Chương 3: Chiến lược và kế hoạch kinh doanh viễn thông 25
CHƯƠNG 3 : KẾ HOẠCH KINH DOANH VIỄN HÔNG
GIỚI THIỆU
Mục đích, yêu cầu:
Nắm được bản chất, vai trò của kế hoạch; các loại kê hoạch và hệ thống chỉ tiêu kế hoạch;
các phương pháp lập kế hoạch. Trên cơ sở đó biết vận dụng vào lập chiến lược và kế hoạch kinh
doanh viễn thông.
Nội dung chính:
- Một số vấn đề chung về kế hoạch kinh doanh
- Kế hoạch kinh doanh viễn thông
NỘI DUNG
3.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ HOẠCH KINH DOANH
3.1.1. Khái niệm và vai trò của kế hoạch kinh doanh
Xét về mặt bản chất, kế hoạch hoá nói chung, kế hoạch hoá kinh doanh viễn thông nói riêng
là một hoạt động chủ quan, có ý thức, có tổ chức của con người trên cơ sở nhận thức và vận dụng
các quy luật khách quan nhằm xác định mục tiêu, phương án, bước đi, trình tự và cách thức tiến
hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó là quá trình định hướng và điều khiển theo định
hướng đối với sự phát triển sản xuất theo quy luật tái sản xuất mở rộng ở mọi cấp của nền kinh tế.
Trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế kế hoạch hoá là một trong những công cụ điều tiết chủ
yếu của Nhà nước. Công cụ kế hoạch hoá giúp Nhà nước xác định các chiến lược, định hướng
phát triển chung làm cơ sở hoạch định các chính sách và giải pháp kinh tế. Cụ thể:
- Kế hoạch hoá đóng vai trò điều chỉnh và hạn chế những khuyết tật của cơ chế thị trường.
- Kế hoạch hoá có vai trò định hướng sự vận động của thị trường theo cơ cấu phát triển kinh
tế do Đảng và Nhà nước xác định.
- Kế hoạch hoá đóng vai trò phối hợp, trợ giúp hoạt động của các doanh nghiệp, các thành
viên trong xã hội theo những phương hướng chung tạo nên sức mạnh tổng hợp, phát triển đồng
bộ, có hiệu quả, có tốc độ tăng trưởng cao và ổn định bằng việc cung cấp thông tin, định hướng cơ
trực tiếp.
2. Yêu cầu đối với chỉ tiêu kế hoạch:
- Phải có khả năng chuyển tải thông tin, phản ánh nội dung của các nhiệm vụ kế hoạch một
cách cụ thể, rõ ràng, chính xác và dễ hiểu.
- Phải đồng bộ và có khả năng so sánh được với các chỉ tiêu kinh tế khác.
- Nội dung của hệ thống chỉ tiêu kế hoạch phải phản ánh bao quát, toàn diện các mặt hoạt
động của doanh nghiệp,cũng như nghĩa vụ của doanh nghiệp và lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp
được hưởng.
- Phải có tác dụng kích thích, khuyến khích thực hiện hoàn thành nhiệm vụ được giao. Nói
cách khác, chỉ tiêu kế hoạch phải mang tính khả thi cao, được giao đúng hạn và đúng địa chỉ
người thực hiện.
3. Các loại chỉ tiêu kế hoạch
* Căn cứ vào tính chất phản ảnh của chỉ tiêu:
- Chỉ tiêu số lượng : thể hiện quy mô và cơ cấu của các đối tượng kế hoạch, bao gồm các
chỉ tiêu phản ánh về mặt quy mô, số lượng... các hoạt động của doanh nghiệp, như giá trị tổng sản
lượng, số lượng lao động, giá trị tài sản cố định, số máy điện thoại phát triển, doanh thu viễn
thông,...
- Chỉ tiêu chất lượng: bao gồm các chỉ tiêu phản ánh chất lượng từng mặt công tác hoặc
toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
* Căn cứ vào đơn vị tính toán gồm:
Chương 3: Chiến lược và kế hoạch kinh doanh viễn thông 27
- Chỉ tiêu hiện vật: phản ánh đặc tính hữu dụng của đối tượng kế hoạch, thường áp dụng cho
các đối tượng là thành phẩm hoặc bán thành phẩm.
- Chỉ tiêu giá trị: là các chỉ tiêu được đo lường bằng các đơn vị tiền tệ (nội tệ, ngoại tệ), như
doanh thu, năng suất lao động tính bằng tiền, giá thành sản phẩm.
