Tăng cường hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Pdf 76

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
* * *
Trần Thị Diệu Hằng
TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI
NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN
SACOMBANK
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÊ ĐỨC LỮ
HÀ NỘI, Năm 2008
TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG
TMCP SÀI GÒN THƯƠNG TÍN SACOMBANK
PHẦN MỞ ĐẦU
I – Sự cần thiết của đề tài
Hoạt động huy động vốn là nghiệp vụ truyền thống của các Ngân hàng
thương mại cũng là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của Ngân hàng.
Năng lực của đội ngũ nhân viên cũng như của các nhà quản lý Ngân hàng
trong việc phát triển hoạt động huy động vốn là một thước đo quan trọng về
sự chấp nhận của công chúng đối với Ngân hàng. Huy động vốn là cơ sở
chính của các khoản cho vay và do đó là nguồn gốc sâu sa của lợi nhuận và sự
phát triển trong ngân hàng.
Đứng trước sự cạnh tranh gay gắt của các Tổ chức tín dụng khác trên
thị trường, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín ( Sacombank) nhận thấy
cần phải tăng cường hoạt động huy động vốn để có thể đáp ứng nhu cầu vốn
đối với sự phát triển của ngân hàng nói riêng và của xã hội nói chung. Do đó,
hoạt động huy động vốn đã được chú trọng ngay từ khi thành lập đến nay. Sau
16 năm phát triển, hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Sài Gòn Thương
Tín đã đạt được những kết quả nhất định.
Tuy nhiên, hoạt động huy động vốn tại Sacombank nói riêng và tại các
ngân hàng cổ phần nói chung còn gặp nhiều hạn chế do sự phân biệt của

VI- Các công trình nghiên cứu trước đây
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu để phát triển, tăng cường và mở rộng vốn
tại các ngân hàng. Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu các hình thức
huy động vốn cũng như các giải pháp để tăng cường huy động vốn tại Ngân
hàng Sài Gòn thương tín. Chính vì vậy mà luận văn này sẽ tập trung nghiên
cứu các hình thức cũng như các phương thức huy động vốn tại Sacombank và
từ đó đề ra các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động vốn tại Ngân hàng này.
4
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại (NHTM):
NHTM có hoạt động gần gũi nhất với dân chúng và nền kinh tế. Trong
các nước phát triển, hầu như không có công dân nào không có quan hệ giao
dịch với một ngân hàng. Nền kinh tế càng phát triển, hoạt động và dịch vụ của
NHTM càng đi vào tận cùng những ngõ ngách của nền kinh tế và đời sống
của con người. Mọi công dân đều chịu tác động của ngân hàng, dù họ là
khách hàng tiền gửi, một người vay hay đơn giản là người đang làm việc cho
một doanh nghiệp có vay vốn và sử dụng dịch vụ của ngân hàng.
Nghiệp vụ ngân hàng nói chung bao gồm tất cả những việc mà ngân
hàng thường làm trong khuôn khổ nghề nghiệp của họ. Tùy điều kiện kinh tế
và mức độ phát triển kỹ thuật của mỗi nước, các hoạt động kinh doanh của
NHTM có thể khác nhau về phạm vi và công nghệ. Nhưng nói chung, hoạt
động của NHTM bao gồm:
- Hoạt động huy động vốn
- Hoạt động sử dụng vốn
- Hoạt động trung gian khác
a) Hoạt động huy động vốn:
Đây là hoạt động khởi đầu tạo điều kiện cho sự hoạt động của ngân
hàng. Huy động các nguồn vốn khác nhau trong xã hội để hoạt động là lẽ
sống còn quan trọng nhất của NHTM

