HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM VỚI VIỆC TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI TỔNG CÔNG TY THÉP VIỆT NAM - Pdf 76

HOÀN THIỆN KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM VỚI VIỆC TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI TỔNG
CÔNG TY THÉP VIỆT NAM
3.1. Mục tiêu phát triển và sự cần thiết phải hoàn thiện kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm với việc tăng cường quản trị chi phí tại Tổng
Công ty Thép Việt Nam
3.1.1. Mục tiêu phát triển của Tổng Công ty Thép Việt Nam
Ngành sản xuất thép ở Việt Nam đã được Đảng và Nhà nước quan tâm xây
dựng từ rất sớm. Tổng Công ty thép Việt Nam được thành lập theo Quyết định số
255/TTg ngày 29 tháng 4 năm 1995 của Thủ tướng Chính phủ. Từ khi ra đời cho
đến nay, Tổng Công ty Thép Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển và
thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng mà Đảng và Nhà nước đã giao phó.
Trong 5 năm 1995 - 1999, công tác đầu tư phát triển của Tổng công ty chủ
yếu tập trung cải tạo, nâng cao công suất các nhà máy hiện có, đẩy mạnh liên
doanh, liên kết với nước ngoài để tranh thủ vốn và công nghệ hiện đại. Đồng thời
chuẩn bị cho bước phát triển tiếp theo, Tổng công ty đã phối hợp với Tổ chức JICA
- Nhật Bản lập Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Thép Việt Nam đến năm 2010;
lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Nhà máy Thép liên hợp 4,5 triệu tấn/năm tại
Hà Tĩnh bằng vốn ODA của Nhật Bản và lập các báo cáo tiền khả thi, báo cáo khả
thi một số dự án khác.
Giai đoạn 2000 đến 2004, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số
134/2001/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Thép Việt Nam
đến năm 2010. Nội dung chính là “phát triển ngành thép trở thành một trong những
ngành công nghiệp trọng điểm của nền kinh tế; thoả mãn ngày càng cao nhu cầu
tiêu dùng trong nước, tiến tới xuất khẩu; đẩy mạnh sản xuất, tạo nhiều việc làm,
góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.
Mục tiêu của ngành Thép đến năm 2010, sản xuất phôi thép tăng bình quân
15%/năm; sản xuất thép cán tăng bình quân 10%/năm.
Trong 10 năm (1995 - 2004), Tổng công ty đã có nhiều đóng góp cho nền
kinh tế đất nước. Tổng công ty và các đơn vị thành viên triển khai thực hiện 157 dự
án đầu tư cải tạo và đầu tư mới với tổng vốn là 6.600,5 tỷ đồng

ty mẹ - công ty con, từng bước xác lập và hình thành Tập đoàn Thép Việt Nam,
kinh doanh đa ngành trên cơ sở sản xuất và kinh doanh thép làm nền tảng; có các
loại hình công ty Nhà nước, công ty cổ phần, công ty liên doanh và công ty TNHH.
3. Trong giai đoạn 5 năm 2006-2010, phấn đấu sản lượng thép cán tăng
trưởng bình quân 10-15%/năm (thép cán đạt 50% thị phần thép cả nước); phôi thép
cơ bản đáp ứng nhu cầu cho sản xuất của Tổng công ty và đáp ứng một phần nhu
cầu về thép chất lượng cao, thép dự ứng lực cho nền kinh tế. Đầu tư đổi mới công
nghệ, đưa trình độ công nghệ của Tổng công ty đạt mức tiên tiến chung của khu
vực, đảm bảo khả năng cạnh tranh của các sản phẩm thép tại thị trường trong nước
và quốc tế.
4. Tiếp tục đầu tư chiều sâu, mở rộng sản xuất, nâng cao trình độ công nghệ
các cơ sở hiện có; đầu tư mở rộng Công ty Gang thép Thái Nguyên giai đoạn II để
đạt công suất 75 vạn tấn phôi thép/năm; tiếp tục đầu tư Nhà máy cán Thép Đà
Nẵng 25 vạn tấn/năm; đầu tư liên doanh khai thác mỏ quặng sắt Quý Xa và liên
hợp luyện kim Lào Cai; đầu tư Nhà máy Thép Phú Mỹ II, công suất 50 vạn tấn
phôi thép/năm; đầu tư dự án Nhà máy phôi thép phía Bắc, công suất 50 vạn tấn
phôi thép/năm; đầu tư mở rộng Công ty Thép Tấm lá Phú Mỹ nâng công suất lên
60 đến 65 vạn tấn/năm; đầu tư dự án Nhà máy thép tấm cán nóng 1,5 -2 triệu
tấn/năm. Tích cực chuẩn bị để triển khai đầu tư khai thác Mỏ quặng sắt Thạch Khê
và Nhà máy thép liên hợp 4,5 triệu tấn/năm vào cuối kế hoạch 5 năm 2006-2010.
3.1.2. Sự cần thiết phải hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm với việc tăng cường quản trị chi phí tại Tổng Công ty Thép Việt
Nam
Ngành công nghiệp sản xuất thép là một trong những ngành công nghiệp
mũi nhọn của nền kinh tế. Đứng trước những khó khăn và thuận lợi của việc hội
nhập kinh tế quốc tế, để giữ vững vai trò là ngành công nghiệp chủ lực góp phần
vào công cuộc phát triển chung của đất nước, giải quyết công ăn việc làm, tạo động
lực phát triển cho các ngành khác, các doanh nghiệp sản xuất thép rất cần phải
hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm với việc
tăng cường quản trị chi phí. Điều này xuất phát từ những lý do sau:

