DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CLTD Chất lượng tín dụng
CNH – HĐH Công nghiệp hoá - hiện đại hoá
HSX sản xuất
NH Ngân hàng
NHNo Ngân hàng nông nghiệp
NHNo & PTNT Ngân hàng nông nghiệp và phát triển
TCTD Tổ chức tín dụng
v
LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu hướng toàn cầu hội nhập kinh tế quốc tế, ngành Ngân hàng
cũng tỏ ra có vị trí vô cùng quan trọng đối với sự phát triển không ngừng của
nền kinh tế như: ổn định tiền tệ, kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy và
tăng trưởng kinh tế.
Xuất phát từ nhu cầu vốn của hộ sản xuất ngày càng lớn, có khi còn
vượt quá khả năng của họ. Hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam luôn xác định
đối tượng phục vụ chủ yếu của mình là hộ sản xuất. Chính vì vậy NHNo &
PTNT huyện Thiệu Hoá là một trong rất nhiều chi nhánh thuộc hệ thống này
được thành lập với nhiệm vụ cơ bản ban đầu là hỗ trợ vốn, giúp xoá đó giảm
nghèo, phát triển nông nghiệp nông thôn trên địa bàn. Xác định kinh tế hộ là
một tế bào của xã hội nên đã sớm tiếp cận với thị trường nông thôn đáp ứng
nhu cầu vốn cho hộ sản xuất. Từ những buổi đầu mới thành lập, tuy gặp
không ít khó khăn, song trên cơ sở quán triệt tốt những chủ trương chính sách
của Đảng và Nhà nước, cùng với sự nỗ lực của toàn ngân hàng NHNo &
PTNT huyện Thiệu Hóa đã từng bước khắc phục khó khăn và đạt được những
thành tựu đáng kể.
Khách hàng của NHNo & PTNT huyện Thiệu Hoá đa số là nông dân,
họ vay vốn để phát triển sản xuất. Trên thực tế cho vay đối với hộ sản xuất
thường rất khó khăn do tính chất phức tạp của loại hình cho vay này, món vay
nhỏ lẻ, chi phí nghiệp vụ cao, đối tượng sản xuất thường gắn liền với điều
1.1.1.1. Khái niệm về hộ sản xuất:
Hộ sản xuất (HSX) là đơn vị kinh tế tự chủ trực tiếp hoạt động sản xuất
kinh doanh, là chủ thể trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thoạt tiên, có thể tưởng những khái niệm “hộ”, “hộ gia đình”, “hộ
nông dân”, “hộ sản xuất” là như nhau, song trên thực tế những khái niệm này
từng lúc, từng nơi có thể được hiểu khác nhau:
“Hộ” là một khái niệm xuất hiện từ rất lâu, với tư cách là một đơn vị
kinh tế được phân tích từ nhiều góc độ sau:
- Chủ sở hữu và sử dụng các nguồn lực kinh tế như đất đai, vốn, nhân lực.
- Là đơn vị tham gia vào các dạng hoạt động kinh tế phân theo ngành,
nghề, vùng, lãnh thổ…
- Trình độ phát triển của kinh tế hộ (tự cấp tự túc / hàng hoá).
- Hiệu quả hoạt động kinh tế của hộ.
Ở khía cạnh hẹp hơn, “hộ gia đình” được xác định dựa trên ba tiêu thức:
+ Quan hệ hôn nhân, huyết thống và thân tộc.
+ Cư trú chung.
+ Có cơ sở kinh tế chung.
Như vậy xét một cách tương đối, “hộ sản xuất” là một khái niệm hẹp
hơn “hộ” và rộng hơn khái niệm “hộ gia đình”. Ở nước ta hiện nay, trên 70%
dân số sống ở nông thôn, phần lớn trong số họ là hộ gia đình sản xuất nông,
lâm, ngư, diêm nghiệp mang tính tự cấp, tự túc là chủ yếu. Vì thế khi nói tới
“hộ sản xuất”, nhiều khi người ta thường đồng nhất với “ hộ gia đình¸ ”, “ hộ
nông dân”, hoặc
4
v
thậm chí gọi vắn tắt là “hộ” cũng là điều dễ hiểu.
1.1.1.2. Phân loại HSX
Căn cứ vào vị trí và đặc điểm của HSX người ta phân loại HSX như sau:
- Hộ loại 1 bao gồm các loại sau:
+ Hộ cá thể tư nhân làm kinh tế theo nghị định 29 ngày 29/03/1998.
riêng, gồm có một người làm chủ hộ và những người cùng sống chung trong
hộ gia đình ấy.