* Căn cứ vào đại lượng đo lường có :
- Chỉ tiêu tuyệt đối: phản ánh thuần tuý quy mô, độ lớn của các đối tượng kế hoạch. Chúng
nhanh chóng của nhu cầu thị trường và điều kiện kinh doanh làm cho các mối quan hệ cân đối
ngày hôm qua đến hôm nay đã trở nên mất cân đối. Tính chất mất cân đối có cơ sở từ sự biến
động của nhu cầu thị trường và các nguồn cung ứng. Vì vậy, việc điều chỉnh, bổ xung kế hoạch là
việc làm tất yếu.
Chương 3: Chiến lược và kế hoạch kinh doanh viễn thông 28
- Thực hiện cân đối trong từng yếu tố trước khi tiến hành cân đối giữa các yếu tố. Kết quả
cân đối tổng hợp phải là căn cứ xác định năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là cơ
sở để xác định hoặc điều chỉnh phương án kinh doanh của doanh nghiệp. Để thuận tiện cho việc
quản lý, người ta phân biệt các bảng cân đối thành ba loại tương ứng với ba yếu tố nguồn lực đầu
vào chủ yếu của doanh nghiệp: cân đối vật tư, cân đối lao động và cân đối tài chính.
2. Phương pháp định mức:
Nội dung của phương pháp định mức là dựa trên việc sử dụng các định mức kinh tế kỹ thuật
về tiêu hao các yếu tố nguồn lực cho một đơn vị sản phẩm đầu ra hoặc một đơn vị kết quả trung
gian (đơn vị thời gian vận hành máy móc thiết bị, một công đoạn của quá trình sản xuất,...) để tính
toán tổng nhu cầu về từng yếu tố kinh tế cần phải có đảm bảo thực hiện kế hoạch sản xuất kinh
doanh đã dự định. Đặc điểm của phương pháp định mức: Hệ thống định mức chính là yếu tố cần
phải có trong quá trình tính toán. Chất lượng của các định mức sẽ quyết định chất lượng của các
chỉ tiêu kế hoạch. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của các kế hoạch khi chúng được
triển khai thực hiện. Vì vậy, các hệ thống kinh tế kỹ thuật được sử dụng trong quá trình lập kế
hoạch phải đảm bảo các yêu cầu:
- Các định mức phải đảm bảo tính tiên tiến về kỹ thuật sản xuất và tổ chức sản xuất, tổ chức
lao động.
- Trong một số trường hợp, các định mức có thể dùng làm tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả
sử dụng các yếu tố đầu vào, cần phải xem xét mức độ tương đồng giữa các doanh nghiệp khác
nhau về chế độ phân cấp quản lý và khả năng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật.
3. Phương pháp phân tích các nhân tố tác động:
Phương pháp phân tích các nhân tố tác động là phương pháp lập kế hoạch có tính chất
quát .
* Các loại chiến lược sản phẩm dịch vụ viễn thông
- Căn cứ vào bản thân sản phẩm gồm có :
+ Chiến lược thiết lập chủng loại: là tiếp tục bảo đảm giữ cho được vị trí của sản phẩm dịch
vụ viễn thông chiếm được trên thị trường bằng việc bảo vệ uy tín mà doanh nghiệp viễn thông đã
đạt được về kỹ thuật và khách hàng tín nhiệm.
+ Chiến lược hạn chế chủng loại: là chiến lược đơn giản hoá cơ cấu chủng loại, loại trừ một
số sản phẩm dịch vụ viễn thông không hiệu quả, tập trung phát triển một số ít sản phẩm có triển
vọng được lựa chọn.
+ Chiến lược thay đổi chủng loại : là chiến lược tiếp tục thay đổi thể thức thoả mãn yêu cầu
nhằm nâng cao số lượng khách hàng. Việc thay đổi có thể bằng cách thay đổi hình dáng, kích
thước, màu sắc... Giá cả có thể giữ nguyên hoặc tăng lên chút ít để hấp dẫn khách hàng.
+ Chiến lược hoàn thiện sản phẩm: là chiến lược định kỳ cải tiến các thông số chất lượng
của sản phẩm dịch vụ. Sản phẩm được hoàn thiện phải theo mong muốn của khách hàng và được
khách hàng chấp nhận. Như việc đưa sản phẩm máy điện thoại ấn phím có nhiều chức năng hơn
hẳn máy quay số sẽ kích thích cho nhu cầu sử dụng điện thoại của khách hàng.
