CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC DOANH THU
TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY TNHH TƯ VẤN
KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN VIỆT NAM
3.1 Phương hướng phát triển của AVA với vấn đề hoàn thiện kiểm toán
khoản mục doanh thu
Với doanh thu hơn 8 tỷ VNĐ năm 2007, AVA đang là một trong những công
ty kinh doanh dịch vụ kiểm toán có tiềm năng nếu biết khai thác thị trường kiểm
toán trong nước và nâng cao chất lượng dịch vụ. Hơn nữa, thị trường kiểm toán
Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ trong khi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
mang đến không chỉ những cơ hội mà cả những thách thức và khó khăn.
Từ nay cho đến năm 2010, Công ty Tư vấn kế toán và Kiểm toán Việt Nam
có chiến lược mở rộng thị trường kiểm toán tới tất cả các tỉnh thành trên cả
nước, công việc trước mắt là thành lập văn phòng đại diện trong Thành phố Hồ
Chí Minh và Thành phố Đà Nẵng, đồng thời trở thành thành viên của một tổ
chức kiểm toán quốc tế. Bên cạnh đó, các công ty kinh doanh dịch vụ kiểm toán
của Việt Nam tăng nhanh về số lượng, mức độ cạnh tranh ngày càng trở nên gay
gắt. Hiện nay, các công ty kinh doanh dịch vụ kiểm toán đều đăng ký kinh
doanh dưới hình thức công ty Trách nhiệm hữu hạn, vì vậy, muốn nâng cao sức
cạnh tranh và hình ảnh của công ty trên thị trường kiểm toán cần nâng cao chất
lượng dịch vụ kiểm toán. Mặt khác, doanh thu là khoản mục trọng yếu của Báo
cáo tài chính, chỉ tiêu doanh thu có ý nghĩa quan trọng để xem xét, đánh giá về
hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, là căn cứ đánh giá khả năng sinh
lời từ hoạt động đầu tư của một doanh nghiệp. Vì vậy, vấn đề hoàn thiện các thủ
tục kiểm toán Báo cáo tài chính nói chung và hoàn thiện thủ tục kiểm toán
khoản mục doanh thu nói riêng là yêu cầu mang tính tất yếu đối với sự phát
triển của AVA trong tương lai.
Mỗi khoản mục được kiểm toán đều cần đảm bảo những mục tiêu chung và
mục tiêu kiểm toán đặc thù của khoản mục đó. Các cuộc kiểm toán trước khi
tiến hành đều cần được lập kế hoạch đầy đủ, kỹ lưỡng và chặt chẽ, phù hợp với
từng khách hàng. Quá trình kiểm toán là quá trình kiểm toán viên thực hiện các
thủ tục kiểm toán đã xây dựng để thu thập những bằng chứng có độ tin cậy làm
3.2 Các biện pháp hoàn thiện kiểm toán khoản mục doanh thu
Nội dung Rủi ro, trọng yếu Thủ tục phân tích Thủ tục kiểm tra chi tiết
Cơ sở lý luận và
thực tiễn
- Kết cấu, tính chất của rủi
ro, trọng yếu
- Những khả năng chứa
đựng sai sót
Công thức tính, nội dung,
tác dụng, mối liên hệ với
doanh thu của một số chỉ
tiêu tài chính
Sai sót thường tồn tại đối
với các loại doanh thu khác
nhau, phương pháp chọn
mẫu chứng từ
Phương pháp thực
hiện
Lập bảng đánh giá rủi ro,
trọng yếu cho khoản mục
doanh thu.
Lập bảng phân tích các
chỉ tiêu tài chính: vòng
quay khoản phải thu...
Các cách kiểm tra chi tiết
chứng từ kế toán doanh thu:
hóa đơn, báo cáo bán hàng..
Phương pháp chọn mẫu
kiểm toán
Điều kiện thực
Về mặt định tính, khoản mục doanh thu trong Báo cáo tài chính luôn mang
tính chất trọng yếu. Khi đó, đánh giá rủi ro và trọng yếu của khoản mục này
trong kiểm toán Báo cáo tài chính có vai trò rất quan trọng. Các công ty kiểm
toán và các kiểm toán viên cần thiết lập và thực hiện các thủ tục đánh giá rủi ro,
trọng yếu cho từng khoản mục của báo cáo tài chính.
