Khóa luận tốt nghiệp Trần Hùng, A11-K38D
MT S GII PHP M RNG TN DNG NGN HNG
I VI KHU VC KINH T NGOI QUC DOANH VIT
NAM
1. Quan im, ng li, chớnh sỏch ca ng, Nh nc v phỏt trin khu
vc kinh t ngoi quc doanh trong nhng nm ti:
Nhn thc c vai trũ ca kinh t ngoi quc doanh, ng v Nh nc
ó cú nhng ch trng, chớnh sỏch nhm khuyn khớch khu vc kinh t ngoi
quc doanh phỏt trin bỡnh ng vi kinh t quc doanh. Ngh quyt i hi
ng ln th IX ó khng nh thc hin nht quỏn chớnh sỏch phỏt trin nn
kinh t nhiu thnh phn, cỏc thnh phn kinh t kinh doanh theo phỏp lut u
l b phn cu thnh quan trng ca nn kinh t th trng nh hng xó hi
ch ngha, cựng phỏt trin lõu di, hp tỏc v cnh tranh lnh mnh...
33
.
Bờn cnh ch trng trờn, Ngh quyt cng vch ra k hoch phỏt trin
KVNQD, c th trong giai on 2001-2005, kinh t cỏ th, tiu ch, kinh t t
bn t nhõn c khuyn khớch phỏt trin mnh; thc hin quyn t do kinh
doanh theo phỏp lut ca mi cụng dõn nhm phỏt huy ti a ni lc, phỏt trin
lc lng sn xut; sa i, b sung h thng phỏp lut nhm bo m s bỡnh
ng v c hi cho mi t chc, cỏ nhõn thuc cỏc thnh phn kinh t; xoỏ b
mi hỡnh thc phõn bit i x, bo m c hi v kh nng la chn bỡnh ng
ca cỏc thnh phn kinh t trong tip cn v vn, t ai, lao ng, cụng ngh;
tip tc phỏt huy nhng tỏc ng tớch cc ca Lut Doanh nghip, tin ti xõy
dng mt lut ỏp dng thng nht cho cỏc loi hỡnh doanh nghip khỏc nhau
thuc cỏc thnh phn kinh t; hon thin cỏc c ch, chớnh sỏch khuyn khớch
doanh nghip va v nh, kinh t trang tri
34
.
33
33
Đối với kinh tế cá thể, tiểu chủ: nhu cầu vốn vay của loại hình này thường
không nhiều, chủ yếu vay ngắn hạn để bổ sung lượng tiền mặt thiếu hụt tạm
thời. Đứng trên giác độ quản lý ngân hàng, khoản chi phí tính trên mỗi món vay
mà ngân hàng bỏ ra thực hiện cho vay những đối tượng này thường lớn hơn so
với việc cho các doanh nghiệp vay, do đó bên cạnh việc trực tiếp cho từng cá
35
35
Văn kiện Đại hội đại biểu to n quà ốc lần thứ IX, Nh xuà ất bản Chính trị quốc gia, trang 96.
2
2
Khãa luËn tèt nghiÖp TrÇn Hïng, A11-K38D
nhân vay vốn, đối với những khách hàng có cùng hoạt động sản xuất kinh
doanh, ngân hàng có thể hướng dẫn họ tập hợp lại thành nhóm khoảng từ 5 đến
6 người để thực hiện việc cho vay. Cán bộ tín dụng chỉ cần làm việc với 1 hoặc
2 người đại diện cả nhóm. Người này sẽ trực tiếp chịu trách nhiệm trước ngân
hàng về việc sử dụng vốn vay của tất cả các thành viên trong nhóm cũng như
chuyển khoản vay từ ngân hàng tới các thành viên khác. Bằng cách này, ngân
hàng giảm được chi phí cho vay, khách hàng bớt được các thủ tục rườm rà.
Đối với kinh tế hợp tác, kinh tế tư bản tư nhân: đây là những đơn vị kinh
tế được điều chỉnh bởi Luật doanh nghiệp, ngân hàng nên căn cứ vào đặc trưng
của từng loại hình mà áp dụng các chính sách tín dụng cho phù hợp. Ví dụ, bên
cạnh việc cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động, ngân hàng có thể cho các
doanh nghiệp vay vốn để thực hiện dự án trung và dài hạn. Dựa trên đơn yêu cầu
vay vốn của khách hàng, ngân hàng có thể cho vay để mua vật tư, hàng hoá... và
các nhu cầu tài chính khác theo quy định của NHNN. Việc cho vay có bảo đảm
hay không bảo đảm phải căn cứ vào tính pháp lý của từng loại hình doanh
nghiệp.
Tóm lại, việc mở rộng đối tượng cho vay không những giúp ngân hàng có
thể thiết lập quan hệ với nhiều khách hàng mà còn giúp đa dạng hoá được các
khoản đầu tư của mình. Nhờ vậy, ngân hàng hạn chế được rủi ro thông qua việc
thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
- Cho vay theo dự án đầu tư: ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực
hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu
tư phục vụ đời sống.
- Cho vay hợp vốn: một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một
dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, có một tổ
chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác.
4
4
Khãa luËn tèt nghiÖp TrÇn Hïng, A11-K38D
- Cho vay trả góp: khi vay vốn, ngân hàng và khách hàng xác định và thoả
thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia để trả nợ theo nhiều
kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: ngân hàng cam kết đảm bảo
sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định.
Ngân hàng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự
phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
- Cho vay thông qua nghiêp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: ngân
hàng chấp nhận cho khách hàng sử dụng vốn vay trong phạm vi hạn mức tín
dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự
động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của ngân hàng.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc cho vay mà ngân hàng thoả thuận
bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh
toán của khách hàng.
Việc mở rộng, cung ứng các phương thức cho vay phù hợp với đặc điểm,
tính chất kinh doanh của khách hàng sẽ giúp ngân hàng dễ dàng, thuận tiện hơn
trong việc kiểm tra, giám sát và thu hồi vốn vay. Qua đó nâng cao hiệu quả kinh
doanh của khách hàng cũng như ngân hàng, kéo theo mối quan hệ hai bên được
tăng cường, từ đó tạo điều kiện để mở rộng phạm vi hoạt động của ngân hàng.
2.4 Mở rộng hình thức cho vay:
phát triển của bản thân ngân hàng. Do vậy, bất cứ một ngân hàng nào cũng đều
cố gắng tìm ra những giải pháp nhằm mở rộng quy mô tín dụng. Tuỳ theo đặc
điểm riêng của từng ngân hàng, mục tiêu theo đuổi riêng và tình hình phát triển
của nền kinh tế ở từng thời kỳ mà mỗi ngân hàng có quan điểm về mở rộng tín
dụng riêng và cố gắng tìm ra giải pháp thích hợp cho mình. Tuy nhiên tựu chung
lại, mở rộng tín dụng ngân hàng nên theo những quan điểm sau:
6
6
Khãa luËn tèt nghiÖp TrÇn Hïng, A11-K38D
- Mở rộng tín dụng luôn đi đôi với việc bảo đảm chất lượng tín dụng, bởi
vì chỉ có như vậy hoạt động tín dụng mới thực sự hiệu quả và hoạt động tín dụng
có hiệu quả mới tạo điều kiện để các ngân hàng tiến hành mở rộng tín dụng ở
quy mô lớn hơn.
- Mở rộng tín dụng nhưng phải đúng pháp luật, bởi vì chỉ khi nào thực
hiện theo đúng những quy định của luật pháp, hoạt động kinh tế mới được Nhà
nước thừa nhận.
- Mở rộng tín dụng phải luôn đảm bảo nhu cầu và lợi ích của khách hàng,
bởi ngày nay họ mới chính là “thượng đế” của các ngân hàng.
- Mở rộng tín dụng phải luôn đảm bảo lợi nhuận và an toàn cho ngân
hàng, bởi đây luôn là mục tiêu cuối cùng của mọi ngân hàng.
3.2 Một số giải pháp mở rộng tín dụng ngân hàng đối với khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh ở Việt Nam:
Sau khi nghiên cứu thực trạng quan hệ tín dụng giữa các NHTM và
KVNQD, nhất là sau khi tìm hiểu những hạn chế trong quan hệ tín dụng trên và
những nguyên nhân làm phát sinh những hạn chế đó, người viết mạnh dạn đưa
ra những giải pháp củng cố, tăng cường, mở rộng tín dụng đối với KVNQD của
các NHTM ở nước ta hiện nay như sau:
3.2.1 Nâng cao hiệu quả huy động vốn, tạo cơ sở vững chắc cho công tác cho
vay của các ngân hàng:
a. Hoàn thiện dịch vụ tiền gửi:
của người dân cũng như của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và
nhỏ, nhưng kết quả đạt được còn khá khiêm tốn. Tuy nhiên, đây lại là khoảng
trống để các NHTM hướng tới bởi vì thông qua chiến lược này, các NHTM có
thể huy động được một lượng vốn huy động tương đối lớn.
Để đi theo hướng này, các NHTM trước hết phải hoàn thiện hệ thống rút
tiền tự động của mình theo hướng hợp tác hơn bởi vì, các NHTM trong nước
đang thực hiện chiến lược này theo kiểu “ mạnh ai người đó làm”, vừa tốn kém,
vừa không tiện ích đối với khách hàng. Hiện nay, mỗi NHTM có một hệ thống
36
36
Ngân h ng Ngoà ại thương, Báo cáo thường niên năm 2002.