Ở nước ta hiện nay, phần lớn dân cư sống ở nông thôn và đại bộ phận
còn sản xuất mang tính tự cung, tự cấp. Trong điều kiện đó HSX mang những
đặc điểm cơ bản sau:
Đất đai canh tác hẹp, manh mún: đất đai canh tác ở các vùng kinh tế
nông nghiệp nước ta nói chung còn nhỏ bé,lại còn bị xé nhỏ do việc thực hiện
cơ chế khoán đến HSX. Do đó đất đai canh tác trở nên manh mún và mức sử
dụng trung bình trên một HSX ngày càng giảm xuống do quá trình tách hộ.
Điều này mâu thuẫn với yêu cầu của nền sản xuất hàng hóa và ứng dụng khoa
học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp.
Công cụ sản xuất thủ công, lạc hậu, năng suất lao động thấp: trong điều
kiện nền kinh tế thị trường, các hộ không nhất thiết phải mua sắm các loại
máy móc, công cụ mà thông qua các dịch vụ cho thuê, các hộ có thể giải
quyết nhu cầu này.
Lao động dôi thừa, sản xuất còn lệ thuộc vào thiên nhiên: hiện nay
lượng người thiếu việc làm ở nông thôn còn quá lớn. Đa phần số lao động còn
trẻ, khoẻ, sự gia tăng dân số còn khá cao. Mặt khác trình độ dân trí còn thấp,
điều đó làm cho sự tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh
còn hạn chế.
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế hộ diễn ra chậm: trong những năm gần
đây đã có sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế nhưng chủ yếu vẫn là ngành trồng
6
v
trọt, phát triển VAC, nuôi trồng thuỷ sản. Tuy nhiên sự dịch chuyển đó diễn
ra chậm chạp chưa đồng đều. Việc chuyển sang ngành phi nông nghiệp của
các HSX còn hạn chế.
Vốn kinh doanh nhỏ bé và luôn thiếu: qua điều tra cho thấy phần lớn hộ
nông dân thiếu vốn sản xuất. Do đó việc giải quyết vấn đề thiếu vốn cho HSX
là một giải pháp hàng đầu tạo tiền đề cho các hộ khai thác các nguồn lực để
chúng ta tiến lên CNXH dựa trên nền sản xuất thuần nông là chủ yếu. Sớm
nhận thức rõ vai trò của nông nghiệp trong quá trình xây dựng và phát triển
đất nước, Đảng và Nhà nước đã từng bước có những chính sách phát triển
nông nghiệp, tạo điều kiện cho kinh tế hộ phát triển, làm nòng cốt để phát
triển kinh tế nông thôn.
Quá trình đổi mới nông nghiệp nông thôn có thể nói bắt đầu từ năm
1981 với chỉ thị 100/CT của Ban bí thư Trung ương Đảng về chương trình
khoán 100, sau đó được nâng cao thành khoán 10 (khoán hộ) theo tinh thần
của nghị quyết 10 - bộ chính trị (khoá VI). Một sự kiện quan trọng đánh dấu
sự đổi mới sâu sắc trong nông nghiệp là nghị quyết hội nghị Trung ương
Đảng (lần 6 khoá VI) tháng 3/1989 xác định “hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự
chủ ở nông thôn”. Từ đây hộ nông dân đã được công nhận về mặt pháp lý là
một thực thể kinh tế độc lập…
Những cơ chế chính sách trên đã bước đầu tạo điều kiện khách quan
thuận lợi và cần thiết cho hoạt động tín dụng đối với kinh tế hộ. Từ đó đến
nay kinh tế hộ luôn được đặt lên vị trí quan trọng hàng đầu trong tiến trình
CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã
khẳng định: “Nông nghiệp, nông thôn là lĩnh vực có vai trò cực kỳ quan trọng
cả trước mắt và lâu dài, làm cơ sở để ổn định và phát triển kinh tế xã hội”.
Chính vì thế, bên cạnh việc thúc đẩy phát triển đồng đều các thành phần kinh
tế, kinh tế hộ được đặc biệt chú trọng.
1.1.2. Tín dụng ngân hàng đối với HSX
1.1.2.1. khái niệm tín dụng:
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la- tinh là credo (tin tưởng, tín
nhiệm). Trên thực tế, khó có thể đưa ra một định nghĩa chính xác về tín dụng,
9
v
tuy từng góc độ nghiên cứu mà người ta xác định ý nghĩa của thuật ngữ này.
