Tình hình thực tế tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính gía
thành sản phẩm xây lắp ở đội thi công số 3_Công ty xây dựng Ngân hàng
2.1 Một số đặc điểm chung của Công ty Xây dựng Ngân hàng
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Xây dựng Ngân hàng :
Ngân hàng Nhà nước Việt nam với nhiệm vụ chủ yếu là Xây dựng và cải tạo
công trình Trụ sở Nhà làm việc kiêm kho trong ngành Ngân hàng .
Công ty Xây dựng Ngân hàng trước ngày thành lập nguyên là Ban Xây dựng
trực thuộc Cục Tài vụ của Ngân hàng Trung ương. Ban xây dựng được thành lập
vào tháng 7/1971 theo Quyết định số 218/QĐ-NH do Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước Việt nam ký với nhiệm vụ chính là sửa chữa và xây dựng những kho tàng nhà
cửa trong ngành. Ngay từ khi thành lập Ban Xây dựng Ngân hàng đã có tới 38
nhân viên và công nhân với một phòng tài vụ dưới sự lãnh đạo của Cục phó và một
trưởng ban.
Từ năm 1971-1977, cùng với sự phát triển của cả ngành Ban xây dựng cũng
đã có sự phát triển cao hơn như xây dựng nhà cửa kho tàng và sản xuất các loại
bao bì phục vụ cho ngành Ngân hàng. Lúc này Ban Xây dựng có khoảng 50 nhân
viên. Cơ cấu tổ chức của ban bao gồm : Một trưởng ban, một phó ban, đội nề, đội
mộc, phòng vật tư, phòng tổ chức. Mỗi đội, mỗi phòng đều có một đội trưởng hoặc
trưởng phòng.
Đến năm 1978, theo Quyết định số114/QĐ-NH ngày 9/10/1978 do Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước ký thành lập “Công ty xây lắp Ngân hàng” từ Ban xây
dựng Ngân hàng. Ban lãnh đạo Công ty Xây dựng Ngân hàng lúc đó gồm có một
Chủ nhiệm, hai Phó Chủ nhiệm, các phòng ban có :
+ Phòng kỹ thuật + 1 đội xe
+ Phòng vật tư + 2 đội nề
1 1
+ Phòng tài vụ + 1 đội mộc
+ Phòng hành chính
Tổng số cán bộ công nhân viên của Công ty lúc đó có 84 người. Nhiệm vụ
chủ yếu của Công ty Xây dựng Ngân hàng vẫn là xây dựng và sửa chữa kho tàng
cho hàng năm bằng việc xây dựng các nội quy, quy chế nội bộ nhưng vẫn tuân thủ
pháp luật để nhằm góp phần thúc đẩy tiến độ xây dựng và sự phát triển lớn mạnh
của toàn công ty. Đồng thời giữ vững an ninh trật tự và an toàn xã hội tại các đơn
vị cũng như tại các địa phương mà Công ty đang tham gia thi công xây dựng các
hạng mục công trình... Tốc độ phát triển của Công ty không ngừng tăng lên, hiệu
quả năng suất chất lượng cũng như thu nhập bình quân năm sau cao hơn năm
trước. Đến nay về nhân lực Công ty Xây dựng Ngân hàng đã có một đội ngũ cán
bộ công nhân giỏi, vững vàng tinh thông về nghề nghiệp, có khả năng tham gia đấu
thầu và xây dựng tất cả các hạng mục công trình vừa và nhỏ có chất lượng cao.
Hiện nay số công nhân viên trong Công ty là 250 người, trong đó lao động nữ là 70
người và lao động nam là 180 người. Bọ máy hành chính của Công ty có 25 người,
bộ máy chỉ đạo sản xuất có 17 người và công nhân trực tiếp sản xuất là 208 người.
Ngoài ra tuỳ theo yêu cầu công việc và tiến độ thi công Công ty còn thuê thêm
công nhân trực tiếpsản xuất.