8
8
Khãa luËn tèt nghiÖp TrÇn Hïng, A11-K38D
máy rút tiền tự động (ATM) của riêng mình, khách hàng tham gia dịch vụ của
ngân hàng nào chỉ có thể rút tiền của ngân hàng ấy, vấn đề là ở chỗ không phải
ngân hàng cũng trang bị nhiều máy, bố trí ở nhiều nơi bởi vì giá một máy là khá
cao (30.000 USD). Vì vậy, hiệu quả nhất là các ngân hàng liên kết các máy ATM
lại, khi đó người làm thẻ ATM tại bất kỳ ngân hàng nào cũng có thể thực hiện
giao dịch tai ATM của các ngân hàng khác tại nhiều điểm giao dịch hơn. Bên
cạnh đó, các NHTM cần tích cực phát triển hơn dịch vụ trả tiền lương, điện
thoại, điện, nước qua tài khoản. Điều này không những thu hút thêm được một
khoản tiền nhàn rỗi tạm thời mà còn giúp giảm chi phí cho xã hội.
b. Nâng cao tỷ trọng nguồn vốn huy động dài hạn trong tổng nguồn vốn
huy động:
Theo một số nhà phân tích, mức hợp lý của nguồn vốn ngân hàng trong
đầu tư cho nền kinh tế ở các nước phát triển là khoảng 30% bên cạnh các kênh
huy động khác là thị trường chứng khoán, trái phiếu chính phủ..., trong khi đó ở
nước ta hiện nay, tỷ lệ này quá cao (lên đến trên 70%
37
doanh khả thi hơn KVNQD nên đã tạo ra sự phân biệt đối xử giữa các TPKT. Vì
vậy, với các khách hàng quen thuộc, có uy tín vay trả sòng phẳng, có dự án kinh
doanh khả thi cao nên được hưởng mức lãi suất ưu đãi, điều đó vừa khuyến
khích khách hàng tăng cường mối quan hệ với ngân hàng, vừa tích cực làm ăn
có hiệu quả, trả nợ gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng.
+ Các NHTM cần phải đa dạng hoá các hình thức lãi suất sao cho phù hợp
với chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng. Dựa vào từng hình thức lãi suất
và từng kỳ hạn, khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn những khoản vay thích
hợp đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của họ đạt hiệu quả cao, đảm bảo trả nợ
cho ngân hàng đúng hạn.
- Về chính sách bảo đảm tiền vay:
Từ trước đến nay, đối với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, các
NHTM thường yêu cầu khu vực kinh tế này phải có tài sản thế chấp, trong đó
phổ biến nhất là đất đai. Tuy nhiên, vấn đề này không phải lúc nào cũng thực
hiện được do việc chứng nhận của cơ quan công quyền hay Uỷ ban Nhân dân
cấp quận, huyện đối với tài sản thế chấp còn tồn tại nhiều vấn đề phức tạp. Do
10
10
Khãa luËn tèt nghiÖp TrÇn Hïng, A11-K38D
đó, bên cạnh việc cho vay theo hình thức này, ngân hàng có thể nghiên cứu cho
vay theo các hình thức khác như kết hợp linh hoạt các hình thức bảo đảm bằng
tín chấp, tín chấp và thế chấp, tín chấp, thế chấp và bảo lãnh.
Với sự phát triển của nền kinh tế hiện nay thì việc cho vay bằng tín chấp
có nhiều khả năng phát triển. Tuy nhiên, cho vay bằng tín chấp không có nghĩa
là ngân hàng có thể bỏ qua những thủ tục cần thiết. Khách hàng vẫn cần phải có
số liệu chứng minh tình hình tài chính lành mạnh, phải có tài sản cố định, tài sản
lưu động đủ lớn và đối tượng cho vay là những sản phẩm có hiệu quả và ổn định
trên thị trường.
Bên cạnh đó, các biện pháp bảo đảm tiền vay đều phải lập thành văn bản,
nhưng lập chung với hợp đồng tín dụng hay lập thành văn bản riêng là do các
Thực tế hiện nay cho thấy các NHTM mới bắt đầu chú trọng tới công tác
marketing, hoạt động của phòng quản lý khách hàng chưa mang tính nghiệp vụ
cao và hiệu quả rõ nét. Để thực hiện công tác marketing khách hàng, các ngân
hàng nên có những chính sách sau:
- Trong giao tiếp, thiết lập quan hệ với khách hàng, cán bộ tín dụng phải
có nghệ thuật giao tiếp để làm sao lôi kéo được khách hàng. Muốn vậy, cán bộ
tín dụng phải hiểu được nhu cầu và mong muốn của khách hàng là gì và khả
năng có thể đáp ứng được những nhu cầu đó. Hơn nữa, trong giao tiếp rất cần sự
mềm mỏng, nhã nhặn, lịch sự, tế nhị.
- Trong quá trình cấp tín dụng, các ngân hàng cần phải tư vấn cho khách
hàng cách thức đầu tư , thời điểm hiệu quả, những rủi ro mà khách hàng có thể
gặp phải để khách hàng sớm ngăn chặn và tìm biện pháp khắc phục. Khi khách
hàng gặp khó khăn về vốn, ngân hàng phải tìm cách giúp đỡ khách hàng để
khách hàng không bị tổn thất và có thể tiếp tục hoạt động của mình.
- Hiện nay, một số DNNQD chưa hiểu đầy đủ về ngành ngân hàng do đó
nhiều khi đã hội đủ điều kiện để vay vốn ngân hàng nhưng các doanh nghiệp
này vẫn còn nhiều e ngại trong việc thiết lập quan hệ tín dụng với ngân hàng.
12
12