Trường ĐH Kinh tế quốc dân Báo cáo thực tập
Chương II; Thực trạng công tác tính khấu hao TSCĐ
và quản lý, sử dụng quỹ khấu hao TSCĐ ở công ty
phát triển hạ tầng
1, Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tính khấu hao, quản lý và sử dụng
quỹ khấu hao TSCĐ của Công ty đầu tư phát triển hạ tầng.
1.1, Đánh giá TSCĐ ở Công ty đầu tư phát triển hạ tầng.
Ở Công ty đầu tư phát triển hạ tầng thì đánh giá TSCĐ là điều kiện
cần thiết để hoạch toán tài sản cố định, trích khâu hao và phân tích hiệu
quả sử dụng tài sản cố định trong daonh nghiệp. Xuất phát từ đặc điểm và
yêu cầu quản lí tài sản cố định trong quá trình sử dụng. Mà tài sản cố định
trong doanh nghiệp được đánh giá theo nguyên giá và giá trị còn lại.
Đánh giá theo nguyên giá TSCĐ.
Nguyên giá tài sản cố định của Công ty đầu tư và phát triển hạ tầng là
toàn bộ các chi phí thực tế đã chi ra để có TSCĐ cho tới khi đưa TSCĐ đi vào
hoạt động bình thường như giá mua thực tế của TSCĐ, các chi phí vận chuyển
bốc dỡ, chi phí lắp đặt chạy thử, tiền lãi vay đầu tư cho TSCĐ khi chưa bàn
giao và đưa TSCĐ vào sử dụng, thuế và lệ phí trước bạ (nếu có).
Tuỳ thuộc vào từng trường hợp cụ thể mà nguyên giá TSCĐ của
công ty được xác định là khác nhau.
-Nguyên giá TSCĐ hữu hình.
-Nghiên giá TSCĐ vô hình.
-Nghiên giá TSCĐ thuê tài chính
Với đặc điểm là công ty phát triển về trung cư và địa ốc nên việc
đánh giá tài sản cố định theo nguyên giá có tác dụng lớn trong việc đánh
giá trình độ trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, quy mô của doanh nghiệp
Sv: Đỗ Thị Dung – Lớp QTKD K39 1
Trường ĐH Kinh tế quốc dân Báo cáo thực tập
trong từng thời kì. Mặt khác chỉ tiêu nguyên giá còn là cơ sở để tính mức
khâu hao tài sản cố định theo tình hình thu hồi vốn ban đầu và xác định
hiệu xuất sử dụng tài sản cố định.
tiền.Chính vì vậy mà số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dưng hay
lắp đặt các TSCĐ hữu hình và vô hình là một số tiền không nhỏ . Đó là số
vốn đầu tư ứng trước vì số vốn này nếu được doanh nghiệp đầu tư có hiệu
quả sẽ không mất đi, và doanh nghiệp sẽ thu lại dược sau khi hàng hoá đã
được tiêu thụ.
Quy mô của vốn cố định nhiều hay ít sẽ quyết định quy mô của
TSCĐ trong chính doanh nghiệp, nó ảnh hưởng rất lớn đến trình độ trang
bị kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
ngược lại những đặc điểm kinh tế kỹ thuật của TSCĐ trong quá trình sử
dụng lại có ảnh hưởng nhất định, chi phối đặc điểm tuần hoàn và chu
chuyển vốn cố định của doanh nghiệp.Từ đó ta có đặc điểm và vai trò của
vốn cố định của doanh nghiệp như sau.
1.2.1, Đặc điểm luân chuyển của vốn cố định trong quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp.
Vốn cố định của công ty tham gia vào nhiều chu kì sản xuất sản
phẩm, điều này do đặc điểm của TSCĐ được sử dụng lâu dài, trong nhiều
chu kì sản xuất quyết định .
Vốn cố định của công ty được luân chuyển dần dần trong các chu kì
sản xuất khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận vốn cố định
được luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm dưới hình thức
chi phí khấu hao tương ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ.
-Vòng luân chuyển vốn cố định trong Công ty cũng như bao công ty
khác là sau nhiều chu kì sản xuất vốn cố định mới hoàn thành một vòng
luân chuyển.