giữa khách hàng và ngân hàng. Trong thời gian này có quyền chủ động sử
6
dụng tiền do khách hàng ký gửi. Nếu khách hàng muốn rút tiền trước thời
hạn thì phải được sự đồng ý của ngân hàng.
− Tiền gửi tiết kiệm: là loại tiền gửi với mục đích hưởng lãi, và được huy
động dưới nhiều hình thức
Nguồn vay mượn:
Sau khi đã sử dụng hết vốn, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu cho
vay vốn của khách hàng, hoặc đáp ứng nhu cầu thanh toán và chi trả của
khách hàng, các NHTM có thể sử dụng nghiệp vụ đi vay ở ngân hàng TW, ở
các NHTM khác, vay ở thị trường tiền tệ, vay các tổ chức nước ngoài... Vốn
đi vay thông thường chiếm tỷ trọng không lớn trong kết cấu nguồn vốn. Tuy
nhiên nó rất cần thiết và có vị trí quan trọng để đảm bảo cho ngân hàng hoạt
động kinh doanh một cách bình thường.
Huy động từ các nguồn khác
NHTM có thể huy động vốn thông qua nghiệp vụ ngân hàng đại lý,
ngân hàng phục vụ... uy tín của ngân hàng là cơ sở quan trọng để mở rộng
nguồn vốn này.
b) Hoạt động sử dụng vốn:
Hoạt động sử dụng vốn của NHTM tập trung ở ba nghiệp vụ chính: dự
trữ, cho vay và đầu tư.
Dự trữ:
Dự trữ là nghiệp vụ nhằm duy trì khả năng thanh toán của ngân hàng để
đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng vì người gửi có thể rút tiền bất kỳ lúc
nào. Đây là khoản mục không được sử dụng vào mục đích sinh lời, gần như
không tạo ra lợi nhuận nhưng lại đóng vai trò hết sức quan trọng vì nó là
nguồn thanh khoản chủ yếu của ngân hàng. Mức dự trữ này cao hay thấp phụ
thuộc vào quy mô hoạt động của NHTM, mối quan hệ thanh toán và chuyển
khoản, thời vụ của các khoản chi trả tiền mặt.
7

các hoạt động trung gian mang tính dịch vụ sẽ đem lại cho các NHTM những
khoản thu nhập khá quan trọng, và sẽ giúp NHTM phát triển toàn diện.
Nghiệp vụ trung gian gồm rất nhiều loại dịch vụ ngân hàng khác nhau
như: dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ thu hộ chi hộ, dịch vụ chi lương cho các
doanh nghiệp, bảo quản hộ tài sản, dịch vụ môi giới tư vấn, dịch vụ bảo lãnh
phát hành chứng khoán...
Tóm lại: Nghiệp vụ kinh doanh của NHTM là rất đa dạng và phong phú
song tựu chung lại, nghiệp vụ chính của ngân hàng vẫn là hoạt động liên quan
đến huy động vốn, sử dụng vốn. Để có thể hoạt động được, NHTM buộc phải
có một số vốn nhất định để duy trì hai loại họat động này. Vì vậy, ta có thể
nói huy động vốn là một phần hoạt động chủ yếu của NHTM.
1.2 Vốn trong hoạt động của Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm cơ bản về vốn của Ngân hàng thương mại
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy
động, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Thực chất của nguồn vốn ngân hàng thương mại là một bộ phận thu
nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu
dùng mà người chủ sở hữu chúng gửi vào ngân hàng với mục đích khác nhau.
1.2.2 Phân loại vốn của Ngân hàng thương mại
Ta có thể chia vốn của NHTM thành 3 loại như sau:
1.2.2.1 Vốn chủ hay còn gọi là vốn tự có
Vốn tự có chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của Ngân
hàng, nhưng do tính chất thường xuyên ổn định của nó Ngân hàng có thể chủ
động sử dụng vào các mục đích khác nhau như: trang bị cơ sở vật chất, tạo tài
9
sản cố định và đặc biệt tham gia đầu tư góp vốn liên doanh. Mặt khác, với
chức năng bảo vệ, vốn tự có được coi như tài sản đảm bảo gây lòng tin với
khách hàng, duy trì khả năng thanh toán trong trường hợp Ngân hàng gặp
nhiều thua lỗ. Vốn tự có còn là một trong những căn cứ quyết định đến quy
mô, khối lượng vốn huy động của Ngân hàng.