Công ty tổ chức thi công trình bất kể lớn nhỏ hết sức gọn gàng, khoa học, thi
công đến đâu, những phần việc như thế nào đều được các cán bộ kỹ thuật giám sát
thi công thường xuyên thông báo với ban chỉ huy công trình nắm được để chuẩn bị
vốn và vật tư kịp thời cho từng hạng mục. Khi bắt đầu khởi công xây dựng, ngoài
những việc như hoàn thành các bản thiết kế, trắc địa, điện, nước sinh hoạt ... Công
ty hết sức chú trọng đến nơi ăn, chốn ở cho công nhân viên nên đã xây lán trại để
cho công nhân nghỉ, kho tàng tập kết vật tư . Đối với vật tư phục vụ cho việc xây
dựng phần thô như: cát, gạch, xi măng ... Công ty làm các bệ cao để tập kết và có
3 3
mái che cẩn thận. Đối với các loại vật tư phục vụ cho việc hoàn thiện công trình
như thiết bị vệ sinh, đèn trang trí ... có kho tàng cất giữ. Tất cả các loại vật tư đều
được đưa đến tận chân công trình làm đến đâu mua đến đó tránh tình trạng ứ đọng
vốn để phục vụ các công trình tiếp theo.
Tình hình trả lương cho cán bộ công nhân viên phục vụ công trình cũng như
B phụ (các đơn vị ký hợp đồng cung cấp nhân lực cho Công ty mang tính chất thời
vụ) rất đúng thời gian quy định. Trong suốt quá trình hình thành và phát triển của
3. Lợi tức gộp (1 - 2) 2.800.648.738 2.066.359.092
4. Chi phí quản lý Doanh nghiệp 1.726.433.374 1.034.559.297
5. Lợi nhuận từ hoạt động KD (3 - 4) 1.074.215.364 1.031.799.795
6. Thu nhập từ hoạt động TC (3.540.947) 6.626.502
7. Tổng lợi nhuận trước thuế 1.070.674.417 1.038.426.297
8. Thuế thu nhập doanh nghiệp 267.668.604 332.296.410
9. Lợi tức sau thuế 803.005.813 706.129.887
Số liệu được lấy từ Phòng KT - TV tháng 1 năm 2001
2.1.2. Đặc điểm tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý sản xuất của Công ty Xây dựng
Ngân hàng :
Hiện nay Công ty gồm năm đội thi công. Là một Công ty có quy mô địa bàn
hoạt động rộng nên việc tổ chức lực lượng lao động thành các đội thi công tạo
điều kiện thuận lợi cho Công ty trong việc quản lý và phân công lao động ở nhiều
điểm thi công khác nhau với nhiều công trình khác nhau một cách có hiệu quả.
Từ trước ngày 1/1/1995, Công ty tổ chức hạch toán kế toán phân tán, các đội
thi công tổ chức hạch toán riêng, các công tác kế toán từ xử lý chứng từ ban đầu
đến lập báo cáo kế toán gửi về Công ty do bộ phận kế toán các đội thi công thực
hiện trên cơ sở đó Phòng kế toán Công ty tập hợp báo cáo chung toàn Công ty.
5 5
Từ 1/1/1995 đến nay Công ty tổ chức hạch toán kế toán vừa tập trung phân tán,
đảm
bảo hạch toán chính xác kịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Tổng hợp và đưa
ra các báo cáo chính xác kịp thời.
Cơ cấu bộ máy của Công ty gồm : một Giám đốc, ba Phó Giám đốc, các
phòng chức năng và các đội trực thuộc.
- Ban Giám đốc làm việc trên nguyên tắc tập trung dân chủ. Giám đốc Công
ty là người chịu trách nhiệm trước Nhà nước và Ngân hàng Nhà nước Việt nam về
mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong Công ty như : Kế hoạch, tài vụ, tổ chức
lao động .v.v... Đồng thời Giám đốc Công ty còn là người trực tiếp chỉ đạo phòng
Kế toán tài vụ, chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của toàn công ty...
sản xuất. Nghiên cứu các văn bản hướng dẫn cũng như định mức giá cả của Bộ xây
dựng ban hành, hướng dẫn các đơn vị sản xuất quyết toán công trình nhanh chóng.
Đồng thời đây cũng là bộ phận thực hiện nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật nhằm đổi mới công nghệ kỹ thuật sản xuất thi công xây dựng, giảm quỹ thời
gian, tăng năng suất lao động, khối lượng và hiệu quả công việc.
