Đặc điểm siêu âm và một số yếu tố liên quan đến thiếu ối ở thai phụ điến khám thai tại bệnh viện đa khoa trung ương thái nguyên năm 2014 - Pdf 79

..

BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÁI NGUYÊN

TRẦN THỊ HÀ

ĐẶC ĐIỂM SIÊU ÂM
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THIỂU ỐI
Ở THAI PHỤ ĐẾN KHÁM THAI TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TRUNG ƢƠNG THÁI NGUYÊN NĂM 2014
Chuyên ngành: Sản Phụ khoa
Mã số: CK 62 72 13 03

LUẬN ÁN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II

HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN ĐỨC HINH

THÁI NGUYÊN, NĂM 2014


i

LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi đƣợc thực
hiện tại Bệnh viện Đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai cơng bố trong bất kỳ
cơng trình nào khác.
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2014
T

T

ả u

Trần Thị Hà


iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CSNO

: Chỉ số nƣớc ối

ĐSTĐNO : Độ sâu tối đa nƣớc ối
SA

: Siêu âm

TTNO

: Thể tích nƣớc ối


iv

MỤC LỤC
Ơ


Thái Nguyên năm 2014 ..........................................................................................49
4.2. Một số yếu tố liên quan đến thiểu ối ở bà mẹ đến khám thai .......................59
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 70
KHUYẾN NGHỊ ....................................................................................................71
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................72
PHIẾU THU THẬP THÔNG TIN
PHỤ LỤC
DANH SÁCH BỆNH NHÂN


vi

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1. Thể tích nƣớc ối theo tuổi thai ................................................................8
Bảng 3.1. Mức độ thiểu ối theo chỉ số nƣớc ối .....................................................36
Bảng 3.2. Tỷ lệ thiểu ối theo tuổi của thai phụ .....................................................37
Bảng 3.3. Phân bố thiểu ối theo tuổi thai ...............................................................39
Bảng 3.4. Số đo đƣờng kính lƣỡng đỉnh của thai nhi trên siêu âm ......................39
Bảng 3.5. Số đo chu vi vòng đầu của thai nhi trên siêu âm .................................40
Bảng 3.6. Số đo đƣờng kính trung bình bụng của thai nhi trên siêu âm .............40
Bảng 3.7. Số đo chu vi vòng bụng của thai nhi trên siêu âm ...............................41
Bảng 3.8. Số đo chiều dài xƣơng đùi của thai nhi trên siêu âm ...........................41
Bảng 3.9. Số đo độ dày bánh rau của thai nhi trên siêu âm .................................42
Bảng 3.10. Số đo tần số tim thai trên siêu âm .......................................................42
Bảng 3.11. Trọng lƣợng thai nhi trên siêu âm .......................................................43
Bảng 3.12. Liên quan giữa dị tật thai với thiểu ối................................................. 43
Bảng 3.13. Liên quan giữa ngôi thai với thiểu ối ..................................................44
Bảng 3.14. Liên quan giữa thai chậm phát triển với thiểu ối ...............................44
Bảng 3.15. Liên quan giữa bệnh của mẹ trong thời gian mang thai với thiểu ối 45