Vốn đi vay là mối quan hệ vay mượn giữa Ngân hàng thương mại với
Ngân hàng Nhà nước, hoặc giữa các Ngân hàng thương mại với nhau hay các
tổ chức tín dụng khác. Sau khi đã sử dụng hết vốn, nhưng vẫn chưa đáp ứng
được nhu cầu cho vay vốn của khách hàng, hoặc đáp ứng nhu cầu thanh toán
và chi trả của khách hàng, các NHTM có thể sử dụng nghiệp vụ đi vay ở
Ngân hàng TW, ở các NHTM khác, vay ở thị trường tiền tệ, vay các tổ chức
nước ngoài… Vốn đi vay thông thường chiếm tỷ trọng không lớn trong kết
cấu nguồn vốn. Tuy nhiên nó rất cần thiết và có vị trí quan trọng để đảm bảo
cho ngân hàng hoạt động kinh doanh một cách bình thường.
c) Vốn khác:
Vốn khác bao gồm vốn trong thanh toán, vốn uỷ thác. Ngoài ra, các
NHTM có thể huy động vốn thông qua nghiệp vụ ngân hàng đại lý, ngân
hàng phục vụ…
1.2.3 Vai trò của vốn và công tác huy động vốn đối với NHTM
Một trong những vấn đề đáng lưu tâm nhất của hệ thống ngân hàng
trong vài năm gần đây là việc tăng và duy trì vốn chủ sở hữu ở mức hợp lý.
Thuật ngữ “vốn chủ sở hữu” có một ý nghĩa đặc biệt với ngân hàng, vốn thực
11
hiện một số chức năng không thể thay thế trong hoạt động ngân hàng, như
cung cấp những nguồn lực ban đầu để giúp ngân hàng mới thành lập hoạt
động, cung cấp nền tảng cho sự tăng trưởng và mở rộng, giúp ngân hàng
chống lại rủi ro, duy trì niềm tin của công chúng và của các cổ đông vào khả
năng quản lý và phát triển ngân hàng.
Vốn chủ sở hữu của một ngân hàng thương mại đóng vai trò sống còn
trong việc duy trì các hoạt động thường nhật và đảm bảo cho ngân hàng khả
năng phát triển lâu dài.
Thứ nhất: Vốn đóng vai trò là một tấm đệm giúp chống lại rủi ro phá
sản vì vốn giúp trang trải những thua lỗ về tài chính và nghiệp vụ cho tới khi
ban quản lý có thể tập trung giải quyết các vấn đề và đưa ngân hàng trở lại
trạng thái sinh lời.

ngân hàng thì vốn huy động là nhân tố không thể thiếu để một ngân hàng tồn
tại và phát triển. Vốn huy động là cơ sở chính của các khoản cho vay và do
đó, nó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển trong ngân hàng.
Khi huy động vốn, ngân hàng phải duy trì dự trữ bắt buộc và sau khi trừ đi
các khoản dự trữ để đảm bảo khả năng thanh toán, ngân hàng có thể cho vay
phần huy động còn lại. Khả năng huy động vốn với mức lãi suất hợp lý cũng
như khả năng đáp ứng các yêu cầu xin vay là những chỉ số đánh giá tính hiệu
quả trong quản lý ngân hàng. Các nhà quản lý ngân hàng cần phải làm gì để
đảm bảo rằng ngân hàng luôn luôn có đủ vốn để đáp ứng những nhu cầu tín
dụng cũng như các dịch vụ tài chính khác mà xã hội yêu cầu.
Nhận thức rõ vai trò của vốn đối với NHTM từ đó công tác huy động
vốn được quan tâm tương xứng và cũng có ý nghĩa sống còn đối với NHTM.
1.3 Các hình thức huy động vốn của Ngân hàng thương mại
13
1.3.1 Huy động vốn chủ sở hữu
Nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn trung và dài hạn, đóng vai trò nền
tảng, là cơ sở để thu hút những nguồn vốn khác. Tuy nó chiếm một tỷ trọng
không lớn trong cơ cấu nguồn vốn của NHTM nhưng nó có ý nghĩa quyết
định tới sự thành bại và phát triển của ngân hàng.
Vốn chủ sở hữu có thể được xem xét dưới các góc độ sau:
a) Vốn pháp định: Điều kiện hàng đầu để khởi nghiệp trước khi được phép
khai trương ngân hàng là phải có đủ vốn ban đầu theo luật định. Ở Việt Nam,
để thành lập một NHTM trước hết phải có đủ vốn pháp định theo mức quy
định của Ngân hàng Nhà nước.
Vốn pháp định của mỗi ngân hàng được hình thành do tính chất sở hữu của
ngân hàng quyết định. Theo quy định của Việt Nam có thể khái quát như sau:
- Nếu là NHTM thuộc sở hữu Nhà nước, vốn pháp định do ngân sách
Nhà nước cấp 100% vốn ban đầu.
- Nếu là NHTM cổ phần, vốn pháp định do sự đóng góp của các cổ đông
dưới hình thức phát hành cổ phiếu.