+ Phòng kế toán tài vụ là bộ phận có nhiệm vụ giúp Giám đốc Công ty thực
hiện những quy định trong điều lệ tổ chức hạch toán kế toán Nhà nước, hướng dẫn
các đơn vị sản xuất thực hiện nghiệp vụ công tác kế toán - tài vụ, hạch toán thống
kê ở mỗi đội sản xuất để báo cáo kịp thời số liệu cũng như tính hợp pháp của
chứng từ sổ sách kế toán. Cung cấp vốn kịp thời đầy đủ theo kế hoạch của từng
công trình mà các đơn vị sản xuất yêu cầu khi có xác nhận khối lượng thi công.
Hàng tháng Phòng kế toán tài vụ phải tổ chức kiểm tra đối chiếu các chứng từ kế
toán, nguồn thu công nợ v.v... Thu hồi vốn nhanh chóng đầy đủ sau khi quyết toán
được duyệt, xây dựng kế hoạch tài chính sử dụng vốn phát triển sản xuất có hiệu
7 7
quả. Chịu trách nhiệm thực hiện chế độ báo cáo tài chính theo định kỳ, theo dõi và
thanh toán các hợp đồng kinh tế.
+ Bộ phận sản xuất của Công ty gồm 208 công nhân và các cán bộ kỹ thuật
được chia làm năm đội nề. Đây là bộ phận kết hợp với phòng kế hoạch kỹ thuật để
chọn ra phương án sản xuất thi công xây dựng tối ưu và có hiệu quả nhất. Trong
mỗi đội công nhân đều có thể vừa phục vụ sản xuất chính vừa có thể trực tiếp tham
gia thi công xây dựng đảm bảo đúng tiến độ thi công chất lượng và thiết kế công
trình.
ở mỗi phòng ban có một trưởng phòng và một phó phòng, mỗi đội sản xuất
đều có một đội trưởng và hai đội phó. Với cơ cấu tổ chức bộ máy như thế là tương
đối phù hợp với quy mô sản xuất của Công ty và đã có sự phân công trách nhiệm
rõ ràng của từng người, từng bộ phận đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh
được tiến hành thuận lợi. Dưới đây là sơ đồ bộ máy quản lý và tổ chức sản xuất
của công ty xây dựng Ngân hàng
SƠ Đồ 2.2: sơ đồ bộ máy quản lý và tổ chức sản xuất
sản xuất trong doanh nghiệp xây dựng. Các công trình xây dựng thường có quy mô
lớn, kết cấu phức tạp, sản phẩm đơn chiếc, thời gian thi công lâu dài đòi hỏi một
quy mô lớn các yếu tố đầu vào. Các công trình xây dựng đều đòi hỏi phải lập dự
toán công trình. Các công trình xây dựng cố định tại nơi sản xuất nên chịu ảnh
hưởng của nơi đặt công trình như địa hình, thời tiết, giá cả, thị trường. Các điều
kiện sản xuất như máy móc thiết bị, người lao động... phải di chuyển tới địa điểm
sản xuất, điều này làm cho công tác quản lý sử dụng tài sản của Công ty rất khó
khăn. Công tác tổ chức quản lý sản xuất của Công ty luôn tuân theo quy trình công
nghệ xây lắp sau :
SƠ Đồ 2.3: SƠ Đồ CÔNG tác tổ chức quản lý sản xuất của
Công ty Xây dựng Ngân hàng
Mua vật tư,
tổ chức nhân công
Nghiệm thu
bàn giao
công trình
Nhận thầu
Tổ chức
thi công
Lập kế hoạch
thi công
10 10
2.1.3. Đặc điểm quy trình công nghệ và kỹ thuật sản xuất:
2.1.3.1 .Quy trình công nghệ sản xuất :
Không giống như các nghành sản xuất khác là có một giây chuyền sản xuất
cụ thể và cố định. Trong xây dựng quy trình công nghệ sản xuất bao gồm nhiều
công đoạn phức tạp khác nhau như: Công tác thi công, giải phóng mặt bằng, san
lấp, khảo sát, định vị địa hình,công tác bê tông, đóng cọc,cốt thép vv... Trong mỗi
công đoạn lại có sự đòi hỏi phức tạp riêng của nó, phải tiến hành thực hiện như thế
nào để tạo ra một sản phẩm, một hạng mục đáp ứng đúng với yêu cầu kết cấu và
+ Công đoạn 6: Bàn giao nghiệm thu
Sau khi hoàn thiện toàn bộ công trình các bên sẽ tiến hành bàn giao nghiệm
thu và quyết toán công trình theo phương thức” chìa khoá trao tay”.
