giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện văn bàn - Pdf 10

Kho¸ luËn tèt nghiÖp
LỜI NÓI ĐẦU
Vi t Nam l n c nông nghi p v i g n 80% dân s s ng a b n nông thôn.Trong v iệ à ướ ệ ớ ầ ố ố ởđị à à
n m g n ây nông nghi p n c ta ã có s chuy n bi n v t b c c v n ng su t v ch tă ầ đ ệ ướ đ ự ể ế ượ ậ ả ề ă ấ à ấ
l ng. V trí v i trò c a kinh t nông nghi p nông thôn ã c kh ng nượ ị à ủ ế ệ đ đượ ẳ đị h trong các
giai đoạn phát triển lịch sử đất nước. Nghị Quyết 10 của Bộ chính trị 1986
đã khẳng định: Hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ có vai trò quan trọng
đối với phát triển kinh tế đất nước. Và cũng từ đó đời sống của nhân dân
không ngừng được nâng lên, bộ mặt nông thôn ngày càng đổi mới. Vị trí
của hộ sản xuất trong việc phát triển kinh tế hàng hóa nông nghiệp là vô
cùng quan trọng, nó là nguồn lực dồi dào cung cấp lương thực, thực phẩm,
nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Đồng thời nó là thị
trường tiêu thụ sản phẩm của ngành công nghiệp, tạo công ăn việc làm, tận
dụng nguồn lao động trong nông thôn thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển
và góp phần hạn chế các tệ nạn xã hội.
Dự thảo văn kiện đại hội IX của Đảng về phương hướng phát triển
nông nghiệp nông thôn 2001- 2010 và kế hoạch 5 năm đã xác định các mục
tiêu chiến lược: Giá trị sản lượng nông nghiệp tăng khoảng 4% trong 5 năm
đầu và 4,5% trong 10 năm. Theo kinh nghiệm quốc tế để tăng sản lượng
thu hoạch nếu bỏ vốn đầu tư với hệ số 3,3 đến 3,5 lần, thì nông nghiệp
nông thôn sẽ tăng từ 15-20%/ năm. Việc tạo ra thị trường vốn đến tận tay
người nông dân đáp ứng được nhu cầu sản xuất nông nghiệp cũng như tính
chất mùa vụ, chính sách sản phẩm, lãi suất hợp lý là yêu cầu quan trọng và
cần thiết.
Cùng với việc đổi mới của nền kinh tế đất nước, hệ thống
NHNo&PTNT Việt Nam nói chung và Chi nhánh NHNo&PTNT Huyện
Văn Bàn nói riêng đã xác định rõ một trong những khách hàng lớn của
mình là các hộ sản xuất. Văn Bàn là một huyện miền núi còn nghèo nàn,
lạc hậu, ở đây các hoạt động thương mại ít, phần lớn là các hộ sản xuất
nông nghiệp trồng hoa mầu, số còn lại là buôn bán nhỏ lẻ, chính vì vậy,
Trêng §H DL§§ SV : Ph¹m ThÞ Lan TC5 – K7

các cán bộ của NHNo&PTNT huyện Văn Bàn đã tạo điều kiện và giúp em
hoàn thành khoá luận.
CHƯƠNG 1
TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGÂN
HÀNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT
1.1. TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT
1.1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất
Tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hoá. Bản chất của tín dụng
ngân hàng là vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất
định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ
bình đẳng và hai bên cùng có lợi. Trong nền kinh tế hàng hoá có nhiều loại
hình tín dụng như: Tín dụng Ngân hàng, tín dụng thương mại, tín dụng Nhà
nước, tín dụng tiêu dùng.
Tín dụng Ngân hàng cũng mang bản chất chung của quan hệ tín dụng
nói chung. Đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong vay và cho vay giữa các
Ngân hàng, tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp và các cá nhân khác,
được thực hiện dưới hình thức tiền tệ theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi.
Điều 20: Luật các tổ chức tín dụng quy định:
“Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự
có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng”.
“Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử
dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho
vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ
khác.”
Do đặc điểm riêng của mình tín dụng Ngân hàng đạt được ưu thế hơn
các hình thức tín dụng khác về khối lượng, thời hạn và phạm vi đầu tư. Với
đặc điểm tín dụng bằng tiền, vốn tín dụng Ngân hàng có khả năng đầu tư
chuyển đổi vào bất cứ lĩnh vực nào của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Vì
Trêng §H DL§§ SV : Ph¹m ThÞ Lan TC5 – K7
Kho¸ luËn tèt nghiÖp