+ Chiến lược đổi mới chủng loại: là chiến lược phát triển sản phẩm dịch vụ mới, giúp
doanh nghiệp viễn thông củng cố thị trường hiện tại , xâm nhập vào thị trường mới .
- Căn cứ vào sản phẩm có kết hợp với thị trường gồm có:
+ Chiến lược sản phẩm dịch vụ hiện có trên thị trường hiện có: áp dụng trong giai đoạn đầu
hoạt động, khi mới thành lập. Bắt đầu từ một sản phẩm dịch vụ phát triển hoạt động kinh doanh
theo hoặc là khuyến khích các khách hàng đã có của mình sử dụng sản phẩm dịch vụ thường
xuyên hơn hoặc là phát triển thêm khách hàng trong cùng một thị trường để tăng thêm mức sử
dụng sản phẩm dịch vụ; cũng có thể kích động khách hàng để tăng thêm mức sử dụng sản phẩm
dịch vụ.
+ Chiến lược sản phẩm dịch vụ hiện có trên thị trường mới: nhằm mở rộng thị trường bằng
cách đưa sản phẩm dịch vụ hiện có vào thị trường mới để tăng mức sử dụng.
+ Chiến lược sản phẩm dịch vụ cải tiến trên thị trường hiện có: trong chiến lược này, sản
phẩm dịch vụ hiện có có thể được thay thế một phần hay hoàn toàn trong tập hợp sản phẩm dịch
vụ vì khách hàng bao giờ cũng muốn sử dụng sản phẩm dịch vụ mới hoặc cải tiến tốt hơn, tiện
thôngnhưng theo thiết kế của nước ngoài
+ Là những sản phẩm dịch vụ viễn thông cải tiến , được phát triển trên cơ sở những sản
phẩm dịch vụ trước đây .
Thực tế sản phẩm dịch vụ viễn thông mới chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ 10-15% . Phần lớn sản
phẩm dịch vụ mới thuộc loại 2 và 3 . Tuy nhiên khi không cần thiết phân biệt một cách chi tiết thì
sản phẩm dịch vụ mới là những sản phẩm dịch vụ chưa từng được sản xuất cung cấp tại doanh
nghiệp
Nguyên nhân phát triển sản phẩm dịch vụ viễn thông mới :
+ Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tạo điều kiện
thuận lợi cho việc thiết kế và chế tạo sản phẩm dịch vụ mới.
+ Cạnh tranh trên thị trường viễn thông đã chuyển trọng tâm từ cạnh tranh giá cả sang cạnh
tranh chất lượng sản phẩm dịch vụ. Trước tình hình này, thực hiện các biện pháp nâng cao chất
lượng sản phẩm bằng việc cải tiến, hoàn thiện các sản phẩm dịch vụ hiện có hoặc chế tạo những
sản phẩm dịch vụ mới thì sẽ giành được lợi thế trong cạnh tranh;
+ Mỗi loại sản phẩm đều có chu kỳ sống nhất định, khi sản phẩm cũ đã bước vào giai đoạn
suy thoái thì phải có sản phẩm dịch vụ mới thay thế nhằm đảm bảo tính liên tục của quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh.
Chương 3: Chiến lược và kế hoạch kinh doanh viễn thông 31
+ Do đòi hỏi thoả mãn nhu cầu mới của thị trường . Tuy nhiên không nên chỉ dừng lại ở
mức chạy theo các đòi hỏi của thị trường mà còn phải biết đón đầu , chuẩn bị đưa ra thị trường
các sản phẩm dịch vụ viễn thôngmới nhằm tạo ra những nhu cầu mới , hướng dẫn sự phát triển
của nhu cầu trong tương lai.
+ Nền kinh tế càng phát triển , nhu cầu về thông tin liên lạc càng cao và đa dạng . Do đó
phát triển sản phẩm dịch vụ viễn thông mới là đòi hỏi tất yếu .
+ Ngoài ra cho đến nay nhiều nhu cầu của khách hàng chưa được thoả mãn , do vậy phải
thường xuyên nghiên cứu , phát triển sản phẩm dịch vụ mới .
Các giai đoạn phát triển sản phẩm dịch vụ viễn thông mới :
toán và phân phối. Chiến lược thị trường viễn thông xác định nơi sản xuất cung cấp , nơi sử dụng
các sản phẩm dịch vụ viễn thông của doanh nghiệp viễn thông hiện tại và tương lai trên cơ sở
đảm bảo các yếu tố cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển.