LUẬN văn tốt NGHIỆP HOÀN CHỈNH (KINH DOANH QUỐC tế) những giải pháp nhằm đẩy nhanh việc thực hiện các cam kết của việt nam trong khuôn khổ AFTA - Pdf 77

LỜI NĨI ĐẦU
AFTA dù ít, nhiều mang ý nghĩa quan trọng đối với tương lai kinh tế Việt
Nam. Thách thức của AFTA yêu cầu phải nâng cao tính năng động và hiệu quả
của cả nền kinh tế, con đường tham gia AFTA đòi hỏi tiêu chuẩn hiệu quả phải
đưa lên hàng đầu trong các lĩnh vực quản lý, hoạch định chính sách của Nhà
nuớc, trong hoạt động sản xuất kinh doanh của chính các doanh nghiệp, buộc
Việt Nam phải có nỗ lực lớn về cải cách kinh tế và hành chính, cải cách doanh
nghiệp Nhà nước theo hướng hiệu suất hố.
Cho dù cịn rất nhiều vấn đề cần tiếp tục được làm sáng tỏ, AFTA đã thể hiện
một bước chuyển đổi chiến lược đúng đắn của sự hợp tác kinh tế ASEAN.
AFTA là cơ sở để xây dựng khu vực mở và là một đóng góp quan trọng vào tiến
trình tự do hố thương mại tồn cầu. Bản thân AFTA là bước mở đầu để đưa
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á đi từ liên minh thương mại đến các liên
minh về thuế quan, liên minh tiền tệ, liên minh kinh tế.
Để đẩy nhanh tiến trình thực hiện AFTA, các doanh nghiệp trong nước
cần căn cứ theo hướng phát triển trong tình hình mới để có những quyết định
kịp thời và phù hợp. Doanh nghiệp cần xem xét, đánh giá cụ thể các yếu tố liên
quan đến sản xuất, tiêu thụ của từng mặt hàng trong tương quan các mặt hàng
cùng loại từ ASEAN. Qua đó, doanh nghiệp có thể tìm ra các sản phẩm mới,
hay phát triển các sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu, tìm ra thị trường mới cho
sản phẩm của mình, các giải pháp để có thể làm chủ được thị trường nội địa và
sau đó phải tìm kiếm khả năng xuất khẩu, định hướng về các sản phẩm chủ lực,
thị trường trọng điểm để có phương án sản xuất-kinh doanh đáp ứng các nhu
cầu xuất khẩu sang ASEAN hoặc ngoài ASEAN. Hơn nữa, các doanh nghiệp
sản xuất trong nước cần đánh giá các chọn lựa và đưa ra các giải pháp cụ thể
trước mắt và giải pháp lâu dài. Xuất phát từ những quan điểm trên, em đã chọn
nội dung của khoá luận tốt nghiệp và đề cập những giải pháp nhằm đẩy
nhanh việc thực hiện các cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ AFTA.


CHƯƠNG I :

khu vực. Trên cơ sở đó, hội nghị đã quyết định thành lập “Khu vực mậu dịch tự
do ASEAN” (AFTA). Lúc đầu, chương trình AFTA dự định thực hiện trong


vòng 15 năm kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1993. là phải bắt đầu từ ngày 1 tháng 1
năm 1998 Nhưng do yêu cầu đẩy nhanh tốc độ phát triển, đầu tháng 7 năm
1994, Hội nghị Bộ trưởng kinh tế lần thứ 26 tháng 9 năm 1994 tại Chiềng Mai
quyết định rút thời hạn xuống 10 năm, tức là hoàn thành vào năm 2003. Việt
Nam là hội viên mới, được thực hiện chậm 5 năm, tức.
Khối ASEAN không phải là một khối có sức mạnh kinh tế lớn so với các
khối khác như NAFTA (700 tỉ USD); EU (600 tỉ USD); Nhật (3.500 tỉ USD);
AFTA (400 tỉ USD) tuy nhiên, được đánh giá là khối phát triển năng động nhất.
Tốc độ tăng bình quân 5 năm qua là 7,5% so với 3% của toàn thế giới. Tỉ trọng
thương mại của ASEAN cao hơn nhiều so với các khu vực khác, xuất khẩu trên
50% tổng sảm phẩm quốc dân, đặc biệt Singapore là 139% (* số liệu 1994).
AFTA ra đời là phù hợp với quy luật vận động nội tại của các nền kinh tế
ASEAN trong bối cảnh khu vực hố, tồn cầu hố. Song với tư cách là một tổ
chức hợp tác kinh tế có thể chế, AFTA dường như là một dạng của "mơ hình
phát triển rút ngắn" của kiên kết kinh tế khu vực và trên thực tế, nó khơng có
được những điều kiện chuẩn bị chín muồi về các bước liên kết khu vực giống
như EU, NAFTA. Do đó, AFTA hình thành trước tiên chỉ như là một hiệp định
khung, có phần hơi đơn giản; cịn các nội dung và lịch trình của hiệp định lại
chỉ được soạn thảo, sửa đổi và bổ sung đồng thời với tiến trình tổ chức và thực
hiện chúng.
Nền kinh tế của các nước Đông Nam Á đang chuyển động theo những thay
đổi lớn trên thị trường tài chính và hàng hoá thế giới, trên khung cảnh hợp tác
khu vực, trước hết là khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, với sự hoạt động hết
sức sôi động của các công ty đa quốc gia. Sự di chuyển ồ ạt các dịng vốn đầu
tư, cơng nghệ và tri thức kinh doanh kéo theo sự biến động trong lợi thế so sánh
của nhiều nước. Thị trường khu vực ngày càng phát triển và thể chế hợp tác khu

