MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HẠCH TOÁN TIÊU THỤTẠI CÔNG TY DUNG DỊCH KHOANVÀ HOÁ PHẨM DẦU KHÍ - Pdf 76

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HẠCH TOÁN TIÊU THỤTẠI CÔNG
TY DUNG DỊCH KHOANVÀ HOÁ PHẨM DẦU KHÍ.
I. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN TẠI CÔNG
TY DMC.
1.Đánh giá chung về công tác kế toán.
Phù hợp với đặc điểm tổ chức quản lý và đặc điểm của tổ chức hoạt động sản
xuất kinh doanh của Công ty, bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức tương đối
hoàn chỉnh, gọn nhẹ, đội ngũ nhân viên có trình độ cao và được đào tạo cơ bản đáp
ứng nhu cầu của sản xuất kinh doanh.
Bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức theo hình thức tập trung – phân tán.
Hình thức này phù hợp với đặc điểm bộ máy quản lý của doanh nghiệp, một mặt
giúp kế toán Công ty giảm bớt khối lượng công tác kế toán, mặt khác tăng cường
trách nhiệm ở các đơn vị cơ sở. Nhìn vào mô hình tổ chức bộ máy kế toán ta thấy
có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng. Sự phân công phân nhiệm này làm cho công
tác hạch toán được thực hiện kịp thời theo nguyên tắc cập nhật và tăng cường trách
nhiệm của mỗi kế toán viên.
Công tác kế toán Công ty đã đáp ứng được nhu cầu đặt ra là: Đảm bảo tính
thống nhất về mặt phạm vi, phương pháp tính toán các chỉ tiêu kinh tế giữa kế toán
và các bộ phận khác có liên quan.
[
Công ty luôn tuân thủ các chính sách, chế độ kế toán, tài chính của Nhà
nước.Theo đó:
 Hệ thống tài khoản kế toán Công ty đang áp dụng phù hợp với đặc thù sản
xuất kinh doanh của đơn vị và tuân thủ hệ thống tài khoản áp dụng chung của Bộ
Tài chính.
 Các chứng từ kế toán sử dụng được lập theo đúng mẫu qui định của Bộ Tài
chính và phù hợp với loại hình sản xuất kinh doanh của đơn vị. Việc tập hợp luân
chuyển chứng từ cũng như bảo quản, lưu trữ được tổ chức một cách khoa học, hợp
lý và theo đúng qui định.
 Hệ thống sổ kế toán của Công ty được áp dụng tương đối phù hợp với chế
độ kế toán Việt Nam. Sổ sách kế toán được tổ chức một cách hợp lý, dễ kiểm tra,

 Công tác kế toán tiêu thụ thành phẩm ở Công ty DMC tiến hành trên cơ sở
tình hình thực tế của Công ty, vận dụng một cách linh hoạt theo đúng hướng dẫn
của chế độ kế toánViệt Nam.
 Mối quan hệ đối chiếu so sánh, trao đổi giữa kế toán tiêu thụ với các phần
hành có liên quan như: kế toán thành phẩm, thủ kho, kế toán quỹ được cập nhật
thường xuyên để đảm bảo tính chính xác của số liệu về số lượng thành phẩm tiêu
thụ, doanh thu tiêu thụ, thuế phải nộp.... Nếu tồn tại sai sót thì kịp thời phát hiện và
có biện pháp xử lý.
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm của Công ty diễn ra thường xuyên với phương
châm: Đa dạng hoá sản phẩm, đa phương hoá tiêu thụ, thực hiện các chính sách,
chế độ thu hút khách hàng. Bên cạnh đó, công tác bán hàng, tiếp cận khách hàng
và phát triển khách hàng cũng được Công ty quan tâm và chú trọng. Các thủ tục
bán hàng cũng như thanh toán tài chính được thực hiện nhanh chóng, đảm bảo
đúng nguyên tắc. Khâu xuất hàng và vận chuyển hàng thuận tiện cho khách hàng,
góp phần nâng cao uy tín của Công ty trên thị trường. Hiện nay, Công ty đang tiếp
tục thực hiện các chính sách khuyến khích tiêu thụ, nâng cao chất lượng sản phẩm,
hàng hoá, thực hiện phương pháp tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ.
2.2 Những tồn tại:
Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì trong công tác kế toán nói chung và
kế toán tiêu thụ sản phẩm nói riêng tại Công ty DMC vẫn còn những hạn chế nhất
định. Cụ thể:
2.2.1 Về phương thức thanh toán:
Khách hàng của Công ty chủ yếu là các khách hàng truyền thống, thường mua
với khối lượng lớn nên Công ty mở rộng thời hạn thanh toán. Các khách hàng
trong nước thường thanh toán tiền hàng cho Công ty sau 20 đến 25 ngày, còn đối
với các khách hàng nước ngoài thời hạn thanh toán kéo dài từ 60 đến 90 ngày.
Mặc dù thời hạn thanh toán của khách hàng tương đối chậm nhưng Công ty chưa
có chính sách khuyến khích thanh toán dẫn đến việc thanh toán bị trì trệ.
Mặt khác với chính sách cho phép khách hàng có thể thanh toán chậm như
hiện nay, thì Công ty đã tạo điều kiện cho khách hàng dây dưa nợ, dẫn đến xuất

ty. Khi Chi nhánh thông báo về số hàng gửi bán đã được tiêu thụ, kế toán tại Công
ty lập hoá đơn GTGT cho số hàng đó và phản ánh doanh thu của số hàng gửi bán
vào TK 512- doanh thu nội bộ. Cách hạch toán doanh thu vào TK 512 là sai
nguyên tắc, nó làm thay đổi nội dung, bản chất của nghiệp vụ bán hàng. Vì đây là
trường hợp hàng gửi chi nhánh tiêu thụ và Chi nhánh có chức năng như một đơn vị
nhận đại lý, ký gửi tiêu thụ số sản phẩm Công ty điều chuyển vào, chứ không phải
là trường hợp tiêu thụ nội bộ.
2.2.4 Về sổ kế toán doanh thu.
Các sản phẩm được bán theo chính sách giá bán của Công ty. Giá bán được
quy định bằng USD nên cột thành tiền trong hoá đơn GTGT cũng được tính theo
USD. Sau đó, căn cứ vào tỷ giá ngoại tệ bình quân liên ngân hàng do ngân hàng
nhà nước công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ bán hàng để quy đổi ra đồng
Việt Nam. Trong Sổ chi tiết doanh thu và Bảng kê chi tiết doanh thu, giá trị doanh
thu được ghi nhận bằng đồng Việt Nam. Tuy nhiên các sổ này không mở cột tỷ giá
thực tế tại thời điểm phát sinh hay cột số tiền bằng ngoại tệ. Do đó không thuận
tiện cho việc kiểm tra theo dõi. Muốn kiểm tra tính chính xác của của giá trị phát
sinh phải đi ngược từ chứng từ gốc để kiểm tra tỷ giá tại thời điểm phát sinh hoặc
số tiền doanh thu bằng ngoại tệ.
Vì vậy các chỉ tiêu kết cấu của Sổ chi tiết doanh thu và Bảng kê chi tiết doanh
thu hiện nay tại Công ty là chưa đầy đủ, gây khó khăn cho việc đối chiếu, kiểm tra
giữa các phần hành kế toán: kế toán công nợ, kế toán doanh thu tiêu thụ và kế toán
thuế với các phát sinh bằng ngoại tệ.
2.2.4 Về hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu
 Về khoản giảm giá:
Theo chế độ kế toán việt nam ban hành theo QĐ 1141/BTC ngày 1/11/1995,
khoản giảm giá được phản ánh vào tài khoản 532- giảm giá hàng bán. đến cuối kỳ,
kết chuyển sang TK 511- doanh thu bán hàng để giảm trừ doanh thu. Tuy nhiên tại
Công ty DMC các nghiệp vụ kinh tế về giảm giá hàng bán là rất ít, kế toán không
phản ánh vào TK 532 mà coi đây là một khoản chi phí bán hàng và hạch toán vào
Nợ TK 641- Chi phí bán hàng.

1141/QĐ/CĐKT của BTC ban hành ngày 1/11/1995, TK cấp 2 của TK 641 được
chia theo các mục chi phí như: chi phí nhân viên, chi phí vật liệu, bao bì, chi phí
công cụ dụng cụ xuất dùng cho hoạt động bán hàng, chi phí khấu hao...
Như vậy việc chi tiết TK 641 và việc mở sổ chi tiết theo dõi cho từng sản
phẩm như hiện nay tại Công ty là không phù hợp với chế độ kế toán ban hành mà
nó chỉ phục vụ cho việc quản trị nội bộ trong Công ty mà thôi.
Ngoài ra việc chia chi phí bán hàng thành các mục chi phí còn gây khó khăn
cho cơ quan tài chính như cơ quan thuế, cơ quan kiểm toán kiểm tra tính hợp lý,
hợp pháp của chi phí phát sinh trong kỳ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status