3.2.1. Yêu cầu cơ bản
Việc hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm với việc
tăng cường quản trị chi phí tại các Công ty thuộc Tổng Công ty Thép Việt Nam
phải đảm bảo được các yêu cầu cơ bản sau:
Thứ nhất, nội dung hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm với việc tăng cường quản trị chi phí phải phù hợp với những chuẩn mực kế
toán trong nước và quốc tế, phải đảm bảo tuân thủ chế độ chính sách về tài chính,
kế toán hiện hành.
Thứ hai, nội dung hoàn thiện phải phù hợp với điều kiện và nhu cầu quản lý
thực tế tại các Công ty về trình độ, năng lực cán bộ quản lý, nhân viên kế toán,
định hướng phát triển của Tổng Công ty Thép nói cbung và của các doanh nghiệp
nói riêng.
Thứ ba, nội dung hoàn thiện phải đảm bảo mang lại những thông tin hiệu
quả, nhanh chóng, chính xác phục vụ công tác kế toán tài chính và công tác kế toán
quản trị để các nhà quản lý kịp thời ra các quyết định kinh doanh.
Thứ tư, nội dung hoàn thiện phải phù hợp với yêu cầu của các nhà quản trị
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, không làm ảnh hưởng quá nhiều đến hoạt
động sản xuất kinh doanh và cơ cấu tổ chức bộ máy doanh nghiệp.
Thứ năm, nội dung hoàn thiện phải đơn giản, thuận tiện cho người thực hiện
cũng như người sử dụng thông tin, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những nội dung
đã có, xây dựng những nội dung mới cho phù hợp.
Cuối cùng, nội dung hoàn thiện phải đảm bảo tiếp thu có chọn lọc những
kinh nghiệm về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm với việc tăng
cường quản trị chi phí ở các nước trên thế giới và có thể vận dụng được vào điều
kiện thực tiễn của Việt Nam.
3.2.2. Phương hướng hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm với việc tăng cường quản trị chi phí tại Tổng Công ty Thép Việt Nam
Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm với việc tăng
cường quản trị chi phí tại Tổng Công ty Thép Việt Nam cần được thực hiện theo
hướng sau:

hỏng, hoả hoạn bất chợt…).
Thiệt hại của những sản phẩm này không được chấp nhận nên chi phí của
chúng không được cộng vào chi phí sản xuất chính phẩm mà thường được xem là
khoản phí tổn thời kỳ, phải trừ vào thu nhập (sau khi trừ các khoản thu hồi, bồi
thường của người phạm lỗi - nếu có). Vì thế, cần thiết phải hạch toán riêng giá trị
thiệt hại của những sản phẩm ngoài định mức và xem xét từng nguyên nhân gây ra
sản phẩm hỏng để có biện pháp xử lý. Toàn bộ giá trị thiệt hại có thể theo dõi riêng
trên tài khoản 1381 (chi tiết sản phẩm hỏng ngoài định mức), sau khi trừ đi số phế
liệu thu hồi và bồi thường (nếu có), thiệt hại thực về sản phẩm hỏng sẽ được tính
vào giá vốn hàng bán hay chi phí khác hoặc trừ vào quỹ dự phòng tài chính…
Cách xác định chi phí thiệt hại về sản phẩm hỏng:
Để đơn giản và thuận lợi trong việc xác định chi phí thiệt hại về sản phẩm
hỏng, các doanh nghiệp có thể sử dụng chi phí định mức. Trước khi tiến hành sản
xuất, doanh nghiệp phải xác định được chi phí định mức cho mỗi loại sản phẩm,
đơn hàng theo từng công đoạn sản xuất. Như vậy, khi phát sinh sản phẩm hỏng, kế
toán sẽ tính được thiệt hại về sản phẩm hỏng bằng cách lấy số sản phẩm hỏng nhân
với chi phí định mức sản xuất sản phẩm hỏng ở từng công đoạn. Cuối kỳ, kế toán
tập hợp toàn bộ chi phí sản phẩm hỏng ở tất cả các công đoạn để tiến hành hạch
toán.
Phương pháp kế toán thiệt hại về sản phẩm hỏng:
• Thiệt hại về sản phẩm hỏng trong định mức: bao gồm giá trị sản phẩm hỏng không
sửa chữa được và phần chi phí sửa chữa sản phẩm tái chế trừ đi giá trị phế liệu thu
hồi (nếu có). Toàn bộ thiệt hại này tính vào chi phí sản xuất sản phẩm và được
hạch toán như đối với chính phẩm.
• Đối với giá trị thiệt hại của những sản phẩm ngoài định mức: kế toán phải theo dõi
riêng, đồng thời xem xét từng nguyên nhân gây ra sản phẩm hỏng để có biện pháp
xử lý phù hợp.
- Khi phát sinh chi phí sản phẩm hỏng ngoài định mức, kế toán ghi:
Nợ TK 1381
Có TK 152, 153, 334, 338, 241

Nợ TK 811 - Tổn thất ngừng sản xuất
Có TK 142 - Chi phí thiệt hại ngừng sản xuất
3.3.3. Hoàn thiện hạch toán trích trước tiền lương công nhân nghỉ phép
Trong các doanh nghiệp sản xuất thép, số lượng công nhân làm việc rất lớn
nên thường xảy ra tình trạng số lượng công nhân nghỉ phép tập trung nhiều vào
một thời điểm nào đó. Nếu không hạch toán trích trước khoản tiền lương này sẽ
làm ảnh hưởng tới chi phí phát sinh trong tháng. Vì vậy, các doanh nghiệp nên tiến
hành trích trước tiền lương công nhân nghỉ phép và hàng tháng đưa vào giá thành
sản phẩm coi như một khoản chi phí phải trả, cụ thể:
Mức trích trước tiền lương nghỉ
phép của CNSX theo kế hoạch =
Tiền lương chính thực tế phải trả
CN trực tiếp SX trong tháng x
Tỷ lệ
trích trước
Tỷ lệ trích trước được xác định dựa vào kinh nghiệm quản lý lao động nhiều
năm ở mỗi Công ty.
Khi tiến hành trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân, kế toán ghi
bút toán:
Nợ TK 622 – Chi tiết theo đối tượng
Có TK 335
Số tiền lương nghỉ phép thực tế phải trả được hạch toán như sau:
Nợ TK 335
Có TK 334, 338
Kinh nghiệm quản lý cho thấy, tùy theo tình hình và điều kiện mỗi công ty
mà tỷ lệ trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân có thể nằm trong khoảng
1% - 9% tổng quỹ lương toàn công ty.
3.4. Nội dung và giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm với việc tăng cường quản trị chi phí tại Tổng Công ty
Thép Việt Nam

trong cùng một bộ máy kế toán doanh nghiệp. Việc ghi chép, phản ánh, xử lý và
truyền đạt thông tin được tính đến cả mục đích của kế toán tài chính và kế toán
quản trị nhằm thoả mãn nhu cầu thông tin kế toán cho cả đối tượng bên ngoài và
bên trong doanh nghiệp.
Mô hình tổ chức bộ máy kế toán doanh nghiệp kết hợp giữa kế toán tài chính
và kế toán quản trị được mô tả theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 3.01: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán doanh nghiệp
Chức năng của từng bộ phận trong bộ máy kế toán trong mô hình:
- Bộ phận kế toán vốn bằng tiền và thanh toán: thực hiện hạch toán chi tiết và
tổng hợp các nghiệp vụ về vốn bằng tiền và công nợ phải thu, phải trả, lập dự toán
thu – chi tiền.
- Bộ phận kế toán vật tư, hàng hoá, tài sản cố định: có nhiệm vụ hạch toán
chi tiết, tổng hợp sự biến động của vật tư, hàng hoá, tài sản cố định; lập dự toán
mua hàng, thực hiện thu thập thông tin chi tiết về vật tư, hàng hoá, tài sản cố định;
theo dõi các nghiệp vụ khấu hao và sửa chữa tài sản cố định; lập các báo cáo kế
toán quản trị về vật tư, hàng hoá, tài sản cố định; phân tích tình hình thu mua, bảo
quản, dự trữ, sử dụng vật tư, hàng hoá, tình hình tăng - giảm tài sản cố định.
- Bộ phận kế toán tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công
đoàn: thực hiện nhiệm vụ hạch toán chi tiết, tổng hợp tiền lương, theo dõi thanh
toán tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn với người lao
động; tham gia lập dự toán nhân công trực tiếp; cung cấp tài liệu để lập dự toán chi
Kế toán trưởng
Bộ phận kế
toán thuế
Bộ phận kế
toán, vật tư,
hàng hoá,
TSCĐ
Bộ phận kế
toán tiền