tuy nhiên tác động của nó đến thương mại nội bộ ASEAN rất nhỏ và không đủ
khả năng ảnh hưởng đến đầu tư trong khối. Có nhiều lý do khác nhau dẫn đến
sự không thành công này. Đó là việc vạch kế hoạch kém, vội vã liên kết mà
khơng có các bước nghiên cứu khả thi kỹ càng, quản lý thiếu hiệu quả, trong
nhiều trường hợp, việc quyết định đầu tư vào ngành công nghiệp nào lại do các
Chính phủ chứ khơng phải thị trường quyết định tức là còn dựa nhiều vào
những ý tưởng chủ quan mà thiếu đi sự gắn kết với thực tiễn. Hợp tác kinh tế
ASEAN cũng bị ảnh hưởng một phần vì cơ cấu tổ chức với một Ban thư ký có
quá ít quyền hạn độc lập, không đủ khả năng để thực hiện vai trò cơ bản trong
việc đẩy nhanh và tăng cường hợp tác kinh tế khu vực. Nếu như nguyên tắc
nhất trí của ASEAN đã thúc đẩy việc thống nhất và ổn định thì chính nó cũng
làm cho các bước đi hợp tác kinh tế vị chậm lại hoặc bị điều chỉnh chỉ bởi một
nước thành viên thận trọng nào đó.
Tuy nhiên, các hoạt động hợp tác kinh tế của ASEAN đã có khuynh hướng
tiến đến hiệu quả hơn từ AIP đến AIJV. Khu vực tư nhân đã được chú trọng hơn,


quy luật thị trường dần dần được tuân thủ, các thủ tục liên quan được đơn giản
hoá và một số trường hợp các thủ tục rườm rà đã được loại bỏ, mức ưu đãi
(MOP) được tăng cường. Tuy không đạt được kết quả mong đợi nhưng các kế
hoạch hợp tác kinh tế này thực sự là những bài học quý báu cho việc hợp tác
kinh tế giữa các nước đang phát triển. AFTA đã ra đời trên cơ sở đúc rút kinh
nghiệm từ những kế hoạch hợp tác kinh tế trước AFTA. Hội nghị Thượng đỉnh
ASEAN họp tại Singapore năm 1992 đã quyết định thành lập một Khu mậu
dịch Tự do ASEAN (AFTA) theo sáng kiến của Thái lan.
AFTA thực sự là một bước ngoặt trong hợp tác kinh tế ASEAN, là kết quả tất
yếu của những chuyển động về hợp tác kinh tế ASEAN được tính kể từ năm
1976 - năm tổ chức Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ nhất tại Bali
(Indonesia) và là bước đánh dấu sự chú trọng trở lại với các kế hoạch phát triển
kinh tế mà các lĩnh vực ưu tiên chủ yếu là sản xuất và cung ứng các hàng hoá cơ

tích cực trên bán đảo Đơng Dương đưa lại cho ASEAN những cơ hội và thách
thức mới. Ở thời kỳ hậu chiến tranh lạnh, kinh tế các nước ASEAN đứng trước
những thách thức lớn khiến cho các nước ASEAN không dễ vượt qua nếu
khơng có sự cố gắng chung của tồn Hiệp hội. Đó là sự xuất hiện những tổ chức
hợp tác khu vực như EU, NAFTA có nguy cơ trở thành các khối thương mại
khép kín, sẽ làm cho hàng hoá ASEAN vấp phải những trở ngại hơn nữa khi
thâm nhập vào các thị trường trên.
Mặc dù trong gần một thập niên qua, kinh tế ASEAN đã tăng trưởng với nhịp
độ cao nhưng nền kinh tế các nước này vẫn phụ thuộc nặng nề vào nguồn vốn
từ bên ngoài. Vị thế và triển vọng tăng trưởng của các nền kinh tế này sẽ không
được củng cố và thúc đẩy nếu như tồn hiệp hội khơng tạo dựng được sự nỗ lực
chung. Đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự cấp thiết thành lập khu
vực mậu dịch tự do ASEAN. Trong đó, việc liên kết thị trường khu vực như một
trung tâm sản xuất và thương mại quốc tế là điều kiện căn bản để cải thiện thế
thương lượng cạnh tranh của ASEAN trong việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài - một nhân tố được coi là động lực tăng trưởng và tạo ra sự năng
động của châu Á trong những năm gần đây.
Việc thành lập AFTA sẽ mở ra một thị trường tự do rộng lớn và dồi dào tiềm
năng ở khu vực Đông Nam Á. Tham gia AFTA, các nước ASEAN sẽ liên kết
với nhau để phát triển kinh tế chặt chẽ hơn và rút ngắn khoảng cách về sự phát
triển giữa các quốc gia thành viên, nâng cao vai trò của ASEAN trong khu vực
và trên thế giới.
Chúng ta hoàn tồn có cơ sở để khẳng định ASEAN sẽ thành công trong việc
tạo lập AFTA. Thứ nhất, từ giữa những năm 80, các thành viên ASEAN đã lần
lượt thực hiện phi tập trung hoá và tự do hoá nền kinh tế của mình, đã cải thiện
đáng kể (mặc dù chưa đồng bộ) về môi trường đầu tư và thương mại và trên cơ
sở này, AFTA sẽ đặt từng quốc gia thành viên ASEAN trước những nhu cầu bức
thiết phải tiến hành cải cách nền kinh tế quốc gia nhằm thích ứng với các yêu
cầu chung của khu vực. AFTA sẽ góp phần đáng kể vào việc cải thiện hiệu quả
sản xuất cho mọi quốc gia thành viên với chi phí ít hơn, hay nói đúng hơn,

nhập khẩu tương đối giống nhau. Vì vậy kim ngạch thương mại chịu ảnh hưởng
trực tiếp của AFTA sẽ không lớn. Về mặt này, AFTA sẽ không thể so được với
các thoả thuận thương mại khu vực khác như EU hay NAFTA trong đó có sự
liên kết giữa các nền kinh tế rất phát triển với những nền kinh tế kém phát triển
hơn như trường hợp của Mỹ và Mexico. Tuy nhiên mục tiêu này nhằm thúc đẩy
sự hợp tác kinh tế trong nội bộ ASEAN. Thông qua AFTA, tạo ra một thị trường
chung ASEAN mà trong đó các nước thành viên được hưởng ưu đãi hơn so với
các nước không thuộc Hiệp hội. Từng bước, tiến tới xoá bỏ về cơ bản thuế nhập
khẩu hàng hoá thuộc các nước thành viên ASEAN với nhau, nhưng vẫn giữ
nguyên thuế nhập khẩu đối với hàng hoá của các nước khác.


Như vậy, với mục tiêu thúc đẩy buôn bán giữa các nước trong khu vực thông
qua chế độ ưu đãi thuế quan, AFTA sẽ tăng sức cạnh tranh của hàng hoá
ASEAN trên thương trường thế giới.
2.2. Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực bằng việc đưa ra một khối
thị trường thống nhất - xây dựng khu vực đầu tư ASEAN (AIA):
Mục tiêu của AFTA là biến các nước ASEAN thành khu vực hợp tác kinh tế
thông qua việc thực hiện các chương trình kinh tế mà quan trọng nhất là chương
trình ưu đãi thuế quan (CEPT). Mục tiêu trung tâm này góp phần làm tăng
cường năng lực kinh tế của các nước thành viên ASEAN nhằm tạo ra sức mạnh
để tự bảo vệ mình và vươn lên trong sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn của
nền kinh tế Thế giới, tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư nhằm thu hút vốn
đầu tư nước ngoài.
Vào đầu thập kỷ 90, từ địa vị là địa bàn đầu tư hấp dẫn các nước ASEAN ở
vào thế bị cạnh tranh gay gắt với các nước khác như Trung Quốc, Nga, các
nước Đông Âu, và cả Việt Nam. AFTA sẽ tạo ra một thị trường thống nhất, cho
phép việc khai thác lợi thế kinh tế về qui mô và tạo nhiều điều kiện thuận lợi
khác cho việc hấp dẫn đầu tư nước ngoài. Khi đầu tư nước ngoài vào ASEAN
tăng lên, do việc mở rộng khai thác các lợi thế của AFTA, chắc chắn sẽ dẫn đến

ngồi.
2.3. Hướng ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế đặc biệt là xu
thế tự do hố thương mại thế giới

Chương trình CEPT là sẽ đưa ASEAN AFTA trở thành một khu vực mở và là
sự phản ứng đáp lại với các mơ hình bảo hộ mậu dịch ở cả trong và ngoài khu
vực. Hay nói cách khác mục tiêu này liên quan đến sự đáp ứng của ASEAN đối
với xu hướng đang gia tăng của chủ nghĩa khu vực trên thế giới. Trước những
biến động của bối cảnh quốc tế, AFTA buộc phải đẩy nhanh tiến độ thực hiện và
tương lai có thể khơng chỉ dừng lại ở một khu vực mậu dịch hay liên minh quan
thuế mà sẽ tiếp tục được phát triển thành một liên minh tiền tệ, một liên minh
kinh tế. Nhờ tăng bn bán trong và ngồi khu vực, AFTA sẽ trợ giúp cho các
quốc gia thành viên ASEAN thích ứng được với chế độ thương mại đa biên
đang tăng lên ngày càng nhanh chóng, hồ nhập với xu thế thương mại chung
của thế giới.
3. Nội dung cơ bản của AFTA
3.1 Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung - CEPT
sự thoả thuận giữa các nước thành viên ASEAN về việc cắt giảm thuế quan
trong nội bộ xuống còn 0 - 5%, hạn chế về định lượng và các hàng rào phi quan
thuế từ ngày 1/1/1993 đến ngày 1/1/2003. Chương trình thuế quan ưu đãi có
hiệu lực chung này sẽ thực hiện theo 4 danh mục. Danh mục 1 là giảm thuế
nhập khẩu, được chia làm 2 phần: Phần thứ 1 là cắt giảm nhanh, áp dụng cho
các loại sản phẩm có mức thuế suất từ 20% trở xuống và phần thứ 2 là cắt giảm
thuế quan thông thường, áp dụng cho các loại hàng hố có mức thuế suất nhập


khẩu cao hơn 20%. Danh mục này được áp dụng cho 15 nhóm sản phẩm cơng
nghiệp chế biến của ASEAN như: xi măng, hố chất, phân bón, chất dẻo, hàng
điện tử, hàng dệt, dầu thực vật, sản phẩm da, sản phẩm cao su, giấy, đồ gốm và
thuỷ tinh, đồ dùng bằng gố và song mây, dược phẩm với khoảng 3200 mặt hàng,

Như vậy, cốt lõi của việc thành lập khu vực mậu dịch tự do là thực hiện
chương trình CEPT, nhằm giảm dần thuế nhập khẩu hàng hoá giữa các nước
ASEAN với nhau tới mức 0 - 5%, nhằm mục đích khuyến khích thương mại
giữa các nước thành viên. Theo chương trình này, các nước thành viên đưa ra
danh mục những mặt hàng sẽ tham gia vào CEPT, cắt giảm những biện pháp
hạn chế phi thuế quan khác, và đưa ra lịch trình triển khai. Chương trình này bắt
đầu vào năm 1993, dự kiến kéo dài 15 năm, nhưng mới đây được rút bớt 5 năm,
tức là kết thúc vào năm 2003. Theo quy ước của AFTA, ngồi các loại nơng sản
chưa chế biến hoặc sơ chế là những mặt hàng không nằm trong CEPT, mỗi
nước xác định và đăng ký 3 loại mặt hàng tuỳ theo mức độ tham gia CEPT;
khơng tham gia hồn tồn, tạm thời chưa tham gia và tham gia.
Các mục tiêu của AFTA sẽ được thực hiện thông qua một loạt các thoả thuận
trong hiệp định AFTA như là: sự thống nhất và công nhận tiêu chuẩn hố hàng
hố giữa các nước thành viên, cơng nhận việc cấp giấy xác nhận xuất xứ hàng
hoá của nhau, xoá bỏ những quy định hạn chế đối với ngoại thương, hoạt động
tư vấn kinh tế vĩ mơ... trong đó CEPT là cơ chế thực hiện chủ yếu.
CEPT, về thực chất, đó là một thoả thuận giữa các thành viên ASEAN về việc
giảm thuế quan trong nội bộ ASEAN xuống cịn 0-5% thơng qua "cơ cấu thuế
quan ưu đãi có hiệu lực chung" đồng thời loại bỏ tất cả các hạn chế về định
lượng và các hàng rào phi quan thuế trong vòng 10 năm, được bắt đầu từ
1/1/1993 và hoàn thành vào 1/1/2003. Hiệp định này sẽ được áp dụng đối với
mọi loại sản phẩm công nghiệp chế biến, bao gồm cả các hàng hoá tư bản và
các sản phẩm công nghiệp đã qua chế biến.
Tuy vậy, trong khung hiệp định đó, CEPT được nhấn mạnh cho các mặt hàng
công nghiệp chế biến là đối tượng chủ yếu được thụ hưởng các ưu đãi của
chương trình giảm thuế quan. Việc cắt giảm thuế quan cho chúng sẽ được áp
dụng trong một lịch trình cụ thể theo 2 kênh giảm nhanh và giảm thơng thường
đồng tuyến, nghĩa là trong vịng 7 đến 10 năm, phải đưa được khoảng 90%
trong số hơn 44.000 dòng thuế của các nước ASEAN xuống mức thuế dưới 5%
vào năm 2000 và sau đó sẽ đưa được mức thuế quan bình qn của tồn

Cũng xuất phát từ hoàn cảnh đặc biệt của từng quốc gia thành viên mà CEPT
còn quy định danh mục các sản phẩm tạm thời chưa tham gia giảm thuế (còn
gọi là danh mục loại trừ tạm thời) để tạo điều kiện thuận lợi cho các nước này
Các sản phẩm trong danh mục này sẽ không được hưởng nhượng bộ từ các
nước thành viên và chỉ tồn tại mang tính chất tạm thời, nghĩa là sau 5 năm,
chúng sẽ buộc phải chuyển sang danh mục giảm thuế theo hai kênh đồng tuyến
đã định. Do đó, kể từ 1/1/1996 đến 1/1/2000, danh mục loại trừ tạm thời sẽ phải
chuyển sang danh mục giảm thuế theo CEPT bình quân 20% mỗi năm. Dĩ
nhiên, loại danh mục này không nhiều, chỉ chiếm khoảng 8% tổng số các danh
mục tham gia giảm thuế.
Một vấn đề gây tranh luận nhiều nhất trong việc xây dựng chương trình
CEPT là vấn đề đưa hay khơng đưa các sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế
biến vào danh mục giảm thuế. Theo Hiệp định CEPT năm 1992, các sản phẩm


nông nghiệp chưa qua chế biến không được đưa vào danh mục giảm thuế theo
CEPT. Nhưng đến tháng 9/1994, các thành viên ASEAN đã đồng ý đưa chúng
vào danh mục này. Do đó, cùng với các danh mục giảm thuế là loại trừ thuế tạm
thời, phạm vi sản phẩm tham gia tiến trình tự do hố thương mại theo CEPT đã
được mở rộng tới 98% tổng số dòng thuế của tồn khối ASEAN. Các sản phẩm
nơng nghiệp chưa qua chế biến cũng sẽ được phân định thành ba danh mục:
danh mục giảm thuế, danh mục loại trừ hoàn toàn và một danh mục đặc biệt
khác là danh mục các sản phẩm nông nghiệp nhạy cảm. Trừ một số nhỏ hàng
nông nghiệp chưa qua chế biến được đưa vào danh mục loại trừ hồn tồn, hiện
hành nơng nghiệp chưa qua chế biến của tồn bộ ASEAN bao gồm 1823 dịng
thuế, chiếm 4% tổng số dòng thuế sẽ giảm theo CEPT của các quốc gia này. Các
sản phẩm thuộc danh mục nhạy cảm là đối tượng cần có cơ chế tự do hoá riêng
phù hợp với các quy định của Hiệp định về nông sản của WTO. Tuy nhiên, mức
cam kết giảm thuế của các sản phẩm thuộc danh mục này ở ASEAN sẽ cao hơn
mức mà các nước thành viên đã cam kết tại vòng đàm phán Urugoay. Đến nay,

thành viên ASEAN cam kết theo chương trình CEPT, đến năm 2000 chắc chắn
87,7% tổng số các dòng thuế tham gia giảm thuế sẽ có mức thuế 0-5%. Điều
này hồn tồn có cơ sở khi mà hiện nay các sản phẩm CEPT đã tăng rất nhanh
trong tổng kim ngạch xuất khẩu nội bộ ASEAN, từ 81,38% năm 1994 lên
84,7% năm 1995.
3.2. Huỷ bỏ hạn chế về định lượng hàng rào phi quan thuế
Đây là cơ chế quan trọng thứ hai được tiến hành đồng thời với thực hiện
chương trình CEPT. Các nước thành viên ASEAN sẽ xoá bỏ tất cả các hạn chế
về số lượng đối với các sản phẩm CEPT trên cơ sở chế độ ưu đãi thuế quan
được áp dụng cho các sản phẩm đó. Các hàng rào phi quan thuế khác cũng sẽ
được xố bỏ dần dần trong vịng 5 năm sau khi sản phẩm được hưởng ưu đãi.
Đây là sự hỗ trợ cực kỳ quan trọng cho tiến trình AFTA vì lẽ cắt giảm thuế là
biện pháp cần thiết, đầu tiên song đó khơng phải là biện pháp duy nhất để thực
hiện tự do hố thương mại. Các khía cạnh như: các kênh giảm thuế đồng tuyến,
danh mục loại trừ tạm thời, danh mục hàng nông nghiệp chưa qua chế biến... tạo
nên tính kỹ thuật của chính sách tự do hố thương mại, cịn cấu thành nên sự tác
động có tính chất hành chính, pháp lý giữa các quốc gia trong tiến trình chu
chuyển thương mại đó là các biện pháp về giấy phép xuất nhập khẩu, hạn
ngạch, các hạn chế về tỷ giá hối đoái, các biện pháp về tiêu chuẩn kỹ thuật hàng
hoá... Đây là những rào cản trong thực tiễn hoạt động thương mại, nó gắn chặt
với các chính sách bảo hộ mậu dịch nặng nề và theo đó, việc loại bỏ chúng sẽ
khơng dễ dàng nếu khơng có sự cải cách tồn diện ở tầm vĩ mô nền kinh tế của
từng nước. Hơn nữa, hiện nay, những biện pháp này cịn rất khơng đồng nhất
giữa các nước thành viên ASEAN. Do vậy, để chuẩn bị tốt tiến trình xố bỏ các
hàng rào phi quan thuế, Uỷ ban Phối hợp thực hiện CEPT/AFTA của ASEAN
đã tiến hành các bước như sau:
Bước 1: Các nước thành viên cùng thống nhất định nghĩa về các biện pháp phi
quan thuế dựa trên sự phân loại của UNCTAC.



này, phịng Thương mại và Cơng nghiệp ASEAN có nhiệm vụ đẩy nhanh q
trình điều hồ các bộ luật thuế quan với sự ưu tiên trước hết giành cho các sản
phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch buôn bán nội bộ ASEAN và
những sản phẩm thuộc 15 danh mục hàng hoá tham gia kênh giảm thuế nhanh
của CEPT. Hội đồng CEPT đã tán thành kế hoạch hành động để điều hồ về các
tiêu chí luật thuế và phi quan thuế trên toàn khu vực vào năm 1997.


3.3. Sự phối hợp trong ngành hải quan
Các nước ASEAN đã xác định việc hợp tác hải quan là một trong những nhân
tố quan trọng để thực hiện mục tiêu của AFTA, do vậy ngay sau khi Hiệp định
CEPT được ký kết, các nước đã tăng cường hợp tác trên lĩnh vực này.
Phối hợp hải quan là cơ chế thực hiện của chương trình CEPT khi nó hỗ trợ
các nước thành viên thống nhất biểu thuế quan theo Hệ thống điều hồ (HS) của
nó. Hơn nữa, nó tạo thuận lợi cho việc thực hiện giảm thuế và phi quan thuế khi
hệ thống tính giá hải quan được thống nhất, các luồng xanh ưu đãi cho hàng hoá
theo CEPT của ASEAN được hình thành và đặc biệt thủ tục hải quan được
thống nhất. Như vậy, tiến trình AFTA nhanh hay chậm, được điều chỉnh hay bổ
sung đều tuỳ thuộc đáng kể vào các chương trình hợp tác hải quan.
Thuế quan trung bình theo CEPT trong giai đoạn 1998-2003 của ASEAN
Nước thành viên

1998

1999

2000

2001


3,7

Lào

5,0

5,0

5,0

5,0

5,0

5,0

Malaysia

3,4

3,0

2,6

2,4

2,3

2,0


0,0

0,0

0,0

0,0

0,0

0,0

Thailand

10,6

9,8

7,4

7,4

6,0

4,6

Việt Nam

3,9


quyền số là dịng thuế trong Danh mục cắt giảm ngay (IL) năm 1998.
Chúng ta thấy, thuế quan bình quân ASEAN vào thời điểm này của từng nước
ASEAN-6 đều đã đạt xấp xỉ dưới 5% (ngoại trừ Thailand và Philipin vẫn cịn
thuế suất bình qn khá cao). Như vậy có thể nói các nước ASEAN-6 về cơ bản
đã hồn thành việc chuyển các dịng thuế trong các danh mục, đặc biệt là Danh
mục loại trừ tạm thời sang Danh mục cắt giảm ngay đồng thời giảm thuế trong
Danh mục cắt giảm ngay.
Đối với các thành viên mới, vì thời hạn hồn thành CEPT cịn xa hơn, do đó,
tiến độ chuyển các dịng thuế từ các danh mục, đặc biệt là Danh mục loại trừ
tạm thời sang Danh mục cắt giảm ngay chậm hơn. Tới năm 2000, mới chỉ có
khoảng 50% số dịng thuế được đưa vào Danh mục này.
Đối với Việt Nam, năm 2000 sẽ đạt 3.573 dòng thuế trên tổng số 4.827 dòng
trong Danh mục cắt giảm ngay, tương đương khoảng 74% tổng số dòng thuế.
Đây là tỷ lệ cao nhất so với các thành viên mới khác của ASEAN. Cũng căn cứ
vào số liệu do Ban thư ký ASEAN cung cấp, trong năm 2000, mức thuế quan
bình quân thực hiện CEPT của Việt Nam đạt 3,4% từ mức 3,9% năm 1999, đây
là một sự cắt giảm đáng kể. So với mức thuế quan bình quân hiện nay tính gia
quyền theo kim ngạch thương mại cho tất cả các dịng thuế (kể cả dịng có thuế
suất bằng 0) trên 11% thì chúng ta đã thực hiện thuế theo CEPT chỉ thấp bằng
1/3 của mức thuế suất bình quân hiện hành áp dụng chung cho các nước có
quan hệ thương mại với Việt Nam.
Trên cơ sở thực hiện Hiệp định CEPT với các nước ASEAN, thời gian vừa
qua Việt Nam đã đạt được nhiều thuận lợi về thương mại với các nước ASEAN,
điều dó tạo điều kiện để kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng nhanh
chóng. Khu vực các nước ASEAN đã và sẽ ngày càng chiếm một vị trí quan
trọng trong mối quan hệ thương mại với Việt Nam.
Tổng cục Hải quan đã tham gia với các nước thành viên ASEAN khác trong
mọi lĩnh vực hợp tác hải quan ASEAN: Điều hoà thống nhất danh mục biểu
thuế quan của các nước ASEAN; Điều hoà thống nhất các hệ thống xác định trị
giá hải quan để tính thuế; Điều hồ thống nhất quy trình thủ tục hải quan

Đông Nam Á là Campuchia vào tổ chức của mình. từ ASEAN - 9 đến ASEAN
-10 và theo đó là việc nghiễm nhiên Campuchia tham gia AFTA, khu vực mậu
dịch tự do ASEAN sẽ được mở rộng về quy mơ, đa dạng về trình độ, và là sự bổ
sung về mặt cơ cấu để cả khu vực ASEAN thành một thể chế kinh tế thống nhất.
Những kinh nghiệm và các vấn đề bức xúc đặt ra trong tiến trình thực hiện
AFTA hiện nay sẽ là những bài học quý giá cho các thành viên đi sau. Nhìn
chung, triển vọng ở AFTA khơng phải chỉ là hiệu quả thương mại và đầu tư nội
bộ khu vực mà là ở việc AFTA đã đặt tất cả các nền kinh tế thành viên trước
những sự chuyển đổi cần thiết từ bên trong, tìm được ra những điểm tương
đồng, bổ sung và thúc đẩy nhau với tư cách là một thể chế thống nhất có sức
mạnh và ảnh hưởng lớn tới các tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu khác.
AFTA với tư cách là một sự nhất thể hoá thị trường khu vực, sẽ làm tăng sự


lệ thuộc lẫn nhau vì sự cần thiết phải phối hợp với nhau về các chính sách kinh
tế. Mọi sự chênh lệch về mức thuế quan sẽ được thu hẹp và khả năng mở ra cho
một khu vực thương mại tự do hơn sẽ được đẩy mạnh. Những nhân tố chủ yếu
quyết định sự thành công của AFTA mà chúng ta có thể thấy là: thứ nhất, với sự
hội tụ của cơng nghiệp hố, giảm thuế quan và các hàng rào phi quan thuế, phi
điều chỉnh và tư nhân hoá, nguồn gốc tiềm tàng của xung đột và các vấn đề nảy
sinh trong khu vực thương mại tự do sẽ bị thu hẹp. Thứ hai, với chương trình
giảm thuế CEPT được kết hợp chặt chẽ với chương trình hợp tác cơng nghiệp
ASEAN (AICO), các lợi ích thu được từ AFTA sẽ được nhân lên gấp bội. Cùng
với các chương trình hợp tác rộng rãi về nhiều lĩnh vực: tài chính, tiền tệ, sở
hữu trí tuệ... và hợp tác theo vùng kinh tế khu vực như là với các tam giác, tứ
giác tăng trưởng ASEAN sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ. Thứ ba, sự hài hoà trong
khu vực về các tiêu chuẩn cơng nghiệp, luật đầu tư và các chính sách nội địa
khác sẽ góp phần đẩy nhanh tiến ttrình nhất thể hố. Thứ tư, với những thành
cơng trong vịng đàm phán Urugoay và với sự tăng cường của WTO, APEC,
Hiệp hội ASEAN nhất thiết phải cố gắng giảm thuế quan và phi quan thuế

luật lệ và tập qn quốc tế. Q trình tự do hố thương mại và đầu tư trong tổ
chức ASEAN nói riêng và APEC, GATT, WTO nói chung đều được thực hiện
trên cơ sở giải thốt các nước ra khỏi tình trạng phân biệt đối xử nghiêm trọng
trong các quan hệ thương mại gây cản trở lớn cho phát triển kinh tế thế giới,
trong đó mọi thành viên đều bình đẳng, mọi quyết định đều đạt tới bằng sự nhất
trí chung tơn trọng quan điểm của các nước tham gia. Trên nguyên tắc vừa hợp
tác vừa đấu tranh để tiến hành các cuộc thương lượng tập thể nhằm thiết lập các
thoả thuận và và các luật lệ chung, việc tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế và
khu vực nói chung và AFTA nói riêng giúp chúng ta tránh khỏi tình trạng bị
phân biệt đối xử trong trong quan hệ với các nước, đặc biệt là những nước lớn,
tạo dựng được thế và lực trong thương mại quốc tế, tranh thủ được lợi ích tập
thể của cả khối để nâng cao vai trị và sức cạnh tranh của mình trong quan hệ
với các cường quốc, giải quyết các tranh chấp thương mại với các nước thành
viên.
2. Cắt giảm thuế quan Việt Nam - AFTA theo CEPT
Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ VI, các nguyên thủ quốc gia
ASEAN đã quyết định đẩy nhanh hơn nữa việc thực hiện AFTA. Theo các cam
kết của ASEAN thì:
Sáu nước ASEAN gồm Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore,
Thái Lan sẽ hoàn thành AFTA vào năm 2002, cụ thể là:


+ Đạt ít nhất 85% số dịng thuế của Danh mục giảm thuế (IL) có thuế suất 0 5% vào năm 2000
+ Đạt ít nhất 90% số dịng thuế của IL có thuế suất 0- 5% vào năm 2001
+ Đạt 100% số dịng thuế của IL có thuế suất 0 - 5% vào năm 2002, nhưng
có một số linh hoạt
Việt Nam sẽ tối đa số dòng thuế 0 - 5% vào năm 2003, mở rộng số dòng
0% vào năm 2006
Lào và Myanma sẽ tối đa số dòng thuế 0 - 5% vào năm 2005, mở rộng số
dòng thuế 0% vào năm 2008

với Lào và Myanma là năm 2008). Kể từ năm 1996, mỗi năm các nước
ASEAN phải đưa thêm 20% các mặt hàng từ danh mục hàng tạm thời chưa
giảm thuế (TEL) sang IL. Các thời hạn tương ứng đối với Việt Nam là năm
1999, với Lào và Myanma là năm 2001, Campuchia là 2003. Trong quan hệ
thương mại giữa hai nước ASEAN, chỉ khi một mặt hàng nằm trong IL của cả
hai nước thì mới được hưởng các ưu đãi nói cách khác ưu đãi được đưa ra
trên cơ sở có đi có lại. Danh mục giảm thuế của Việt Nam gồm 1718 dòng
thuế, chiếm 53% tổng số dòng thuế của biểu thuế nhập khẩu.
♦ Danh mục các mặt hàng nông sản chưa chế biến nhạy cảm (SL)
Danh mục các mặt hàng nơng sản chưa chế biến có khả năng gây ảnh hưởng
lớn đến nền kinh tế ASEAN nếu thực hiện giảm thuế quan theo lịch biểu của
chương trình CEPT. Danh mục này được xây dựng dựa trên cơ sở tham khảo
danh mục này của các nước ASEAN và căn cứ vào yêu cầu bảo hộ cao của
sản xuất trong nước đối với một số mặt hàng nông sản chưa chế biến. Thời
hạn đưa các mặt hàng trong Danh mục này vào Danh mục giảm thuế sẽ bắt
đầu từ 2001 và kết thúc vào 2003 (đối với Việt Nam là 2004 và 2006). Các
mặt hàng trong Danh mục này được kéo dài thời hạn giảm thuế quan xuống 0
- 5% cho đến năm 2010 thay vì 2003 như các mặt hàng khác (đối với Việt
Nam là 2013). Đây là các mặt hàng quan trọng đối với mỗi nước nên thường
được bảo hộ rất cao, vì thế bên cạnh thời hạn giảm thuế, các mặt hàng này
còn cần phải có thoả thuận cụ thể về thuế suất bắt đầu thực hiện giảm thuế và
các chế độ đãi ngộ khác. sống ngành.
♦ Danh mục cắt giảm thuế quan chủ yếu bao gồm các mặt hàng hiện đang có
thuế suất thấp hơn 20% và một số mặt hàng có thuế suất cao hơn nhưng Việt
Nam đang có lợi thế xuất khẩu.
Việt Nam đã đưa ra nội dung và kế hoạch thực hiện chương trình cắt giảm
thuế quan nhập khẩu theo cam kết CEPT/AFTA trong năm 2000 và những năm
sau đó. Theo Tổng cục thuế - Bộ Tài chính đến hết năm 1999, Việt Nam đã cắt
giảm thuế 3.580 mặt hàng, chiếm 60 % tổng số dòng thuế dự kiến đưa vào thực
hiện , Danh mục nhạy cảm của Việt Nam gồm 23 dòng thuế, bao gồm các mặt

phẩm, đồ dùng thiết bị với mục đích điều chỉnh tiêu dùng. Do đó hiện nay khi
nền sản xuất trong nước của Việt Nam đã phần nào phát triển và đáp ững được
một phần các sản phẩm cần thiết phục vụ cho sản xuất mà trước đây phải nhập
từ nước ngoài, nhu cầu nâng cao các mức thuế suất thuế nhập khẩu nhằm mục
đích bảo hộ cho các ngành sản xuất trong nước là thật sự cần thiết. Điều này sẽ
phần nào mâu thuẫn với nội dung thực hiện của chương trình cắt giảm thuế khi
Việt Nam cam kết tham gia thực hiện AFTA.
Ngoài ra khi cân nhắc, xem xét để thực hiện chương trình cắt giảm thuế theo
Hiệp định CEPT một vấn đề nữa cũng được đặt ra là Biểu thuế nhập khẩu của


Việt Nam có một số điểm khơng thật sự phù hợp với thơng lệ quốc tế do đó gây
khó khăn khi Việt Nam tham gia thực hiện các Hiệp định quốc tế như Hiệp định
CEPT. Trong quá trình xây dựng các Danh mục hàng hố và chương trình giảm
thuế theo Hiệp định CEPT, chúng ta đã gặp khơng ít khó khăn do xuất phát
điểm của nền kinh tế Việt Nam thấp hơn so với các nước thành viên khác. Hơn
nữa về mặt kỹ thuật, ngồi các điểm cịn khác biệt về hệ thống thuế áp dụng đối
với hàng xuất nhập khẩu và hệ thống mã số của Biểu thuế Việt Nam so với các
nước ASEAN khác, các thuế suất của Biểu thuế hiện hành đòi hỏi được điều
chỉnh cơ bản để phù hợp với sự phát triển của các ngành sản xuất trong nước.
3. Huỷ bỏ các hạn chế về định lượng và hàng rào phi quan thuế
Các biện pháp phi thuế quan mà các nước ASEAN áp dụng là rất đa dạng,
đặc biệt là các biện pháp về tiêu chuẩn kỹ thuật. Ở Việt Nam, những biện pháp
phi thuế quan còn rất đơn giản và chủ yếu là các biện pháp giấy phép, hạn
ngạch,… Do đó để việc thực hiện loại bỏ các biện pháp phi thuế quan theo Hiệp
định CEPT của Việt Nam có lợi nhất, đáp ứng được yêu cầu của bảo hộ sản xuất
trong nước, ta đã có phương án nghiên cứu ban hành bổ sung các biện pháp phi
quan thuế tương tự như các nước ASEAN đang áp dụng trước khi loại bỏ
chúng. Chính phủ Việt Nam đã có nỗ lực trong việc huỷ bỏ việc kiểm soát bằng
hạn ngạch trừ một số sản phẩm như gạo và những mặt hàng nước nhập khẩu

mục tiêu loại bỏ các hàng rào phi thuế quan như hạn chế số lượng, hạn ngạch
giá trị nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu có tác dụng hạn chế định lượng... trong
vòng năm năm sau khi một sản phẩm được hưởng ưu đãi thuế quan. Các nước
đã xác định nhiều biện pháp ảnh hưởng rộng và chủ yếu đối với thương mại
hàng hoá trong khu vực ASEAN là phụ thu hải quan và Các hàng rào cản trở
thương mại (TBT). Tại phiên họp Hội đồng AFTA lần thứ tám, các nước
ASEAN đã thống nhất quyết định thời hạn loại bỏ Các hàng rào cản trở thương
mại là hết năm 2003.
Các hàng rào phi thuế quan phổ biến nhất của ASEAN theo dòng thuế
năm 1995
Phụ thu hải quan: 2.683 dòng thuế
Phụ phí: 126 dịng thuế
Nhập khẩu theo kênh độc quyền: 65 dòng thuế
Điều hành của thương mại nhà nước: 10 dòng thuế
Các hàng rào cản trở thương mại (TBT): 568 dòng thuế
Yêu cầu về đặc điểm sản phẩm: 407 dòng thuế
Các yêu cầu về tiếp thị: 3 dòng thuế
Các quy định kỹ thuật: 3 dòng thuế
(* nguồn: Ban thư ký ASEAN, 1995)



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status