyễn Trãi – thị xã Hà Giang và 18 điểm giao dịch
trực thuộc nằm rải rác trên khắp địa bàn của tỉnh.
Hoạt động trên địa bàn một tỉnh miền núi gặp nhiều khó khăn, thời tiết
khắc nghiệt, kinh tế còn kém phát triển nhưng với nỗ lực vươn lên của ban lãnh
đạo và tập thể công nhân viên toàn chi nhánh, với sự hỗ trợ của NHNo&PTNT
Việt Nam, ngân hàng Nhà nước tỉnh, của cấp uỷ chính quyền địa phương, chi
nhánh NHNo&PTNT Hà Giang đã không ngừng mở rộng quy mô, từng bước
hoàn thiện và mở rộng hoạt động kinh doanh phục vụ đắc lực cho nhu cầu phát
triển kinh tế xã hội của tỉnh, phát huy vai trò to lớn của mình góp phần đưa kinh
tế của tỉnh đi lên.
1.1.2. Cơ cấu tổ chức của NHNo&PTNT Hà Giang
Hiện nay NHNo&PTNT Hà Giang được tổ chức và hoạt động theo quyết
định số 454/QĐ/HĐQT_TCCB ngày 24/12/2004 của hội đồng quản trị
NHNo&PTNT Việt Nam về việc ban hành quy chế và tổ chức hoạt động của chi
nhánh NHNo&PTNT Việt Nam. Cho đến nay NHNo&PTNT Hà Giang bao
gồm 1 hội sở, 10 chi nhánh cấp II, 8 chi nhánh cấp III, tạo mạng lưới kinh
doanh ngày càng hoàn chỉnh với phương tiện được trang bị hiện đại phục vụ
ngày một tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Cơ cấu tổ chức của NHNo&PTNT
Hà Giang thể hiện ở sơ đồ sau:

cán bộ chưa qua đào tạo 14 người chiếm 5,5%.
Tại hội sở NHNo&PTNT Hà Giang bao gồm 1 giám đốc, 2 phó giám đốc
và 8 phòng nghiệp vụ, tổ chức điều hành theo phòng kéo dài, các trưởng phòng
đều có trình độ và năng lực quản lý tham mưu cho ban giám đốc thực hiện tốt
hoạt động kinh doanh.
1.1.3. Tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh NHNo&PTNT Hà
Giang
* Tình hình huy động vốn
Huy động vốn là một hoạt động rất quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng
hoạt động của ngân hàng, là công cụ đầu tiên làm nền tảng cho mọi hoạt động
khác của ngân hàng, trực tiếp tạo nguồn để ngân hàng tiến hành hoạt động kinh
doanh tìm kiếm lợi nhuận.
Hà Giang là một tỉnh vùng cao kinh tế còn kém phát triển, dân cư có mức
thu nhập thấp, còn thường xuyên phải chịu ảnh hưởng của thời tiết khắc nghiệt
như lũ quét, rét đậm, rét hại… nên công tác huy động vốn của NHNo&PTNT
Hà Giang gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, với ý thức huy động vốn là khâu quan
trọng có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, hoà
chung với sự nỗ lực phấn đấu của toàn ngành, NHNo&PTNT Hà Giang đã áp
dụng nhiều biện pháp, nhiều hình thức huy động để huy động được nguồn vốn
ngày một nhiều từng bước đáp ứng nhu cầu của cá nhân, dân cư, tổ chức kinh tế
trên địa bàn.
Nhìn chung thời gian qua công tác huy động vốn đã có những bước chuyển
biến tương đối tốt, nguồn huy động tăng đều qua các năm. Tốc độ tăng trưởng
nguồn vốn của chi nhánh luôn đạt và vượt so với đinh hướng của NHNo&PTNT
Việt Nam. Mặc dù tình hình cạnh tranh giữa các ngân hàng, các tổ chức tín
dụng trên địa bàn ngày càng lớn nhưng số vốn huy động của chi nhánh luôn
tăng lên, thị phần so với các tổ chức tín dụng khác trên địa bàn luôn ở mức cao,
từ 52% năm 2003 tăng lên 68% năm 2005. Điều đó khẳng định vị thế của
NHNo&PTNT Hà Giang ngày càng được củng cố và không ngừng nâng cao.
Có được những kết quả trên là do chi nhánh luôn nỗ lực trong hoạt động,