- Bộ phận kế toán thuế: thực hiện kê khai các loại thuế và phân tích các ảnh
hưởng của các quyết định liên quan đến các luật thuế.
- Bộ phận tổng hợp, kiểm tra và tư vấn:
Gồm hai nhóm sau:
+ Nhóm kế toán tổng hợp (phần việc tổng hợp của kế toán tài chính): thực
hiên nhiệm vụ tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm; lập báo cáo chi
phí sản xuất, báo cáo giá thành sản phẩm thực hiện; thực hiện kiểm tra, đối chiếu
số liệu liên quan đến kế toán tài chính của các bộ phận kế toán khác; tổng hợp hoàn
chỉnh số liệu và lập báo cáo tài chính.
+ Nhóm tổng hợp, phân tích và tư vấn (phần việc của kế toán quản trị): thực
hiện nhiệm vụ lập dự toán sản xuất, dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự
toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất chung; tổ chức phân tích
sự biến động chi phí sản xuất như phân tích chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi
phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung; lập hệ thống dự toán ngân sách của
doanh nghiệp; phân tích tình hình thực hiện dự toán qua đó đánh giá kết quả hoạt
động của các bộ phận trong doanh nghiệp; phân tích và tìm hiểu nguyên nhân gây
chênh lệch giữa các kết quả thực tế với số liệu dự toán về các chỉ tiêu chi phí,
doanh thu, lợi nhuận, trên cơ sở đó lập báo cáo phân tích về tình hình thực hiện dự
toán cho từng bộ phận; phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận
nhằm cung cấp thông tin thích hợp, kịp thời cho các nhà quản trị doanh nghiệp ra
quyết định trong quản lý doanh nghiệp cũng như đề ra các chiến lược kinh doanh
trong ngắn hạn.
3.4.2. Mối liên hệ thông tin cung cấp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị
Giữa các bộ phận kế toán trong bộ máy kế toán cần xây dựng mối quan hệ
chặt chẽ trong việc thu nhận và cung cấp thông tin lẫn nhau kể cả thông tin kế toán
tài chính và kế toán quản trị nhằm hoàn chỉnh hệ thống thông tin kế toán. Mối quan
hệ này được thể hiện:
Nhóm tổng hợp, phân tích và tư vấn (phần việc của kế toán quản trị) được
nhóm kế toán tổng hợp của kế toán tài chính cung cấp các báo cáo thực hiện, cũng
như các thông tin khác làm cơ sở xây dựng các bảng dự toán cho hoạt động sản

các quyết định hợp lý.
Để có được các thông tin có giá trị làm cơ sở cho việc tổng hợp, lập báo cáo
sử dụng cho hoạt động quản trị, việc đầu tiên đòi hỏi các doanh nghiệp phân biệt rõ
ràng và nhận diện được các cách phân loại chi phí. Trên mỗi góc độ nhà quản trị
cần những thông tin khác nhau về chi phí sản xuất. Việc đa dạng hoá phân loại chi
phí sản xuất trong các doanh nghiệp liên doanh sản xuất xe máy là cần thiết nhằm
đáp ứng yêu cầu của kế toán chi phí phục vụ nhà quản trị doanh nghiệp. Vì mỗi
phương pháp phân loại chi phí đều có ý nghĩa và tác dụng đến hoạt động quản trị.
Phân loại chi phí theo yếu tố sản xuất: Muốn phân tích, đánh giá tình hình
thực hiện các dự toán chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố nhà quản trị cần phải
xác định được từng yếu tố chi phí sản xuất, do đó phải tiến hành phân loại chi phí
theo yếu tố. Theo cách này các chi phí cần theo dõi riêng cho từng sản phẩm, giai
đoạn của sản phẩm.
Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí: Nhằm mục đích cung cấp
thông tin phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm tra và chủ động điều tiết chi phí cho
phù hợp, chi phí thường được phân loại theo thành biến phí, định phí và chi phí
hỗn hợp; nghĩa là căn cứ vào các thông tin do kế toán quản trị cung cấp, các nhà
quản trị sẽ thấy được sự biến động của chi phí có phù hợp hay không với sự biến
động của mức độ hoạt động và từ đó có các biện pháp hữu hiệu nhằm quản lý các
chi phí.
Theo cách ứng xử của chi phí, chi phí phát sinh trong các Công ty thuộc
Tổng Công ty Thép Việt Nam được phân loại như sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status