Sv: Đỗ Thị Dung – Lớp QTKD K39 3
Trường ĐH Kinh tế quốc dân Báo cáo thực tập
Sau mỗi sản xuất phần vốn được luân chuyển vào giá trị sản phẩm
dần dần tăng lên, song phần vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ lại dần giảm
xuống cho đến khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng, giá trị của nó được
chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm đã sản xuất thi vốn cố định mới hoàn
dài hạn ngân hàng, từ thị trường vốn …Mỗi nguồn vốn đều có ưu nhược
điểm riêng và điều kiện thực hiện khac nhau, chi phí sử dụng cũng khác
nhau. Chính vì thế trong việc khai thác, tạo lập nguồn vốn cố định, doanh
nghiệp vừa phải chú ý đa dạng hoá các nguồn tài trợ, cân nhắc kĩ các ưu
nhược điểm của từng nguồn vốn cố định cho các doanh nghiệp là phải đảm
bảo khả năng tự chủ tài chính của các doanh nghiệp trong sản xuất kinh
doanh, hạn chế và phân tán rủi ro, phát huy tối đa những lợi thế của các
nguồn vốn được huy động, chi phí sử dụng thấp, khả năng sinh lời
cao….Điều này đòi hỏi không chỉ ở sự năng động, nhạy bén của doanh
nghiệp mà còn ở sự đổi mới các chính sách, cơ chế tài chính và công cụ
quản lý kinh tế của nhà nước ở tầm vĩ mô.
1.2.4, Quản lý sử dụng vốn cố định của Công ty phát triển hạ tầng.
Vốn cố định của năm 2009 là 615.335.000.000, thì doanh nghiệp có
thể sử dụng cho các hoạt động đầu tư dài hạn và các hoạt động kinh doanh
thương xuyên của doanh nghiệp.
Để sử dụng có hiệu quả vốn cố định trong hoat động kinh doanh
thường xuyên, doanh nghiệp cần thực hiện các biện pháp để không chỉ bảo
toàn mà còn phát triển được vốn cố định của doanh nghiệp sau mỗi chu kì
kinh doanh. Thực chất phải luôn đảm bao duy trì một lượng vốn tiền tệ để
khi kết thúc một vòng tuần hoàn thì bằng số vốn này doanh nghiệp có thể
thu hồi hoặc mở rộng được số vốn đã bỏ ra ban đầu để đầu tư mua sắm
TSCĐ.
Do đặc điểm TSCĐ và vốn cố định là tham gia vào nhiều chu kì sản
xuât kinh doanh song vẫn giữ nguyên được hình thái vật chất và đặc tính
sử dụng ban đầu, còn giá trị lại chuyển dịch dần vào giá trị sản phẩm.Vì
Sv: Đỗ Thị Dung – Lớp QTKD K39 5
Trường ĐH Kinh tế quốc dân Báo cáo thực tập
thế bảo toàn vốn cố định của công ty luôn bao gồm hai mặt hiện vật và giá
trị. Trong đó bảo toàn về hiện vật là tiêu đề để bảo toàn vốn cố định về mặt
giá trị.
kinh doanh
theo cơ chế thi trường việc thực hiện quy chế giao vốn và trách nhiệm bảo
toàn vốn cho nhà nước là một biện pháp cần thiết để tạo căn cứ pháp lý
vốn giữa các cơ quan nhà nước chủ quản và trách nhiệm.
1.2.5, Phân cấp quản lý vốn cố định.
Công ty đầu tư và phát triển hạ tầng là doanh nghiệp nhà nước do có
sự phân biệt giữa quyền sở hưu vốn tài sản của nhà nước tại doanh nghiệp
và quyền quản lý kinh doanh, do đó cần phải có sự phân cấp quản lý để tạo
điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động hơn trong sản xuất kinh doanh.
1.2.6, Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định của
doanh nghiệp.
Để tiến hành kiểm tra tài chính đối với hiệu quả sử dụng vốn cố định
cần xác định đúng đắn các hệ thống các chỉ tiêu đánh giá các hiệu quả sử
dụng vốn cố định và TSCĐ của doanh nghiệp.Thông thường bao gồm các
chỉ tiêu tổng hợp và chỉ tiêu phân tích sau đây:
Các chỉ tiêu tổng hợp:
Hiệu suất sử dụng vốn cố định:chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn
cố định có thể tạo ra bao nhiêu, doanh thu hoặc doanh thu thuần trong kì.
Doanh thu( hoặc DT thuần) trong kỳ
Hiệu suất sử dụng =
vốn cố định Số vốn cố định bình quân tròn kì
541.500.000.000
= = 0,88 (tỷ đồng)
615.335.000.000
=> Như vậy hiệu xuất sử dụng vốn cố định của năm 2009 là 0,88 (tỷ
động)
Sv: Đỗ Thị Dung – Lớp QTKD K39 7
Trường ĐH Kinh tế quốc dân Báo cáo thực tập
Số vốn cố định bình quân trong kì được tính theo phương pháp bình
quân số học giữa vốn cố định đầu kì và cuối kì.
Ngoài các chỉ tiêu tổng hợp trên đây ngườ ta có thể sử dụng một số
chỉ tiêu sau đây.
-Hệ số hao mòn TSCĐ:phản ánh mức độ hao mòn của TSCĐ trong
doanh nghiệp so với thời điểm đầu tư ban đầu. Hệ số hao mòn lớn chứng tỏ
với thời điểm đầu tư ban đầu.Hiện số hao mòn lớn chứng tỏ mức độ hao
mòn TSCĐ cang cao và ngược lai.
Số tiền khâu hao luỹ kế
Hệ số hao mòn =
TSCĐ Nguyên giá TSCĐ ở thời điểm đánh giá
2.331.969.610
= = 0,027 (tỷ đồng)
88.002.177.255
=> Hệ số hao mòn tài sản cố định là 0,027 (tỷ đồng).
-Hiệu suất sử dụng TSCĐ : TSCĐ trong kì tạo ra được bao nhiêu
đồng doanh thu và doanh thu thuần, điều này chứng tỏ hiệu suất sử dụng
TSCĐ cang cao.
doanh thu hoặc doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng =
TSCĐ nguyên giá TSCĐ bình quân trong kì
= 62.325.455.000 = 0.779 (tỷ đồng)
80.002.226.000
=> hiệu suất sử dụng tài sản cố định là:0,779 (tỷ đồng)
-Hệ số trang bị TSCĐcho một công nhân trực tiếp sản xuất : phản
ánh giá trị mức độ trang bị TSCĐ cho sản xuât của doanh nghiệp càng cao.
Sv: Đỗ Thị Dung – Lớp QTKD K39 9
Trng H Kinh t quc dõn Bỏo cỏo thc tp
-Kờt cu TSC ca doanh nghip: phn ỏnh quan h t l gia giỏ tr
tng loi TSC trong tng giỏ tri TSC ca doanh nghip thi im
ỏnh giỏ. ch tiờu ny giỳp cho doanh nghip ỏnh giỏ mc hp lý trong
c cu TSC c trang bi doanh nghip.
trọng
(%)
I/ TSCĐ
dùng cho sản
xuất kinh
doanh
63.810.
329.470
99,33 75.090.730.
890
99,84
7
87.894.74
5.122
99,85
5
98.072.44
5.120
98,489
1. TSCĐ đang
dùng
63.810.
329.470
75.090.730.
890
87.894.74
5.122
98.072.44
5.120
2. TSCĐ cha
100 99.576.76
5.120
100
Qua bảng 4 ta thấy:
Trong toàn bộ TSCĐ dùng cho sản xuất kinh doanh của công ty qua
hai năm 2006-2009, TSCĐ cha sử dụng và TSCĐ chờ thanh lý đều chiếm tỷ
trọng là 0%. Nh vậy tức là mọi TSCĐ hiện có của công ty dùng cho hoạt
động sản xuất kinh doanh đều đang đợc sử dụng. Năm 200 nguyên giá TSCĐ
đang dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh là 63.810.329.470 đồng chiếm
tỷ trọng 99,33%, năm 2009 nguyên giá TSCĐ đang dùng của công ty chiếm
tới 98,489% ứng với giá trị 98.072.445.120 đồng. Điều này cũng dễ hiểu vì
trong những năm trớc TSCĐ nào không cần dùng hoặc đã khấu hao hết thì đã
đợc công ty đem thanh lý. Qua đó càng khẳng định những cố gắng của công
ty trong việc sử dụng T SCĐ đúng mục đích đó chính là việc tập trung tối đa
TSCĐ cho mục đích sản xuất kinh doanh.
Sự biến động của TSCĐ đợc coi là hợp lý nếu cơ cấu TSCĐ thay đổi
đối với thời phát huy cao nhất năng lực, công suất của TSCĐ làm cơ sở phát
huy cao độ hiệu quả sử dụng TSCĐ của công ty.
Để thấy rõ hơn sự biến động của từng nhóm, từng loại TSCĐ của công
ty đầu t phát triển hạ tầng ta đi vào xem xét cụ thể tình hình tăng giảm
TSCĐ của công ty trong năm 2009 (bảng 2).
Qua bảng 5 ta thấy:
Đầu năm 2009 công ty đã mua sắm đầu t thêm máy móc thiết bị để
tiếp tục thực hiện thêm các dự án mới nh (dự án khu công nghiệp Tiên Sơn
mở rộng, dự án khu đô thị mới Đặng Xá - Gia Lâm - Hà Nội...). Có thể nói
đây là cố gắng rất lớn của Công ty trong việc mở rộng năng lực hoạt động
sản xuất kinh doanh.
Bảng 5. Tình hình tăng giảm TSCĐ của công ty trong năm 2009
ĐVT: đồng.
Nhóm TSCĐ
đồng. Đây là một dấu hiệu đáng mừng của công ty trong năm 2009, để xem
xét điều này có thật sự là dấu hiệu tốt hay không ta đi xem xét tình hình tăng
giảm từng nhóm TSCĐ ở bảng 4.
Nhìn chung trong năm 2009, nguyên giá TSCĐ của công ty đều tăng
trong đó chiếm tỷ lệ tăng nhiều nhất trong tổng nguyên giá TSCĐ tăng là
TSCĐ vô hình có giá trị tăng là 8.695.917.489 đồng tơng ứng 67,649%, tiếp
đến là nhà cửa vật kiến trúc chiếm 22,505% với giá trị nguyên giá tăng
2.891.015.960 đồng, máy móc thiết bị tăng 0,780% ứng với nguyên giá tăng
là 102.637.227 đồng. Nh vậy nguyên giá TSCĐ tăng ở công ty chủ yếu tập
trung vào các nhóm TSCĐ rất cần thiết phục vụ cho kế hoạch mở rộng các
dự án đầu t của công ty trong hiện tại cũng nh tơng lai.
Sv: Th Dung Lp QTKD K39 12
Trng H Kinh t quc dõn Bỏo cỏo thc tp
Đi sâu tìm hiểu ta thấy nguyên giá các nhóm TSCĐ hữu hình trên chủ
yếu tăng là do quá trình đầu t mua sắm chứ không phải là do đánh giá lại.
Trong kỳ để đáp ứng nhu cầu đầu t, mở rộng sản xuất kinh doanh công ty đã
mua sắm, đổi mới máy móc thiết bị hiện đại: Máy cắt sắt, máy trộn cỡng
bức, máy vận thăng... Thêm vào đó phơng tiện vận tải, dụng cụ quản lý...
cũng đợc mua sắm trang bị thêm để đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh
trong kỳ nh: ô tô, xe vận tải, máy tính, máy in... Đối với TSCĐ vô hình (loại
TSCĐ thể hiện đặc trng về sản xuất kinh doanh của công ty) chiếm tới
67,694% trong tổng nguyên giá TSCĐ tăng trong năm 2009, trong đó
nguyên giá TSCĐ vô hình San nền tăng 63,451% ứng với giá trị
5.517.629.305 đồng còn lại là đền bù tăng 36.549% với giá trị 3.178.288.184
đồng trong tổng nguyên giá TSCĐ vô hình tăng. Điều này càng khẳng định
việc đầu t vào TSCĐ của công ty là đúng đắn và có trọng điểm.
Bên cạnh việc đầu t đổi mới làm tăng nguyên giá TSCĐ trong kỳ thì
công ty cũng tiến hành thanh lý một số những dụng cụ quản lý đã hết hạn sử
dụng và lạc hậu so với hiện nay để trang bị lại nhằm tăng lực quản lý cũng
nh năng lực cạnh tranh của công ty trên thị trờng, ví dụ nh: Loại máy vi tính
sự đầu t vào các nhóm TSCĐ đang dùng tuy không đồng đều nhng lại rất có
trọng điểm để có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất kinh doanh ngày
càng tăng của công ty.
Bảng 6: Cơ cấu TSCĐ đang dùng trong sản xuất kinh doanh của công
ty năm 2009.
Sv: Th Dung Lp QTKD K39 14