phần hoá ở chỗ: các chủ nợ có quyền xiết nợ đối với các tài sản cá nhân
của chủ sở hữu doanh nghiệp không cổ phần hoá còn cổ đông không
chịu trách nhiệm cá nhân đối với các món nợ của công ty, trách nhiệm
của họ là hữu hạn. Hầu hết các công ty cổ phần đều ấn định mệnh giá
cho mỗi cổ phiếu thường. Mệnh giá này được in trên tờ cổ phiếu. Mệnh
giá cổ phiếu không liên quan trực tiếp đến giá thị trường của cổ phiếu
đó. Ngoài ra, còn có cổ phiếu không có mệnh giá dành cho các sáng lập
viên, loại cổ phiếu này có đặc điểm là chỉ được hưởng lãi sau khi lợi
tức còn lại đã chia cho các cổ đông.
15
- Cổ phiếu ưu đãi là loại cổ phiếu có những đặc điểm của chứng khoán
vốn lẫn chứng khoán nợ. Với đặc điểm của chứng khoán nợ, cổ phiếu
ưu đãi hứa hẹn mang lại một khoản cổ tức cố định hàng năm, nhưng
không mang lại quyền bầu cử. Với đặc điểm của chứng khoán vốn, cổ
phiếu ưu đãi cũng bị xếp hạng chi trả sau trái phiếu trong trường hợp
ngân hàng phá sản. Cổ phiếu ưu đãi có thể có mệnh giá hoặc không có
mệnh giá và mệnh giá không liên quan trực tiếp đến giá thị trường. Do
các đặc điểm riêng có của mình, giá cổ phiếu ưu đãi trên thị trường
chứng khoán không dao động lên xuống nhiều như cổ phiếu thường.
- Nếu là NHTM liên doanh, vốn pháp định là vốn đóng góp cổ phần của
các ngân hàng tham gia liên doanh.
b) Vốn điều lệ: là vốn được ghi trong điều lệ hoạt động của NHTM. Vốn điều
lệ ít nhất phải bằng mức vốn pháp định do NHTM công bố vào đầu mỗi năm
tài chính. Vốn điều lệ quy định cho một ngân hàng nhiều hay ít tuỳ thuộc vào
quy mô và phạm vi hoạt động.
Ngoài ra, NHTM còn có các quỹ dự trữ ngân hàng như: quỹ phát triển
kỹ thuật, quỹ khấu hao tài sản cố định, quỹ bảo toàn vốn, quỹ phúc lợi….
Thực tế, vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số vốn hoạt
động kinh doanh của một ngân hàng nhưng lại là nguồn vốn rất quan trọng vì
nó cho thấy được thực lực, quy mô của ngân hàng. Nguồn vốn này càng lớn,

vận hành trong dân chúng.
Việc đưa séc cá nhân, một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt
vào lưu thông càng làm phong phú, đa dạng, thuận lợi và thích hợp với nhiều
đối tượng sử dụng. Đồng thời đây cũng là cơ hội để người dân tiếp cận, làm
quen với tập quán thanh toán không dùng tiền mặt, sớm hoà nhập với mạng
17
lưới thanh toán quốc tế; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc gửi
tiền vào Ngân hàng để thanh toán: an toàn, nhanh chóng, tránh được rủi ro
như mất cắp, hỏa hoạn… so với bảo quản tiền mặt. Về mặt xã hội, giảm được
lượng tiền mặt trong lưu thông, giảm chi phí in ấn bảo quản… góp phần kìm
chế, đẩy lùi lạm phát. Việc mở và sử dụng tài khoản cá nhân sẽ giúp các
NHTM huy động thêm nguồn vốn tiềm tàng trong dân cư.
1.3.2.2 Tiền gửi có kỳ hạn
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi được gửi vào ngân hàng trên cơ sở có
sự thoả thuận về thời gian rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng. Thông thường,
tiền gửi có kỳ hạn là các khoản tiền gửi có thời hạn và lãi suất cao. Theo nguyên
tắc khách hàng gửi chỉ được rút ra khi đến hạn đã thoả thuận. Tuy nhiên trên
thực tế, do phải cạnh tranh để thu hút tiền gửi, các Ngân hàng thường cho phép
khách hàng được rút ra trước hạn. Trong trường hợp này, có thể có hai cách giải
quyết: hoặc khách hàng được vay tiền của Ngân hàng, sau đó khi đến hạn rút
tiền thì dùng số tiền và lãi nhận được để trả nợ và lãi vay ngân hàng, hoặc là thoả
thuận với Ngân hàng rút tiền ra trước hạn và nhận lãi suất thấp hơn.
Để tăng cường khả năng huy động nguồn này, các NHTM thường đưa
ra nhiều loại thời hạn khác nhau với các mức lãi suất khác nhau nhằm đáp
ứng được mọi nhu cầu của các khách hàng khác nhau. Thông thường có các
loại kỳ hạn sau: 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm… Với mỗi kỳ hạn,
Ngân hàng áp dụng một mức lãi suất tương ứng, với nguyên tắc thời hạn càng
dài thì lãi suất càng cao.
1.3.2.3 Tiền gửi tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm là hình thức huy động truyền thống của Ngân hàng. Ở