Trên cơ sở xem xét tín dụng như một chức năng cơ bản của Ngân hàng
Thương mại, thì có thể hiểu như sau:
Đẩy nhanh quá trình tích tụ tập trung vốn, tập trung sản xuất trong nông
nghiệp, nông thôn. Thực hiện chức năng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư,
NH phải quan tâm đến nguồn vốn cho vay HSX, từ đó các NH sẽ thúc đẩy các
HSX sử dụng vốn tín dụng có hiệu quả, tăng nhanh vòng quay vốn, tiết kiệm
vốn cho sản xuất lưu thông. Do vậy, các HSX cần phải biết cách tập trung vốn
để sản xuất có hiệu qủa nhất, góp phần tích cực vào quá trình vận động liên
tục của nguồn vốn.
Phát huy tối đa nguồn lực của các HSX, khai thác hết các tiềm năng về
lao động, đất đai và các điều kiện của địa phương một cách hợp lý và có hiệu
quả nhất. Giải quyết công ăn, việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, góp
phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, tạo điều kiện
nâng cao dân trí, hạn chế những tiêu cực xã hội, hình thành những thói quen
tốt trong hoạt động kinh tế phù hợp với yêu cầu CNH – HĐH đất nước.
Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tăng tính hàng hoá của
sản phẩm nông nghiệp trong nền , kinh , tế thị trường theo định hướng XHCN
ở nước ta. Góp phần đẩy lùi nạn cho vay nặng lãi ở nông thôn.
1.1.2.3. Đặc điểm cơ bản của tín dụng đối với HSX:
So với những loại hình tín dụng khác của NH, tín dụng HSX mang
những nét đặc thù cơ bản sau:
- Tính chất thời vụ gắn liền với chu kỳ sinh trưởng của động thực vật
cụ thể như:
Vụ mùa trong sản xuất nông nghiệp quyết định thời điểm cho vay thu
nợ. Chu kỳ sống tự nhiên của cây, con là yếu tố quyết định để tính toán thời
hạn cho vay.
11
v
- Môi trường tự nhiên có khả năng ảnh hưởng tới thu nhập và khả năng
trả nợ của khách hàng. Đối với các HSX nông nghiệp nguồn trả nợ vay chủ
yếu là thu từ bán nông sản và các sản phẩm chế biến từ nông sản. Như vậy,
sản lượng nông sản là yếu tố quyết định trong việc xác định khả năng trả nợ
trình sản xuất, kinh doanh tạo ra một số tiền đủ lớn để hoàn trả cả gốc và lãi,
trang trải các chi phí khác và có lợi nhuận, phù hợp với các điều kiện của NH
và nền kinh tế nói chung.
Tín dụng NH là một công cụ đắc lực của Nhà nước trong việc tạo ra
đòn bẩy kinh tế và động lực thúc đẩy HSX phát triển một cách toàn diện, từ
đó phát huy hết được vai trò to lớn của nó trong tiến trình CNH – HĐH nông
nghiệp – nông thôn. Chính vi vậy, thực hiện nâng cao CLTD đối với HSX là
điều rất cần thiết đối với các CN thuộc hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá CLTD NH đối với HSX
1.2.2.1. Chỉ tiêu định tính
Việc đánh giá CLTD dựa vào các chỉ tiêu định tính thường mang nhiều
tính chủ quan của người đánh giá, trên cơ sở xem xét các yếu tố cơ bản sau:
Bảo đảm nguyên tắc cho vay: NH là một tổ chức kinh tế đặc biệt với
những nguyên tắc hoạt động rất chặt chẽ. Về cơ bản, để đánh giá chất lượng
của một khoản cho vay thì phải xem xét xem khoản vay đó liệu có đảm bảo
hai nguyên tắc tối thiểu của bất cứ khoản vay nào đó là: (1) sử dụng vốn vay
đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng, (2) hoàn trả nợ gốc và
lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp tín dụng.
Ngoài ra, khách hàng phải hội đủ 5 điều kiện vay vốn nêu tại điều 7
quyết định 1627 như sau:
+ Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách
nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Đối với HSX phải cư trú (thường
trú, tạm trú) tại địa bàn nơi CH NHNo cho vay đóng trụ sở, có xác nhận hộ
13
v
khẩu nơi cư trú và có xác nhận của uỷ ban nhân dân xã (phường) nơi cho
phép sản xuất kinh doanh.
+ Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
+ Có khả năng tài chính bảo đảm trả nợ trong thời gian đã cam kết.
+ Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và
Tổng dư nợ HSX từ nhóm 3 → 5
Tổng dư nợ HSX
x 100
Vòng quay vốn tín dụng của HSX: Vòng quay vốn tín dụng cho thấy
tốc độ chu chuyển của đồng vốn trong năm của NH. Chỉ tiêu này càng cao
càng phản ánh việc kinh doanh, đầu tư có hiệu quả và ngược lại.
Vòng quay vốn tín dụng HSX =
Doanh số thu nợ HSX bình quân
Dư nợ HSX bình quân
x 100
Một số chỉ tiêu khác:
+ Doanh số cho vay bình quân trên một HSX:
Doanh số cho vay bình quân trên 1 HSX =
Doanh số cho vay HSX
Tổng số lượt HSX vay vốn
x 100
Chỉ tiêu này phản ánh số tiền trung bình mà một HSX vay mỗi lần. Số
tiền vay càng cao càng chứng tỏ hiệu quả cũng như chất lượng cho vay tăng
lên, thể hiện sức sản xuất cũng như quy mô sản xuất kinh doanh của HSX
tăng lên.
+ Tỷ lệ cho vay trung và dài hạn: Phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu
vốn trung và dài hạn của NH đối với HSX để mở rộng sản xuất kinh doanh.
Tỷ lệ cho vay trung và dài hạn HSX =
Dư nợ cho vay trung và dài hạn HSX
Tổng dư nợ HSX
x100
+ Tốc độ tăng trưởng dư nợ HSX trong năm:
Tốc độ tăng trưởng dư nợ HSX trong kỳ =
Mức tăng dư nợ HSX trong kỳ
Dư nợ HSX kỳ trước
tăng lên.
+ Mức độ biến động của thu nhập: Với bất kỳ cơ cấu vốn nào, sự biến
động của thu nhập cũng sẽ ảnh hưởng tới khả năng trả nợ NH của hộ.
+ Tài sản thế chấp: là điều kiện chủ yếu trong bất kỳ một quyết định
cho vay nào. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa rằng các khoản cho vay có
thế chấp không tiềm ẩn rủi ro tín dụng, mà nguồn bán tài sản thế chấp cũng
chỉ được coi là nguồn trả nợ dự phòng, chưa kể đến những rủi ro do định giá
tài sản không chính xác, chi phí bán tài sản…
17
v
1.2.3.3. Yếu tố thuộc về NH:
+ Chính sách tín dụng của NH: nếu có chính sách tín dụng phù hợp sẽ
thu hút được khách hàng, chọn lọc những khách hàng có chất lượng tốt. Do
vậy, nó đem lại hiệu quả kinh tế cho cả khách hàng vay vốn và NH.
+ Hệ thống thông tin và các trang thiết bị phục vụ cho hoạt động của
NH cũng ảnh hưởng rất nhiều đến CLTD. Nó hỗ trợ đắc lực cho việc phục vụ
khách hàng một cách tốt nhất, thuận tiện nhất, đồng thời giúp NH nắm được
các thông tin về khách hành nhanh chóng và kịp thời.
+ Quy trình tín dụng: bắt đầu từ khi NH nhận được đơn xin vay của
khách hàng và kết thúc sau khi khách hàng trả hết nợ gốc và lãi. Sự phối hợp
nhịp nhàng giữa các bước trong quy trình tín dụng sẽ tạo điều kiện cho vốn
tín dụng được luân chuyển theo đúng kế hoạch đã định, từ đó đảm bảo CLTD.
+ Cán bộ NH: năng lực, trình độ của cán bộ là yếu tố rất quan trọng.
Quá trình làm việc của cán bộ tín dụng ảnh hưởng trực tiếp đến việc NH
quyết định cho khách hàng vay vốn là hợp lý hay không hợp lý, hay nói cách
khác là ảnh hưởng đến CLTD bởi cán bộ tín dụng là người trực tiếp tiếp xúc
và làm việc với khách hàng nhiều nhất. Ngoài ra, sự phối hợp nhịp nhàng, ăn
khớp giữa các cán bộ NH với nhau cũng đem lại hiệu quả rất lớn.
18
v
- Nguồn vốn kinh doanh tăng với tốc độ năm sau cao hơn năm trước.
Trong đó chủ yếu là vốn huy động tại chỗ. Vốn huy động được để phục vụ
trực tiếp cho các nhu cầu phát triển kinh tế xã hội tại địa phương.
- Doanh số cho vay, thu nợ đều tăng qua các năm. Dư nợ bình quân 5 tỷ
đồng/1 cán bộ công nhân viên.
- Doanh số thu, chi tiền mặt qua các năm đều tăng thường xuyên đáp
ứng nhu cầu chi tiêu tiền mặt cho các tổ chức kinh tế và dân cư trên địa bàn.
- Trong suốt quá trình gần 19 năm xây dựng và trưởng thành NHNo &
PTNT huyện Thiệu hóa liên tục kinh doanh có lãi và đảm bảo đạt hệ số lương
tháng, năm theo quy định. Đời sống cán bộ công nhân viên trong cơ quan
luôn ổn định và từng bước được cải thiện cả về vật chất lẫn tinh thần, làm tròn
nghĩa vụ đối với ngân hàng cấp trên và đối với ngân sách Nhà nước.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật lúc đầu chuyển đổi còn nghèo nàn và không
phù hợp với hoạt động ngân hàng trong thời kỳ đổi mới, đến nay ngân hàng
trung tâm huyện đã được xây dựng bề thế, khang trang đáp ứng được mọi
hoạt động trực tiếp, gián tiếp liên quan tới nghiệp vụ của ngân hàng. Người
lao động không ngừng được đổi mới, nâng cao trình độ nhận thức và từng
bước hiện đại hóa công nghệ ngân hàng. Có thể nói quá trình xây dựng và
phát triển của NHNo & PTNT huyện Thiệu hóa là quá trình phát triển vững
chắc, ổn định và toàn diện.
Cơ cấu tổ chức, bộ máy hoạt động của NHNo & PTNT huyện Thiệu
hóa: NHNo & PTNT huyện Thiệu hóa có trụ sở giao dịch chính đóng trên địa
bàn thị trấn Vạn hà, huyện Thiệu hóa, tỉnh Thanh hóa. Mạng lưới hoạt động
gồm 31 xã và 1 khối cơ quan. Địa bàn hoạt động giao dịch thuận lợi cho
khách hàng có nhu cầu giao dịch và rất có hiệu quả cho hoạt động huy động
vốn và cho vay của Ngân hàng.
20
v
NHNo & PTNT huyện Thiệu hóa có 40 người. Trong đó có một Giám
đốc; hai phó Giám đốc tham mưu cho Giám đốc và trực tiếp điều hành bộ
v
B ảng 2.1 : Cơ cấu nguồn vốn huy động vốn từ năm 2004 - 2007
Đơn vị Triệu đồng
Stt
Chỉ tiêu Năm
2004
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
(+),(-)
2007 so
2004
Tỷ lệ
(%)
2007 so
2004
Tổng nguồn vốn 59.476 87.743 99.998 125.601 66.125 211%
I Huy động vốn nội tệ 59.476 83.284 92.265 115.289 55.813 194%
1 TG KB, BHXH, TCTD 4.095 11.385 2.690 2.007 -2.088 49%
2 Tự huy động 55.381 71.899 89.575 113.283 57.902 205%
2.1 Không kỳ hạn 4.590 4.063 4.674 6.280 1.690 137%
2.2 Có kỳ hạn < 12 tháng 8.710 13.688 17.643 20.071 11.361 230%
2.3 Có kỳ hạn từ 12 - 24 tháng 30.842 42.755 55.282 77.264 46.422 251%
2.4 Tiền gửi trên 24 tháng 11.239 11.393 11.976 9.668 -1.571 86%
II Ngoại tệ qui đổi 0 4.459 7.733 10.312 10.312
* Biểu đồ tăng trưởng nguồn vốn:
0
Thực hiện đầu tư kinh doanh trên địa bàn, NHNo & PTNT
Thiệu hoá luôn bám sát mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trên địa
bàn huyện, thông qua đó sử dụng linh hoạt các mặt nghiệp vụ,
chọn những phương án, dự án sản xuất kinh doanh khả thi để đầu
tư, bám sát định hướng chỉ đạo của ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Tỉnh.
Từ đó làm căn cứ cho vay cá nhân, hộ gia đình và doanh
nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp luật Việt nam đa
dạng hoá các phương thức cho vay, loại cho vay, chính vì vậy mà
công tác sử dụng vốn của NHNo & PTNT Thiệu hoá ngày càng
tăng trưởng được thể hiện qua biểu sau:
Bảng 2.2: Tăng tưởng dư nợ theo thành phần kinh tế từ năm 2004 - 2007.
Đơnvị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm
2004
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
Tổng dư nợ 130.800 152.014 173.169 199.151
Trong đó:
Doanh nghiệp nhà nước 1.200 700 550 120
Hợp tác xã 2.692 3.450 4.598 5.200
24
v
Doanh nghip ngoi quc doanh 10.584 17.737 26.401 31.097
H gia ỡnh, cỏ nhõn 116.324 130.127 141.620 162.734