tiền nhàn rỗi tạm thời tiến hành đầu tư cho những hộ có khả năng phát
triển, mở rộng sản xuất nhưng thiếu vốn. Như vậy, tín dụng Ngân hàng đã
đem lại khoản thu cho những người có vốn nhàn rỗi đồng thời tạo cơ hội
cho các hộ hoạt động tốt mở rộng dây truyền sản xuất, mua sắm thiết bị
máy móc đổi mới công nghệ và tiếp cận với thông tin môi trường sản xuất,
quản lý, khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, tạo cho hộ sự chủ
động và đa dạng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó tạo công ăn
việc làm, thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá, cải thiện đời sống nhân dân. Như
vậy, tín dụng Ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình
phát triển nền kinh tế hàng hoá.
Tín dụng Ngân hàng còn góp phần vào việc hạn chế cho vay nặng lãi
ở nông thôn giúp kinh tế hộ sản xuất phát triển, làm ăn có hiệu quả.Thông
qua vốn tín dụng ngân hàng, các hộ sản xuất đã thực sự được trợ giúp và có
cơ hội tự khẳng định vị trí của mình trong xã hội. Việc mở rộng kinh tế hộ
sản xuất là hướng đi có tầm chiến lược đóng vai trò quan trọng đối với việc
xây dựng một nền kinh tế toàn diện. Thúc đẩy công nghiệp hoá - hiện đại
hoá nông nghiệp nông thôn sẽ tạo thế & lực mới cho sự phát triển của đất
nước.
- Tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu cho hộ sản xuất để duy trì
quá trình sản xuất liên tục, góp phần đầu tư phát triển kinh tế
Với đặc trưng sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất cùng với sự chuyên
môn hoá sản xuất khi chưa thu hoạch sản phẩm, chưa có hàng hoá để bán
thì chưa có thu nhập, nhưng trong khi đó họ vẫn cần tiền để trang trải cho
các khoản chi phí sản xuất, mua sắm đổi mới trang thiết bị và rất nhiều
khoản chi phí khác. Trong điều kiện như vậy, các hộ sản xuất cần có sự trợ
giúp của tín dụng Ngân hàng để có đủ vốn duy trì sản xuất được liên tục.
Trêng §H DL§§ SV : Ph¹m ThÞ Lan TC5 – K7
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Nhờ có sự hỗ trợ về vốn, các hộ sản xuất có thể sử dụng hiệu quả các
nguồn lực sẵn có khác như lao động, tài nguyên để cải tạo tạo ra sản phẩm