nhưng trong thực tế, sự giới hạn này thường không được áp dụng. Không có
19
hình thức nào dưới hình thức giảm lãi suất được áp dụng cho các trường hợp
rút tiền tiết kiệm trước hạn.
1.3.3 Huy động vốn qua thị trường vốn
1.3.3.1 Trái phiếu
Trái phiếu Ngân hàng là một công cụ vay nợ dài hạn do NHTM phát
hành nhằm tài trợ vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, trong đó
ngân hàng cam kết trả vốn và lãi cho người mua trái phiếu sau một thời gian
nhất định. Thông thường việc phát hành trái phiếu phải được sự cho phép của
NHTW và có thể được phát hành dưới các hình thức: vô danh, ghi sổ, ghi
danh… Trái phiếu thường được phát hành với quy mô lớn và đồng loạt trong
cả hệ thống ngân hàng. Kỳ hạn trái phiếu rất đa dạng: 7 năm, 10 năm, 20
năm… Hiện nay, ở nước ta trái phiếu thường được phát hành theo các kỳ hạn
1, 2, 3, 4, 5 năm, tuỳ theo phương án sử dụng vốn. Các trái phiếu phát hành
cùng đợt được ghi cùng thời hạn và được thanh toán vào cùng thời điểm đáo
hạn. Thêm vào đó, chủng loại cũng rất phong phú như: trái phiếu có lãi suất
điều chỉnh, trái phiếu có lãi suất thả nổi, trái phiếu có lãi suất cố định, trái
phiếu có thể chuyển đổi sang cổ phiếu…
Trái phiếu ngân hàng được chuyển nhượng quyền sở hữu dưới các hình
thức mua bán, cho, tặng, thừa kế. Người nắm giữ trái phiếu có thể nó làm thế
chấp tiền vay nếu được người cho vay chấp nhận.
Một vấn đề nữa là lãi suất của trái phiếu. Ngân hàng ấn định lãi suất
của trái phiếu trên cơ sở cung cầu về vốn trên thị trường sao cho có thể
khuyến khích, động viên được người gửi và NHTM đảm bảo được hiệu quả
kinh doanh. Phương thức trả lãi cũng được ngân hàng áp dụng một cách linh
hoạt: trả lãi trước, trả lãi sau, trả lãi định kỳ…
Nguồn vốn huy động được từ nghiệp vụ này có mục đích là không chịu
sự điều chỉnh của quy định dự trữ bắt buộc và có tính ổn định cao.
20