3.2.1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn đánh giá rủi ro, trọng yếu khoản mục
doanh thu
Bước công việc đánh giá rủi ro, trọng yếu được thực hiện trong quá trình
lập kế hoạch kiểm toán. Ngay từ khi công ty kiểm toán xem xét để ký kết một
hợp đồng kiểm toán, nếu rủi ro kiểm toán quá lớn có ảnh hưởng đến việc cung
cấp dịch vụ kiểm toán cho khách hàng. Nếu hợp đồng kiểm toán được ký kết,
kiểm toán viên và công ty kiểm toán sẽ thực hiện tìm hiểu khách hàng và Hệ
thống kiểm soát nội bộ của khách hàng để ước lượng mức rủi ro, trọng yếu ban
đầu. Nhìn chung, quy trình đánh giá rủi ro, trọng yếu đối với khoản mục doanh
thu sẽ được thực hiện trong suốt quá trình thực hiện kiểm toán của cuộc kiểm
toán đó. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam cũng quy định việc đánh giá rủi ro,
trọng yếu của khoản mục doanh thu là một việc làm cần thiết.
Rủi ro kiểm toán được thiết lập theo công thức sau:
DR =
AR
IR × CR
Trong đó: AR là rủi ro kiểm toán
IR là rủi ro tiềm tàng
CR là rủi ro kiểm soát
DR là rủi ro phát hiện
Đối với tính trọng yếu, việc đánh giá mang tính trừu tượng hơn việc đánh
giá rủi ro kiểm toán. Nguyên nhân của điều này là: “Mức trọng yếu tuỳ thuộc
tầm quan trọng và tính chất của thông tin hay của sai sót được đánh giá trong
từng hoàn cảnh cụ thể”. Hơn nữa, giữa rủi ro kiểm toán và tính trọng yếu của
thông tin có mối quan hệ rất chặt chẽ và mật thiết. Vì vậy, quy trình đánh giá rủi
kinh nghiệm làm việc của kiểm toán viên
Kiểm toán viên có thể thực hiện đánh giá ban đầu về mức rủi ro, trọng yếu
theo hai hướng sau:
Hướng thứ nhất, kiểm toán viên ước lượng và tính toán mức rủi ro, trọng
yếu cho từng khoản mục, sau đó tổng hợp nên mức rủi ro, trọng yếu cho toàn bộ
Báo cáo tài chính
Hướng thứ hai, kiểm toán viên có thể bắt đầu bằng việc ước tính tổng sai
phạm trên toàn bộ báo cáo tài chính (báo cáo kết quả kinh doanh) sau đó phân
bổ cho từng khoản mục trên báo cáo, cụ thể là khoản mục doanh thu.
Đánh giá rủi ro
Kiểm toán viên có thể tiến hành lập bảng đánh giá rủi ro đối với khoản
mục doanh thu, trong đó rủi ro gồm hai loại là rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm
soát. Kiểm toán viên có thể đánh giá rủi ro tiềm tàng dựa trên số phát sinh
khoản mục doanh thu theo các yếu tố. Khi đánh giá rủi ro kiểm toán, kiểm toán
viên căn cứ bảng phản ánh mối quan hệ giữa các loại rủi ro như sau:
Đánh giá Rủi ro
TT
Đánh giá rủi ro kiểm soát
Cao Trung bình Thấp
Cao Thấp nhất Thấp Trung bình
Trung bình Thấp Trung bình Cao
Thấp Trung bình Trung bình Cao nhất
Bảng 3.3 Bảng phản ánh mối quan hệ giữa các loại rủi ro
Bảng đánh giá rủi ro tiềm tàng gồm các nội dung sau, biểu mẫu có thể tùy
thuộc vào kiểm toán viên thực hiện và phải được thể hiện trên giấy tờ làm việc:
- Quy mô số phát sinh của doanh thu;
- Số lượng nghiệp vụ phát sinh, mức độ phức tạp, số lượng các nghiệp vụ
bất thường;
- Sự thay đổi các chính sách kế toán liên quan tới khoản mục.