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Thiểu ối là lƣợng nƣớc ối giảm so với lƣợng nƣớc ối bình thƣờng tính
theo tuổi thai và ở dƣới đƣờng percentile thứ 5 [8],[11]. Thiểu ối liên quan
chặt chẽ tới sự phát triển của thai nhi cũng nhƣ chất lƣợng cuộc sống của trẻ
sau này. Chamberlain và cộng sự đã thấy tỷ lệ tử vong chu sinh tăng lên 47
lần khi có thiểu ối và tăng lên 13 lần khi thể tích nƣớc ối (TTNO) hạn chế so
với TTNO bình thƣờng [31]. Mọi tình trạng về TTNO (quá ít hay quá nhiều)
đều làm tăng tỷ lệ tử vong và mắc bệnh chu sinh [34].
Các vấn đề về thiểu ối và yếu tố liên quan đến thiểu ối trên thế giới đã
đƣợc nghiên cứu từ lâu. Rất nhiều cơng trình khoa học đã cơng nhận rằng
nƣớc ối đảm nhiệm chức năng dinh dƣỡng, che chở bảo vệ phôi thai [8].
Nƣớc ối thƣờng xuyên đƣợc đổi mới, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nƣớc ối
hoàn toàn đƣợc đổi mới cứ 3 giờ 1 lần [8], [45], [76]. Nƣớc ối cũng có thể
mất đi do rỉ ối, do các yếu tố bất thƣờng của thai hay do bệnh lý của ngƣời
mẹ. Chính vì vậy, thiểu ối là một bệnh lý thƣờng gặp trên lâm sàng. Divon
(1995) khám cho 139 thai phụ có tuổi thai trên 41 tuần, với tiêu chuẩn chẩn
đoán thiểu ối khi đo CSNO ≤ 50mm, tỷ lệ này là 10% [37]. Shaw và cộng sự
(1997), tỷ lệ thiểu ối 10% [70]. Nghiên cứu của Triệu Thúy Hƣờng (2002), tỷ
lệ thiểu ối 4,07% [16], Nguyễn Thanh Hà (2004), tỷ lệ thiểu ối 1,81% [10].
Thiểu ối có thể xác định bằng lâm sàng và nhiều phƣơng pháp khác
nhau, nhƣng siêu âm (SA) là phƣơng pháp giúp chẩn đoán sớm tình trạng thiểu
ối, cho kết quả chính xác và có thể áp dụng đƣợc cho mọi trƣờng hợp có thai.
Vì vậy, hiện nay SA đánh giá thể tích nƣớc ối đã thay thế cho mọi kỹ thuật
chẩn đoán thiểu ối trƣớc đây. Khơng những thế, SA cịn là phƣơng tiện quan
trọng để chẩn đốn về hình thái thai nhi. SA đã thể hiện vai trò đặc biệt trong
lĩnh vực sản khoa và ngày càng phát triển, phổ cập [32]. SA là phƣơng tiện



dần lên thành buồng ối [17]. Buồng ối là khoang đầu tiên xuất hiện trong
phôi. Phelan cho rằng buồng ối xuất hiện ở ngày thứ 11 hay 12 sau khi thụ
tinh [59]. Lúc này phôi là một đĩa tròn dẹt gồm hai lớp và đƣợc gọi là đĩa phơi
lƣỡng bì [64]. Khi hình thành, buồng ối chứa đầy dịch trong mà nguồn gốc có
thể là từ huyết thanh ngƣời mẹ, đó là nƣớc ối [59]. Ban đầu buồng ối nằm ở
mặt lƣng của phơi (mặt ngoại bì), nhỏ hơn khoang phơi nang, sau đó nhanh
chóng bành trƣớng rộng ra và ôm gọn phôi vào trong. Khi phôi đƣợc 8 tuần
buồng ối đã bao phủ tồn bộ phơi. Màng ối ngày càng giãn rộng tiến sát tới
màng đệm và dính vào màng đệm từ tuần thứ 8. Tới tháng thứ 4 buồng ối
bành trƣớng rất mạnh làm cho màng rụng trứng căng giãn, dán sát vào màng
rụng tử cung dẫn đến biến mất khoang tử cung.
1.1.2. Sự luân chuyển nước ối
Từ ngày thứ 12 đến ngày thứ 28 sau khi thụ tinh, tuần hồn thai nhi đƣợc
thành lập, có sự thẩm thấu giữa tuần hoàn và nƣớc ối [8]. Thể tích nƣớc ối
tăng lên đều đều trong suốt quá trình thai nghén, vào đầu tuần thứ 10 thể tích
này là khoảng 30 ml, và đạt tới đỉnh cao nhất là khoảng 1000 ml vào tuần thứ
34 - 36. Khi thai ở quý III, mỗi giờ có khoảng 500 ml nƣớc đi vào và đi ra
khỏi buồng ối [57], đến giai đoạn cuối quý III của thời kỳ thai nghén thể tích
nƣớc ối bắt đầu giảm, ở tuần thứ 40 thể tích này cịn lại khoảng 800 ml. Tốc