Việt Nam là một nước có nhiều làng nghề truyền thống, nhưng chưa
được quan tâm và đầu tư đúng mức.Trong điều kiện hiện nay, bên cạnh việc
thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo đúng hướng công nghiệp hoá,
chúng ta cần phải quan tâm đến các ngành nghề truyền thống có khả năng
đạt hiệu quả kinh tế đặc biệt trong quá trình thực hiện CNH-HĐH nông
nghiệp, nông thôn. Phát huy được làng nghề truyền thống, cũng chính là
phát huy được nội lực kinh tế hộ. Và tín dụng Ngân hàng sẽ là công cụ tài
trợ cho các ngành nghề mới thu hút được đông đảo lực lượng lao động. Từ
đó góp phần phát triển toàn diện, nông - lâm - thuỷ sản, công nghiệp sản
xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu khẩu mở rộng thương nghiệp, du
lịch, dịch vụ ở cả thành thị và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế
đối ngoại.
Do đó, tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy kinh tế kích thích các ngành
nghề kinh tế trong hộ sản xuất phát triển, tạo tiền đề để lôi cuốn các nghành
nghề này phát triển một cách nhịp nhàng đồng bộ.
- Vai trò của tín dụng Ngân hàng về mặt chính trị xã hội
Tín dụng Ngân hàng không những đóng vai trò quan trọng trong việc
thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn có vai trò to lớn về mặt xã hội.Thông qua
việc cho vay mở rộng sản xuất đối với các hộ sản xuất đã góp phần giải
quyết công ăn việc làm cho người lao động đó là một trong những vấn đề
cấp bách hiện nay ở nước ta. Có việc làm, người lao động có thu nhập sẽ
hạn chế những tiêu cực xã hội. Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy các ngành
nghề phát triển, giải quyết việc làm cho lao động thừa ở nông thôn, hạn chế
luồng di dân vào thành phố. Thực hiện các ngành nghề này là do các nghề
phát triển sẽ làm tăng thu nhập cho người nông dân, đời sống văn hoá, kinh
tế, xã hội tăng lên, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị càng nhích lại
Trêng §H DL§§ SV : Ph¹m ThÞ Lan TC5 – K7
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
gần nhau, hạn chế bớt sự phân hoá bất hợp lý trong xã hội, giữ vững an ninh
chính trị.

và được định nghĩa là một đơn vị mà các thành viên có hộ khẩu chung, tài
sản chung và hoạt động kinh tế chung. Một số thuật ngữ khác được dùng để
thay thế thuật ngữ “Hộ sản xuất” là “Hộ”, “Hộ gia đình”. Ngày nay hộ sản
xuất đang trở thành một nhân tố quan trọng trong sự nghiệp CNH- HĐH
đất nước và là sự tồn tại tất yếu trong quá trình xây dựng một nền kinh tế
đa thành phần theo định hướng XHCN. Để phù hợp với xu thế phát triển
chung, phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước, NHNo & PTNT
Việt Nam ban hành phụ lục số 1 kèm theo quyết định số 499 A ngày
2/9/1993, theo đó thì khái niệm hộ sản xuất được hiểu như sau: “Hộ sản
xuất là đơn vị kinh tế tự chủ, trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh, là
chủ thể trong mọi quan hệ sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về
kết quả hoạt động sản xuất của mình” Thành phần chủ yếu của hộ sản xuất
bao gồm: Hộ nông dân, hộ tư nhân, cá thể, hộ gia đình xã viên, hộ nông,
lâm trường viên.
Như vậy, hộ sản xuất là một lực lượng sản xuất to lớn ở nông thôn.
Hộ sản xuất trong nhiều ngành nghề hiện nay phần lớn hoạt động trong lĩnh
vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Các hộ này tiến hành sản xuất
kinh doanh đa dạng kết hợp trồng trọt với chăn nuôi và kinh doanh ngành
nghề phụ. Đặc điểm sản xuất kinh doanh nhiều ngành nghề mới trên đã góp
phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các hộ sản xuất ở nước ta trong thời
gian qua.
b/ Phân loại hộ sản xuất : Hiện nay ở nước ta kinh tế hộ sản xuất
được phân thành 3 loại như sau:
Loại 1: Các loại hộ sản xuất có vốn kỹ thuật, có khả năng lao động,
biết tiết kiệm với môi trường kinh doanh, có khả năng thích ứng hòa nhập
vào thị trường, tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả, biết quản lý lao
Trêng §H DL§§ SV : Ph¹m ThÞ Lan TC5 – K7
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
động sản xuất phù hợp với thời vụ để sản phẩm tạo ra có thể tiêu thụ nhanh
trên thị trường. Vì vậy các hộ sản xuất kinh doanh này luôn có nhu cầu mở

trình độ thấp. Hiện nay, ở nước ta có khoảng 12 triệu lao động chưa được
sử dụng và quỹ thời gian ở người lao động ở nông thôn cũng chưa sử dụng
hết. Các yếu tố sản xuất chỉ mang lại hiệu quả thấp do đó sử dụng hợp lý
nguồn lao động, giải quyết việc làm ở nông thôn, chúng ta cần phát triển
kinh tế hộ sản xuất. Trên thực tế đã cho thấy trong những năm vừa qua
hàng triệu cơ sở sản xuất được tạo ra bởi các hộ sản xuất trong khu vực
nông nghiệp và nông thôn.
- Hộ sản xuất có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường thúc đẩy
sản xuất hàng hoá
Ngày nay, hộ sản xuất hoạt động theo cơ chế thị trường có sự tự do
cạnh tranh trong sản xuất hàng hoá, là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, các hộ
sản xuất phải quyết định mục tiêu sản xuất kinh doanh của mình là sản xuất
cái gì? sản xuất như thế nào? để trực tiếp quan hệ với thị trường. Để đạt
được điều này, các hộ sản xuất đều phải không ngừng nâng cao chất lượng,
mẫu mã phẩm cho phù hợp với nhu cầu và một số biện pháp để kích thích
cầu, từ đó mở rộng sản xuất đồng thời đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất.
Với quy mô nhỏ, bộ máy quản lý gọn nhẹ, năng động, hộ sản xuất có
thể dễ dàng đáp ứng những thay đổi của nhu cầu thị trường, đồng thời cũng
không gây tốn kém về mặt chi phí. Thêm vào đó lại được Đảng và Nhà
nước có các chính sách khuyến khích tạo điều kiện để hộ sản xuất phát
triển. Như vậy với khả năng nhạy bén trước nhu cầu của thị trường, hộ sản
xuất đã góp phần đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngày càng cao của thị trường tạo
ra động lực thúc đẩy sản xuất phát triển cao hơn.
Trêng §H DL§§ SV : Ph¹m ThÞ Lan TC5 – K7
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
1.2.2. Chất lượng tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất
1.2.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường bất kỳ một loại sản phẩm nào sản xuất
ra cũng phải là những sản phẩm mang tính cạnh tranh. Điều này có nghĩa là
mọi sản phẩm sản xuất ra đều phải có chất lượng. Các nhà kinh tế đã nhận

Mọi tổ chức kinh tế hoạt động đều được dựa trên một nguyên tắc
nhất định. Ngân hàng là một tổ chức kinh tế đặc biệt, hoạt động của nó có
ảnh hướng sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, do
vậy có các nguyên tắc khác nhau. Nguyên tắc cho vay là một nguyên tắc
quan trọng đối với mỗi Ngân hàng.
Để đánh giá chất lượng một khoản cho vay, điều đầu tiên phải xem
xét là khoản cho vay đó có bảo đảm nguyên tắc cho vay hay không. Theo
quyết định 1627/QĐ ngày 15/01/2002, tại Điều 6 Nguyên tắc vay vốn ghi
rõ: "Khách hàng vay vốn của tổ chức tín dụng phải đảm bảo hai nguyên tắc
cơ bản để cho vay là :
- Thứ nhất: Sử dụng đúng mục đích theo thoả thuận trong hợp đồng tín
dụng.
- Thứ hai: Hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi đúng hạn đã thoả thuận trong
hợp đồng tín dụng.
Hai nguyên tắc cho vay trên là nguyên tắc tối thiểu mà bất cứ một
khoản cho vay có chất lượng nào cũng phải đảm bảo.
- Cho vay đảm bảo có điều kiện
Thông thường khi cho vay phải đảm bảo các điều kiện sau :
Trêng §H DL§§ SV : Ph¹m ThÞ Lan TC5 – K7
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
+ Có năng lực pháp luật dân sự , năng lực hành vi dân sự và chiụ
trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật. Đối với hộ sản xuất phải
thường trú tại địa bàn nơi chi nhánh NHNo đóng tại trụ sở có xác nhận hộ
khẩu nơi thường trú và có xác nhận của uỷ ban nhân dân xã (Phường) nơi
cho phép hoạt động sản xuất kinh doanh.
+ Khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết. Hộ sản
xuất vay vốn phải có vốn tự có tham gia và dự án sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ. Hộ sản xuất phải kinh doanh có hiệu quả, không có nợ quá hạn trên 6
tháng với Ngân hàng.
+ Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp : Không vi phạm pháp luật

Ngoài ra Ngân hàng còn dùng chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng
cho vay hộ sản xuất trong tổng doanh số cho vay của Ngân hàng trong một
năm.
Doanh số cho vay hộ sản xuất
Tỷ trọng cho vay HSX = x100%
Tổng doanh số cho vay
- Doanh số thu nợ hộ sản xuất :
Doanh số thu nợ hộ sản xuất chỉ là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số
tiền Ngân hàng thu hồi được sau khi đã giải ngân cho hộ sản xuất trong một
thời kỳ.
Doanh số thu nợ HSX
Tỷ lệ thu nợ HSX = x 100%
Tổng dư nợ của HSX
Để phản ánh tình hình thu nợ hộ sản xuất, Ngân hàng còn sử dụng chỉ
tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng thu hồi được trong tổng doanh số cho vay
Trêng §H DL§§ SV : Ph¹m ThÞ Lan TC5 – K7
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
hộ sản xuất của Ngân hàng trong thời kỳ. Chỉ tiêu này được tính bằng công
thức
Doanh số thu nợ hộ sản xuất
x 100%
Doanh số cho vay hộ sản xuất
- Dư nợ quá hạn hộ sản xuất:
Dư nợ quá hạn hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng thể số tiền
Ngân hàng chưa thu hồi được sau một thời gian nhất định kể từ ngày khoản
cho vay đến hạn thanh toán tại thời điểm đang xem xét.
Bên cạnh chỉ tiêu tuyệt đối, Ngân hàng thường xuyên sử dụng chỉ tiêu tỷ lệ
nợ quá hạn hộ sản xuất:
Dư nợ quá hạn HSX
Tỷ lệ nợ quá hạn HSX = x 100%

Trong tổng thu, lãi thu từ cho vay là chủ yếu, mà đối tượng của NHNo
hộ sản xuất là khách hàng chính của Ngân hàng, cho nên lợi nhuận Ngân
hàng là thước đo hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng cũng như chất lượng
cho vay HSX.
c/ Một số chỉ tiêu khác :
Doanh số cho vay HSX
Chỉ tiêu 1:
Tổng số lượt HSX vay vốn
Chỉ tiêu này phản ánh số tiền vay mỗi lượt của HSX. Số tiền vay càng
cao chứng tỏ hiệu quả cũng như chất lượng cho vay tăng lên. Điều đó thể
hiện sức sản xuất cũng như quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của HSX
tăng lên cao. Đồng thời thể hiện chất lượng cho vay có xu hướng tăng, bởi
thế Ngân hàng cho một lượt HSX vay nhiều hơn mà vẫn đảm bảo khả năng
thu hồi và có lãi.
Trêng §H DL§§ SV : Ph¹m ThÞ Lan TC5 – K7
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Chỉ tiêu 2:
Tỷ lệ cho vay Dư nợ cho vay HSX trung - dài hạn HSX
trung - dài hạn HSX = x 100%
Tổng số dư nợ HSX
Đây là chỉ tiêu tương đối phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu vốn trung
- dài hạn của HSX để mở rộng sản xuất kinh doanh. Cho vay trung - dài hạn
hộ sản xuất phải đạt tỷ trọng cao hơn cho vay ngắn hạn thì hộ mới có đủ vốn
để cải tạo, xây dựng cơ sở vật chất cho sản xuất, từ đó tạo cơ sở để nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn ngắn hạn.
Chỉ tiêu 3: Tốc độ tăng trưởng dư nợ HSX hàng năm
Đây là dấu hiệu cho thấy kết quả hoạt động tín dụng. Sử dụng kết hợp
với chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn có thể đánh giá được chất lượng cũng như hiệu
quả của TDNH đối với hộ sản xuất. Từ chỉ tiêu này có thể tính tốc độ tăng
trưởng bình quân một giai đoạn cho đánh giá toàn diện hơn chất lượng tín

Ngân hàng là một trong những ngành phải chịu sư giám sát chặt chẽ
của cơ quan pháp luật và cơ quan chức năng. do vậy việc tạo ra môi trường
pháp lý hoàn thiện sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng
tín dụng. Môi trường chính trị ổn định, tạo điều kiện và cơ sở pháp lý để
hoạt động tín dụng ngân hàng, cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của
HSX tiến hành thuận lợi. Những quy định cụ thể của pháp luật về tín dụng
và các lĩnh vực khác có liên quan đến hoạt động tín dụng là cơ sở để xử lý,
giải quyết khi xảy ra các tranh chấp tín dụng một cách hữu hiệu nhất. Vì vậy
môi trường chính trị - pháp luật có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng tín dụng
HSX.
- Môi trường tự nhiên:
Trêng §H DL§§ SV : Ph¹m ThÞ Lan TC5 – K7
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
Môi trường tự nhiên tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh
doanh của HSX. Nhất là những HSX nông nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào
điều kiện tự nhiên. Nếu “mưa thuận gió hoà ’’ họ sẽ bội thu, sản xuất kinh
doanh suôn sẻ, thì HSX có khả năng tài chính dồi dào để trả nợ Ngân hàng.
Ngược lại, nếu thiên tai bất ngờ xảy ra thì hộ sản xuất sẽ bị thiệt hại lớn về
kinh tế, dẫn đến gặp khó khăn trong việc trả nợ Ngân hàng. Diễn biến tự
nhiên là bất khả kháng, con người khó có thể đoán trước hay thay đổi được
nó. Cho nên, môi trường tự nhiên là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng
tín dụng HSX.
b/ yếu tố thuộc về khách hàng :
Ngoài yếu tố môi trường ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng HSX thì
còn có rất nhiều yếu tố từ chính khách hàng ảnh hưởng không nhỏ tới chất
lượng tín dụng.
- Trình độ của khách hàng:
Trình độ của khách hàng bao gồm cả trình độ sản xuất và trình độ
quản lý của khách hàng. Với một trình độ sản xuất phù hợp và khả năng
quản lý khoa học, khách hàng có thể đạt được kết quả sản xuất kinh doanh

hay không tốt là nguyên nhân để các chỉ tiêu định tính đánh giá chất lượng
tín dụng Ngân hàng có thực hiện được hay không. Mỗi cán bộ tín dụng khi
cho vay đều phải tuân theo Luật các tổ chức tín dụng và các quy định thể lệ
tín dụng riêng của từng Ngân hàng.
- Cho vay hoặc bảo lãnh với giá trị quá lớn khiến khách hàng khó có
thể đủ khả năng tài chính để trả nợ Ngân hàng, đồng thời vi phạm điều kiện
về đảm bảo tiền vay, làm cho chất lượng tín dụng bị ảnh hưởng.
Trêng §H DL§§ SV : Ph¹m ThÞ Lan TC5 – K7
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
- Trình độ cán bộ tín dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng
khoản cho vay. Chất lượng một khoản cho vay được xác định ngay từ khi
khoản cho vay được quyết định qua các chỉ tiêu định tính.
- Kiểm tra, kiểm soát của Ngân hàng chưa kịp thời, do đó không kịp
thời nắm bắt được các thông tin về một khoản cho vay, không biết được các
yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng nào đã, đang và sẽ xảy ra để có
biện pháp kịp thời không làm cho chất lượng tín dụng giảm sút.
- Hệ thống thông tin Ngân hàng sẽ tạo điều kiện để Ngân hàng nắm
bắt được các thông tin về khách hàng trước khi quyết định một khoản cho
vay. Yếu tố này rất quan trọng bởi vì nó góp phần ngăn chặn những khoản
cho vay chất lượng không tốt ngay từ khi chưa xảy ra.
Tóm lại : Có thể khẳng định rằng tín dụng Ngân hàng có vai trò hết
sức to lớn đối với hộ sản xuất cả về mặt kinh tế, chính trị và xã hội. Nó được
coi là công cụ đắc lực của nhà nước, là đòn bẩy kinh tế, là động lực thúc đẩy
sản xuất phát triển một cách toàn diện, từ đó phát huy hết được vai trò to lớn
của mình đối với quá trình CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn cũng như
đối với nền kinh tế quốc dân. Nhưng thực tế cho thấy, chất lượng tín dụng
ngân hàng đối với HSX còn nhiều vấn đề cần giải quyết và tháo gỡ. Do đó
việc nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất là điều rất
quan trọng đối với Ngân hàng nói chung và NHNo nói riêng.
Trêng §H DL§§ SV : Ph¹m ThÞ Lan TC5 – K7

Trêng §H DL§§ SV : Ph¹m ThÞ Lan TC5 – K7
Kho¸ luËn tèt nghiÖp
trình chuyển nền sản xuất tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá còn gặp
nhiều khó khăn. Song với tinh thần đoàn kết một lòng, nhiều chủ trương
chính sách của Đảng và Nhà nước ban hành phù hợp với ý Đảng lòng dân,
11 dân tộc anh em trên địa bàn huyện Văn Bàn đã quyết tâm vượt lên mọi
khó khăn trước mắt để thoát khỏi đói nghèo. Trên cơ sở phát huy thế mạnh
về nông lâm nghiệp : đẩy mạnh tiến độ chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật
nuôi thích hợp với vùng sinh thái, dần hình thành các vùng sản xuất hàng
hoá tập trung, áp dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật về giống, lấy thâm
canh hiệu quả là chính, mở rộng diện tích cây đặc sản như : quế, thảo quả
… nhằm không ngừng nâng cao mức thu nhập của nhân dân.
Về cây lương thực : Tổng sản lượng cây lượng thực đạt 27.810 tấn đạt
105,2 % so với kế hoạch
Trong đó :
- Lúa đạt sản lượng là 21.387 tấn đạt 106,6% kế hoạch
- Ngô đạt 6.423 tấn đạt 109% kế hoạch
- Đậu tương đạt 570 tấn đạt 129% kế hoạch
Cây ăn quả đã trồng được 14,5 ha
Về chăn nuôi : đẩy mạnh chăn nuôi đưa chăn nuôi lên thành ngành sản xuất
chính, phát triển nhanh các loại gia súc như trâu , bò, dê, phát triển đàn lợn
giống thuần chủng, hướng hộ gia đình chăn nuôi đàn gia súc, gia cầm nhìn
chung ổn định, phát triển tốt :
- Tổng đàn trâu cuối năm 2004 là 19.027 con tăng 7,2% so với năm 2002
- Đàn bò cuối năm là 3.870 con tăng 12% so với năm 2002
- Đàn lợn cuối năm 2004 là 47.171 con tăng 10,4 % so với năm 2002
- Đàn ngựa cuối năm 2004 là 295 con tăng 6.7% so với năm 2002
Đạt được những thành tựu đáng kể như vậy nhưng nhìn chung kinh tế ở
huyện Văn Bàn mới thoát khỏi ngưỡng cửa tự cấp, tự túc chưa xa. Trong
12.729 hộ có tới 1.453 hộ đói nghèo phần lớn số hộ còn lại là hộ có mức

Trêng §H DL§§ SV : Ph¹m ThÞ Lan TC5 – K7


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status