2005 là đạt mức quy định. Qua số liệu trên ta cũng thấy được chất lượng tín
dụng của chi nhánh NHNo&PTNT Hà Giang đã tăng lên đáng kể, tốc độ tăng
trưởng nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn / tổng dư nợ giảm dần qua các năm.
Nợ quá hạn chủ yếu là nợ quá hạn ngắn hạn, phân theo thành phần kinh
tế, nợ quá hạn tập trung chủ yếu vào các khách hàng là doanh nghiệp ngoài
quốc doanh. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nợ quá hạn nhưng nguyên nhân chủ
yếu là do nguồn ngân sách của tỉnh eo hẹp trong khi nguồn vốn cần thanh toán
cho các công trình đã hoàn thành rất lớn, việc cấp vốn không kịp thời đã ảnh
hưởng trực tiếp tới kết quả đồng vốn của chi nhánh đầu tư vào lĩnh vực xây
dựng cơ bản. Đứng trước thực trạng này ban lãnh đạo đã chỉ đạo kiên quyết
không đầu tư dàn trải vào các công trình như trước đây, không cho vay không
có tài sản đảm bảo đối với các doanh nghiệp, thực hiện phân loại khách hàng,
đối với các doanh nghiệp có nợ quá hạn kiên quyết thu nợ khi có nguồn về bất
kể là nguồn nào, nhờ thế tỷ lệ nợ quá hạn của chi nhánh đã giảm đáng kể.
* Hoạt động khác
- Công tác thanh toán
Công tác thanh toán của chi nhánh NHNo&PTNT Hà Giang có nhiều
chuyển biến, đáp ứng yêu cầu thanh toán chi trả cho khách hàng đầy đủ, nhanh
gọn. Với việc trang bị toàn bộ hệ thông máy tính nối mạng, đẩy mạnh ứng dụng
tin học vào hệ thống thanh toán, NHNo&PTNT Hà Giang đã thu hút ngày càng
nhiều khách hàng đến với ngân hàng. Thực hiện nghiệp vụ kế toán cho vay, kế
toán thanh toán chính xác, cập nhật số liệu. Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng
như chuyển tiền điện tử nội ngoại tỉnh, chuyển tiền nhanh western union đã
được chi nhánh triển khai thực hiện tốt.
- Công tác ngân quỹ
Hoạt động ngân quỹ của NHNo&PTNT Hà Giang trong năm đã chủ động
đáp ứng kịp thời nhu cầu thu, chi tiền mặt đối với tất cả các khách hàng có quan
hệ giao dịch với ngân hàng trên địa bàn toàn tỉnh.
Trong năm tổng khối lượng tiền mặt thu qua quỹ nghiệp vụ là 3.825 tỷ tăng
14% so với năm trước. Tổng chi tiền mặt 3.832 tỷ tăng 14,1% trả lại tiền thừa

pháp luật quy định.
Hộ sản xuất là một thuật ngữ được dùng trong hoạt động cung ứng vốn cho
hộ gia đình để làm kinh tế cho cả hộ. Hộ sản xuất được quan niệm là một đơn vị
kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm
về kết quả hoạt động kinh doanh của mình (theo phụ lục 1 - văn bản 499A ngày
2/9/1993 của NHNo&PTNT Việt nam)
Theo quyết định 180 của NHNo&PTNT Việt Nam thì hộ sản xuất gồm các
đối tượng sau:
- Hộ chuyên sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp có tính chất tự sản, tự tiêu do
cá nhân làm chủ hộ, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh của
mình.
- Hộ cá thể, tư nhân làm kinh tế hộ gia đình theo nghị định 29 ngày
29/3/1998.
- Hộ là thành viên nhận khoán của các tổ chức kinh tế hợp tác, các doanh
nghiệp Nhà nước.
- Các cá nhân là nhóm kinh doanh theo nghị định 66/HĐBT ngày 2/3/1992
- Các doanh nghiệp tư nhân hoạt động theo luật doanh nghiệp tư nhân.
Lĩnh vực hoạt động chủ yếu của các hộ sản xuất nói trên là các ngành
nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp ở nông thôn, thị
trấn, thị xã ven đô và khi nói đến hộ sản xuất người ta thường nghĩ đến hộ nông
dân là chủ yếu vì hộ nông dân chiếm phần lớn dân số cả nước và chiếm đa số
lực lượng lao động trên toàn lãnh thổ.
Hộ sản xuất có một số những đặc điểm sau:
- Hộ sản xuất là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một
đơn vị tiêu dùng. Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất của các hộ sản xuất biểu
hiện trình độ phát triển của hộ, từ cơ chế khép kín, tự cung tự cấp đến sản xuất
hàng hoá. Trình độ phát triển của các hộ sản xuất quyết định mối quan hệ của
hộ sản xuất với thị trường.
- Về ngành nghề: hộ sản xuất tiến hành sản xuất kinh doanh trên nhiều lĩnh
vực, nhiều ngành nghề khác nhau rất đa dạng và phong phú. Bao gồm nông lâm,