Như vậy trong quy trình công nghệ của Công ty từ công đoạn đầu đến khi
hoàn thiện, nghiệm thu công trình đều phải có sự giám sát chặt chẽ của cán bộ kỹ
thuật để công trình đáp ứng được với yêu cầu về kiến trúc và chất lượng công
trình.
2.1.3.2.Đặc điểm về máy móc thiết bị
12 12
Do đặc điểm và nhiệm vụ của Công ty là nghành xây dựng cơ bản, chủ yếu
là tham gia thi công xây dựng sửa chữa và đấu thầu các công trình vừa và nhỏ nên
máy móc thiết bị của Công ty tương đối đa dạng, phong phú cả về chủng loại, chất
lượng và số lượng. Hiện nay Công ty đang quản lý một lượng tài sản máy móc
thiết bị lớn bao gồm ô tô, máy cẩu, các loại máy chuyên dụng để phục vụ sản xuất
thi công vv...
Trong những năm tới việc đâu tư các phương tiện thiết bị máy móc hiện đại
sẽ được Công ty tăng cường hơn nữa để phục vụ cho qúa trình thi công xây dựng
nhằm tăng năng suất chất lượng và tiến độ công trình rút ngắn thời gian thi công và
tiết kiệm chi phí nhân công, thuê máy móc vv...Số lượng và tình trạng cơ cấu máy
móc thiêt bị của Công ty được thể hiện qua bảng dưới đây: Bảng
2.5:
STT Loại máy móc thiêt bị Số lượng
Hệ số
sử dụng
%
1 Xe ô tô các loại(5-12 tấn) 3 75
2 Cần cẩu trục 2 75
3 Máy cày, máy ủi 1 70
4 Máy trộn bê tông 4 75
5 Máy trộn vữa 4 70
động của tài sản, quá trình hình thành và sử dụng vât tư tiền vốn, kiểm tra kế hoạch
sản xuất kinh doanh, thực hiện tốt công tác thu nộp Ngân sách và thanh toán công
nợ, giữ gìn và bảo vệ các loại tài sản vật tư tiền vốn giúp cho lãnh đạo chỉ đạo các
hoạt động tài chính của đơn vị. Công ty Xây dựng Ngân hàng là đơn vị trực thuộc
Ngân hàng Nhà nước Việt nam nhưng là Công ty Xây dựng nên một mặt nào đó
vẫn phải tuân thủ hạch toán theo Bộ Tài chính và Bộ Xây dựng.
Với các Đội sản xuất, hàng tháng phải gửi báo cáo và các chứng từ có liên
quan về phòng tài vụ để kiểm tra đôn đốc thu nợ khách hàng kịp thời.
14 14
SƠ Đồ 2.6: sơ đồ phòng kế toán tại Công ty Xây dựng Ngân hàng
Chức năng của các bộ phận như sau:
* Kế toán trưởng( đồng thời là trưởng phòng kế toán )chịu trách nhiệm tổ
chức lãnh đạo mọi hoạt động của Phòng Kế toán, lập báo cáo tài chính chung
cho toàn Công ty. Kế toán trưởng điều hành theo điều lệ của Nhà nước đồng
thời là kiểm soát viên về kinh tế tài chính của Nhà nước đặt tại Công ty giúp
việc cho Giám đốc điều hành toàn bộ công tác nghiệp vụ .
*Bộ phận quỹ:Theo dõi, thanh toán các khoản tạm ứng; kiểm soát và thanh
toán theo các chứng từ về mặt số học và tính đúng đắn của chứng từ. Viết
phiếu thu, phiếu chi cho các nghiệp vụ có chứng từ đầy đủ hợp lệ.
* Kế toán tiền gửi Ngân hàng:
Chịu trách nhiệm kiểm soát việc thu, chi qua Ngân hàng, kiểm soát tính hợp
lý, hợp lệ của các chứng từ thanh toán qua Ngân hàng. Hàng ngày thực hiện đối
15
Kế toán các Đội
sản xuất
Kế toán chi trả
lương, BHXH
Kế toán tổng
hợp
Kế toán thanh
SỔ, THẺ
KẾ TOÁN CHI
SỔ NHẬT
KÝ ĐẶC
BẢNG TỔNG
HỢP
SỔ CÁI
16
Ghi chú :
2.1.6 Những khó khăn, thuận lợi, khả năng và xu hướng phát triển của
doanh nghiệp.
Công ty Xây dựng Ngân hàng là một Doanh nghiệp Nhà nước hạch toán
kinh tế độc lập, tuy nhiều mặt còn chịu sự chỉ đạo quản lý của Nhà nước cũng như
sự chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt nam. Nhưng Công ty đã xây dựng được
mô hình quản lý và hạch toán hợp lý phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị
trường, chủ động trong hoạt động kinh doanh từ công việc hạch toán ban đầu, việc
kiểm tra hợp lý, hợp lệ các chứng từ được tiến hành cẩn thận, đảm bảo hạch toán
có căn cứ pháp lý tránh được sự phản ánh sai lệch nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Việc
lập và luân chuyển chứng từ theo đúng chế độ hoàn thành cung cấp khá kịp thời số
liệu cho kế toán nhật ký chung làm nhiệm vụ cập nhật.
Với bộ máy quản lý gọn nhẹ, các phòng ban chức năng đủ đáp ứng yêu cầu
chỉ đạo và kiểm tra các hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty đã đảm bảo quản
lý và hạch toán các yếu tố chi phí của quả trình sản xuất một cách tiết kiệm và có
hiệu quả. Cụ thể Công ty đã quản lý lao động có trọng tâm và luôn động viên
khuyến khích đối với người lao động có tay nghề cao. Ngoài ra, Công ty còn chia
17
BẢNG CÂN ĐỐI
SỐ PHÁT SINH
BÁO CÁO TÀI
Ghi hàng ngày
duyệt chậm, là doanh nghiệp trực thuộc lên nhiều khi bị gò bó bởi các chính sách
của nhà nước không thông thoáng.Hơn nữa các công trình mà Công ty tham gia thi
công xây dựng thường là ở xa và phân tán do đó phải mất một thời gian khá lớn
cho việc đi lại, vận chuyển máy móc thiết bị đến chân công trình.
Các đội thi công xây dựng thường là ở ngoài trời nên năng suất và tiến độ thi
công phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và điều kiện của địa phương nơi
Công ty tham gia thi công.
Công nghệ sản xuất thi công phức tạp nên đã làm cho công tác định mức gặp
rất nhiều khó khăn, đòi hỏi những người làm công tác này phải thường xuyên theo
dõi đánh giá chất lượng lao động ở từng công việc để giúp cho công tác định mức
được chính xác và hiệu quả hơn.
2.2. Thực trạng về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
xây lắp ở Đội thi công số 3- Công ty Xây dựng Ngân hàng
Là một đơn vị trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt nam nên Công ty Xây
dựng Ngân hàng áp dụng chế độ kế toán mới từ tháng 10/1994, theo dự thảo lần
thứ 4 của Vụ chế độ kế toán - Bộ Tài chính. Trong quá trình áp dụng thực nghiệm
kế toán mới, Công ty đã gặp một số khó khăn như phải xây dựng một hệ thống sổ
kế toán mới, chuyển số dư tài khoản cũ sang số dư tài khoản mới. Hiện nay công
tác kế toán của Công ty cũng dần ổn định, việc tổ chức ghi chép hạch toán hợp lý
thông tin cung cấp kịp thời chính xác phục vụ có hiệu quả yêu cầu quản lý kinh tế
tài chính của Doanh nghiệp và cấp trên.
19 19
Trong báo cáo này em xin trình bày về tình hình kế toán tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm của Đội thi công số 3 trực thuộc Công ty Xây
dựng Ngân hàng theo hệ thống kế toán hiện hành.
2.2.1. Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất :
Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là khâu đầu tiên và đặc biệt
quan trọng trong toàn bộ công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành công
tác xây lắp. Xuất phát từ đặc điểm sản xuất của ngành XDCB, từ tình hình thực tế
và đặc điểm quy trình công nghệ của Công ty, sản phẩm của Công ty là công trình
Trong quá trình thi công các loại vật liệu sử dụng luân chuyển như ván
khuôn, giàn giáo, cốp pha... được sử dụng lâu dài, nhiều lần phục vụ cho nhiều
công trình. Do đó cần phải phân bổ giá trị của nó cho từng công trình nên :
Giá trị
một lần
cần phân bổ
=
Giá trị vật liệu luân chuyển
Số lần ước tính sử dụng
Giá trị phân bổ chỉ bao gồm giá trị vật liệu của công tác lắp đặt, dựng, tháo dỡ cũng
như giá trị các vật liệu khác như : Đinh, dây buộc... được hạch toán vào chi phí trong kỹ có
liên quan.
Cụ thể như sau :
Trước tiên, Phòng kế hoạch kỹ thuật vật tư căn cứ vào dự toán và các
phương án thi công cùng tiến độ thi công của các công trình lập nên kế hoạch cung
cấp vật tư đồng thời giao nhiệm vụ sản xuất thi công cho các tổ công trình và các
tổ sản xuất. Các đội công trình và các tổ sản xuất căn cứ vào nhiệm vụ sản xuất thi
công để tính toán lượng vật tư cần thiết phục vụ cho sản xuất kinh doanh và khi có
nhu cầu thi công thì các đội tổ lập yêu cầu cung cấp vật tư, có xác nhận của chủ
nhiệm công trình và kỹ thuật viên. Sau đó gửi lên phòng kỹ thuật vật tư xem xét
21 21
xác nhận chuyển sang phòng kế toán xin tạm ứng tiền để mua vật tư. Khi hoàn
thành các thủ tục xem xét, xác nhận của kỹ thuật, trưởng phòng kế toán và Giám
đốc, kế toán tiền mặt viết phiếu chi cho tạm ứng tiền, đồng thời định khoản ngay
trên chứng từ đó và ghi sổ kế toán. Khi đã nhận được tiền, nhân viên phòng cung
ứng vật tư cùng chủ nhiệm công trình đi mua vật tư về nhập kho công trình phục
vụ sản xuất thi công. Khi nhập kho, thủ kho công trình cùng người giao vật tư tiến
hành cân đong đo đếm số lượng vật liệu nhập kho.
Bảng 2.8:
phiếu nhập kho Mẫu số 1 – VT
Mẫu số 2.10:
công ty xây dựng ngân hàng cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam
Đội thi công số 3 Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
*** ------= =------
trích biên bản thanh lý hợp đồng thuê xe
Vào hồi 10h ngày 9 tháng 6 năm 2000
Căn cứ vào hợp đồng ngày 8 tháng 6 năm 2000 giữa Công ty Xây dựng
Ngân hàng (Bên A) và Công ty vận tải 18 (Bên B) về thuê xe vận chuyển thép LD
Căn cứ vào khối lượng thực hiện bên A và bên B xác nhận.
Hai bên thanh lý hợp đồng bao gồm :
- Số lượng vận chuyển : 8.500 kg
- Đơn giá vận chuyển: 100 đ/kg
- Thuế GTGT 5% : 42.500 đ
Tổng số tiền bên A phải trả cho bên B : 892.500 đ
Bên A đã trả bằng tiền mặt : 892.500 đ.
Đại diện bên B Đại diện bên A
24 24
Mẫu số 2.11:
hoá đơn (gtgt) Mẫu số : 01 GTKT-3LL
Liên 2 : (Giao khách hàng) CE/99 - B
Ngày 8 tháng 6 năm 2000
Đơn vị bán hàng : Công ty vận tải 18
Địa chỉ : 80 - Đường Giải Phóng - Hà Nội
Điện thoại : 7 331850 MS : 01 00 858 00 96 1
Họ tên người mua hàng : Anh Hùng
Đơn vị : Công ty Xây dựng Ngân hàng
Địa chỉ : Vĩnh Tuy - Thanh Trì - Hà Nội Số tài khoản :
Hình thức thanh toán : Tiền mặt MS : 01 00 15 13 62 - 1
ST
T