Ngoài ra, rủi ro kiểm toán còn phụ thuộc vào hoạt động của hệ thống kiểm
Có
Hệ thống kế toán
- Phát hành hoá đơn sai quy cách;
- Các nghiệp vụ phát sinh doanh thu thường tập trung vào
tháng 12→ Nhầm lẫn
- Khả năng hạch toán sai về tính chất tài khoản
Có
Có
Không
Thủ tục kiểm soát
- Việc phê duyệt, kiểm tra số liệu kế toán trước khi chạy số
liệu trên phần mềm;
- Kiểm tra việc tính toán (sử dụng phần mềm kế toán);
- Thực hiện đối chiếu kiểm kê nợ phải thu từng tháng
Không
Không
Không
Kết luận Rủi ro kiểm soát của công ty A ở mức Trung bình
NX: Kiểm tra chọn mẫu các nghiệp vụ ghi tăng doanh thu tháng 12 năm 2007
Bảng 3.4 Bảng đánh giá rủi ro kiểm soát công ty A cho doanh thu
- Lập bảng đánh giá rủi ro tiềm tàng :
Kiểm toán viên có thể đánh giá các sai sót tiềm tàng liên quan đến khoản
mục doanh thu của công ty A căn cứ vào Số liệu về doanh thu chưa kiểm toán
31/12/2007 với số liệu về doanh thu đã kiểm toán năm 2006. Căn cứ vào chênh
lệch giữa số lieuẹ đã kiểm toán năm 2006 và số liệu chưa kiểm toán năm 2007
đê xác định và đánh giá rủi ro tiềm tàng của khoản mục doanh thu. Về mặt định
tính, doanh thu là khoản mục chứa đựng nhiều rủi ro. Lập bảng sau:
Chỉ tiêu
Trước kiểm toán
31/12/07
viên, bao gồm cả việc đánh giá ảnh hưởng của các sai sót và gian lận trên báo
cáo tài chính. Kiểm toán viên có thể lựa chọn cơ sở nào đó ban đầu cho việc
ước lượng tính trọng yếu theo một tỷ lệ nhất định.
Mức trọng yếu được xác định cho toàn bộ báo cáo và phân bổ cho khoản
mục doanh thu theo cả hai chiếu hướng là doanh thu khai tăng và doanh thu
khai giảm. Sau đó, kiểm toán viên ước tính tổng sai sót cho khoản mục doanh
thu và đưa ra bằng chứng; ước tính tổng số sai sót có thể chấp nhận được; so
sánh ước tính sai sót với ước lượng ban đầu và đưa ra kết luận kiểm toán.
Công ty A:
Tại AVA, mức trọng yếu được quy định trong khoản mục doanh thu là
0.1% đến 0.8% doanh thu thuần báo cáo của doanh nghiệp. Căn cứ vào xét đoán
của mình, kiểm toán viên thực hiện lựa chọn mức trọng yếu cho khoản mục
doanh thu trên báo cáo tài chính công ty A là 0.1%. Nguyên nhân lựa chọn tỷ lệ
phần trăm mức trọng yếu là thấp nhất trong thang tỷ lệ quy định của AVA, đó là
công ty A có doanh thu lớn, Đối với Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ,
số liệu báo cáo trên Báo cáo kết quả kinh doanh ban đầu là 295.362.317.792
VNĐ. Từ đó, mức trọng yếu được xác định cho Doanh thu thuần bán hàng và
cung cấp dịch vụ công ty A:
Mức TY = 295.362.317.792 × 0.1% = 295.362.318 (VNĐ).
Khi đó, nếu tổng giá trị sai sót phát hiện lớn hơn 295.362.318 VNĐ, kiểm toán
viên yêu cầu khách hàng điều chỉnh.
Kiểm toán viên cần kết hợp thực hiện đánh giá kết hợp với việc đánh giá
rủi ro kiểm toán, nguyên nhân là do mối quan hệ mật thiết của hai yếu tố này
trong kiểm toán khoản mục doanh thu. Doanh thu là khoản muc chứa đựng
nhiều rủi ro, khi đó mức trọng yếu được xác định và phân bổ cho khoản mục
này sẽ thấp hơn các khoản mục khác, đồng thời số thử nghiệm cơ bản được thực
hiện sẽ tăng lên. Chẳng hạn, đối với công ty A, khi kiểm toán viên xác định việc
hạch toán doanh thu xây lắp rất phức tạp và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, hơn
nữa những công trình mà công ty A đang thi công là những công trình trọng
điểm với tổng mức đầu tư lớn thì việc kiểm tra toàn bộ hồ sơ công trình được