đã cam kết trong hồ sơ xin vay, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật khi có sai
phạm trong quá trình sử dụng vốn, vốn phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi
đúng hạn.
Đối tượng cho vay của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Việt Nam gồm có:
- Cho vay ngắn hạn để tài trợ cho các hộ sản xuất mua sắm vật tư, chi phí
trồng trọt, chăn nuôi, chi phí các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp; vật tư, hàng
hoá đối với hộ làm dịch vụ và kinh doanh thương nghiệp.
- Cho vay trung hạn: đối tượng cho vay là chi phí mở rộng diện tích canh
tác, chi phí xây đắp ao hồ, xây dựng chuồng trại, chi phí đổi mới, cải tiến công
nghệ, chi phí sửa chữa lớn công cụ lao động.
- Cho vay dài hạn: đối tượng là chi phí xây dựng mới đồng ruộng, đồi
cây, ao hồ, nhà xưởng, phương tiện vận tải vừa và lớn, chi phí trồng và chăm
sóc cây công nghiệp, cây lâu năm, cây công nghiệp.
Thủ tục cho vay căn cứ vào từng loại hộ vay và thời hạn cho vay, cụ thể
là:
- Đối với cho vay ngắn hạn: thủ tục vay vốn gồm giấy đề nghị vay vốn có
xác nhận của chính quyền địa phương và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
hồ sơ xin vay theo mẫu của ngân hàng Nông nghiệp.
- Đối với cho vay trung, dài hạn: ngoài các thủ tục trên còn phải có thêm
luận chứng kỹ thuật, sơ đồ mặt bằng, dự toán chi phí công trình, thiết kế, hợp
đồng thi công (nếu có).
- Quy trình cho vay trực tiếp hộ sản xuất: Sau khi thủ tục đã được hoàn
tất và không có sai sót nào thì cán bộ tín dụng phụ trách viết phiếu hẹn khách
hàng chậm nhất 15 ngày phải giải quyết. Trưởng phòng tín dụng cử cán bộ tín
dụng đi thẩm định. Khi cán bộ tín dụng thẩm định xong trình trưởng phòng tín
dụng, nếu không phải tái thẩm định thì trình giám đốc phê duyệt và thông báo
cho khách hàng biết. Khi đã có quyết định cho vay, hồ sơ được chuyển cho cán
bộ tín dụng để hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn sau đó bộ phận tín
dụng chuyển hồ sơ cho bộ phận kế toán để tiến hành giải ngân và sau mỗi định

nghệ, tổ chức sản xuất kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho người lao động…
Thực tế cho thấy nguồn vốn đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất nông nghiệp chủ
yếu vẫn là nguồn vốn vay ngân hàng, các nguồn khác không đáng kể.
Tính đến năm 2005, toàn tỉnh có 145.000 hộ với điều kiện sản xuất kinh
doanh gặp rất nhiều khó khăn như cơ sở hạ tầng yếu kém, giao thông đi lại khó
khăn do địa hình nhiều núi cao, đèo dốc, núi đá; công tác thuỷ lợi, tưới tiêu,
phân bón, thuốc trừ sâu…còn nhiều hạn chế; trình độ dân trí của người dân còn
thấp, dân số toàn tỉnh chủ yếu là các dân tộc ít người việc nhận thức và hiểu
được các chính sách, đường lối của Đảng, cấp uỷ địa phương gặp nhiều khó
khăn. Do vậy, cho vay hộ sản xuất trên địa bàn tỉnh Hà giang không chỉ đơn
thuần là vốn kinh doanh mà còn phục vụ chính sách chiến lược của Đảng, coi
nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, nông thôn là bước đi lên công nghiệp hoá.
Nhận thức được vai trò to lớn đó, NHNo&PTNT Hà giang đã có chính sách
quan tâm đúng mức đối với đối tượng khách hàng là hộ sản xuất, từng bước thu
hút ngày một nhiều hơn số hộ đến giao dịch với ngân hàng. Trong ba năm qua
số hộ đến giao dịch với ngân hàng tăng lên đáng kể, từ 33.078 hộ năm 2003 lên
36.064 hộ năm 2004 và năm 2005 là 41.079 hộ, tăng 8001 hộ so với năm 2003.
Tuy nhiên tỷ lệ hộ vay vốn ngân hàng trong tổng số hộ trên địa bàn toàn tỉnh
còn ở mức thấp, năm 2005 số hộ có quan hệ với NHNo&PTNT Hà giang chỉ
chiếm 28.3% tổng số hộ mà thực tế thì số hộ có nhu cầu vốn để sản xuất kinh
doanh là rất lớn nhưng lại không đáp ứng yêu cầu xin vay. Cho nên để cho vay
được tới hộ sản xuất thì phải giải quyết các vấn đề sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status