1.3.4.1 Vay ngân hàng Trung ương
Trong quan hệ với NHTW, các NHTM đóng vai trò là khách hàng
thường xuyên và NHTW với tư cách là Ngân hàng của các Ngân hàng, phải
luôn luôn đóng vai trò chủ nợ và là người cho vay “cuối cùng” đối với các
NHTM.
Để thực hiện việc điều tiết khối lượng tiền cung ứng, NHTW thường
xuyên phải thực hiện các quan hệ tín dụng với các NHTM thông qua việc
chiết khấu và tái chiết khấu các phiếu nợ, trong đó chủ yếu là thương phiếu và
trái phiếu kho bạc. Việc cấp vốn dựa trên các cơ sở phiếu nợ này, một mặt
gắn với việc phát hành tiền với quá trình lưu thông hàng hoá, mặt khác tạo
điều kiện cho tiền phát hành quay trở về nơi mà nó đã ra đi – NHTW.
Hiện nay NHNN Việt Nam cho các Ngân hàng vay các loại sau:
- Cho vay bổ sung nguồn vốn tín dụng ngắn hạn: đây là hình thức tài trợ
vốn theo kế hoạch được NHTW phân phối cho các ngân hàng quốc
doanh.
- Tái chiết khấu các thương phiếu, trái phiếu kho bạc và khế ước mà các
tổ chức tín dụng đã cho các khách hàng vay chưa đáo hạn.
- Cho vay bổ sung vốn thanh toán bù trừ của các tổ chức tín dụng.
1.3.4.2 Vay các tổ chức tài chính khác
Các hình thức huy động vốn nói trên đóng vai trò chủ yếu trong công
tác huy động vốn của NHTM. Tuy nhiên, trong tình hình kinh doanh ngân
hàng hiện nay, sẽ rất thiếu sót nếu như không đề cập đến nguồn vốn có thể
huy động được bằng cách vay các NHTM khác thông qua thị trường nội tệ và
ngoại tệ liên ngân hàng.
22
a) Thị trường nội tệ liên ngân hàng:
Thị trường nội tệ liên ngân hàng là thị trường tiền tệ do NHTW tổ chức
để giải quyết mối quan hệ vay mượn những khoản vốn tạm thời giữa các
TCTD với nhau. Bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 7/1993 (Quyết định số
114 – 21/06/1993 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) đã giúp các

phú với đặc điểm là lãi suất thấp. Đây là nguồn vốn mà qua đó NHTM có thể
đáp ứng nhu cầu tín dụng trung dài hạn trong nền kinh tế, trong đó nguồn vốn
ODA là quan trọng nhất. Vì thế, mà các NHTM cần có kế hoạch huy động và
tăng cường nguồn vốn này.
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của NHTM
Để có một nguồn vốn vững chắc, đảm bảo cho sự phát triển bền vững
của ngân hàng là một vấn đề nan giải. Nó đòi hỏi ở NHTM phải có những
nghiệp vụ huy động vốn linh hoạt, hấp dẫn và thiết thực, phù hợp với từng
giai đoạn hoạt động của ngân hàng cũng như các chính sách của Đảng và Nhà
nước. Muốn vậy, việc xác định và phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới công
tác huy động vốn là rất quan trọng, từ đó tìm ra các giải pháp phù hợp.
1.4.1 Các nhân tố khách quan
− Sự ổn định và phát triển của nền kinh tế trong nước và thế giới:
Động thái của nền kinh tế chính là cơ sở đầu tiên để người gửi tiền ra
quyết định nên gửi tiền vào ngân hàng hay không. Nếu các nhân tố này tạo ra
sự ổn định của đồng tiền, tăng thu nhập thì sẽ là tiền đề để tăng quy mô tiền
gửi và giảm chi phí cho ngân hàng. Khi đó các doanh nghiệp và cá nhân sẽ
đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh nên họ vay tiền nhiều và cũng gửi nhiều.
Còn khi lạm phát xảy ra sẽ làm cho lãi suất thực giảm xuống trong khi lãi suất
danh nghĩa không đổi làm giảm lợi ích của người gửi tiền nên họ sẽ tích trữ
24
vàng hoặc ngoại tệ mạnh như dollar với kỳ vọng để đảm bảo giá trị đồng tiền
của mình. Do đó, ngân hàng phải có chính sách huy động vốn thích hợp và
hấp dẫn như tiền gửi đảm bảo bằng vàng, tiền gửi có tính đến trượt giá, huy
động vốn bằng vàng và ngoại tệ thì sẽ có thể huy động được số vốn như mong
muốn và giảm được lạm phát.
Sự ổn định nền kinh tế vĩ mô của Nhà nước thuộc phạm vi điều chỉnh
của Chính phủ nên bản thân các ngân hàng không thể điều chỉnh được.
− Chính sách của Nhà nước:
Đây là một trong các yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến công tác huy động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status