4

độ giảm thể tích nƣớc ối có thể tới 150 ml/tuần từ tuần thứ 38 đến tuần 43 của
thời kỳ thai nghén [31].
Nƣớc ối thƣờng xuyên luân chuyển với tốc độ thay cũ đổi mới ƣớc lƣợng
khoảng 3600ml/giờ [31]. Có nhiều con đƣờng để nƣớc ối đi vào (tạo nƣớc ối)
và đi ra khỏi buồng ối (tiêu nƣớc ối). Tham gia tạo nƣớc ối có hai nguồn
chính là nƣớc tiểu của thai và dịch tiết của phổi thai, ngoài ra có một phần từ
da thai nhi. Nƣớc ối tiêu đi theo hai con đƣờng chính là thai nuốt nƣớc ối và

thai, tƣơng đƣơng 300ml dịch khi thai đủ tháng. Dƣới 1% lƣợng dịch chế tiết
của phổi cần thiết cho quá trình giãn nở phổi [29]. Phần dịch phổi còn lại bị
đẩy ra khỏi phổi hoặc tham gia tạo thành nƣớc ối hoặc bị thai nuốt vào dạ
dầy. Phổi vừa tham gia vào tạo nƣớc ối vừa hấp thu nƣớc ối. Hiện nay chƣa
có khả năng đánh giá TTNO đƣợc hấp thu qua phổi [26].
* Da thai nhi
Trong 20 tuần đầu tiên da thai có cấu trúc đơn giản chỉ có 4 lớp tế bào.
Các nghiên cứu trên thực nghiệm cho thấy da thai hoàn toàn cho nƣớc, natri,
clo, ure và creatinin tự do đi qua. Sự vận chuyển này diễn ra theo cơ chế thụ
động [26], [36]. Theo Richard (1991) trong nửa đầu thời kỳ thai nghén, nƣớc
ối có nguồn gốc từ huyết tƣơng ngƣời mẹ và thai, qua màng đệm và da thai,
có nồng độ protein thấp. Từ tuần thứ 25 trở đi, da thai nhi trở nên sừng hóa
làm cho dịch thẩm phân giảm dần, đến tuần thứ 28 cấu trúc da ổn định vĩnh
viễn, các tuyến mồ hôi bắt đầu hoạt động, chấm dứt con đƣờng vận chuyển
chính nƣớc ối qua da thai. Lúc này tuyến mồ hôi tham gia tạo nƣớc ối với một
lƣợng đáng kể và nhƣ vậy da thai vẫn tiếp tục đóng vai trị điều hịa lƣợng
nƣớc ối trong suốt quá trình thai nghén [4], [21], [58], [64].
* Nguồn gốc nước ối từ màng ối và dây rốn
Màng ối xuất hiện vào ngày thứ 7 - 8 sau khi thụ thai, từ tế bào lƣng của
lá thai ngoài. Màng ối có hoạt động trao đổi chất và chứa các men cần thiết
cho sự sản xuất hormon và sự tổng hợp prostaglandin. Nội sản mạc có cấu


6

trúc liên bào bài tiết để làm trơn các lá phúc mạc. Trong giai đoạn đầu khi thai
chƣa sản xuất nƣớc tiểu, các tế bào biểu mô màng ối cũng tham gia bài tiết
một số lƣợng dịch vào buồng ối [8].
Dây rốn đƣợc bao phủ bởi một lớp tế bào biểu mơ có ít nhung mao ở cực
ngọn, liên kết với nhau bởi các cầu nối chắc. Đến nửa sau của thời kỳ thai

- Thai thiếu oxy đã hồi phục uống 271 ± 24ml/24giờ/kg.
Tóm lại, mỗi ngày thai uống lƣợng nƣớc ối bằng khoảng 20% đến 25%
thân trọng của thai, ít hơn so với lƣợng nƣớc tiểu do thai bài tiết ra [29].
* Màng ối
Màng ối là màng xốp có tính chất bán thấm đối với nƣớc các chất điện
giải ure, glucose, creatinin, protein. Nƣớc ối đi qua màng ối theo cơ chế thụ
động, với chiều từ buồng ối vào cơ thể mẹ, lƣu lƣợng khoảng 0,3- 0,7ml/giờ.
Theo Brace (1997), mỗi ngày ƣớc tính có khoảng 100ml nƣớc ối thoát ra buồng
ối qua đƣờng màng ối [29].
* Dây rốn
Nƣớc ối đƣợc trao đổi qua dây rốn hàng ngày, thai đủ tháng có 50ml
nƣớc ối đƣợc trao đổi qua dây rốn trong vòng 24 giờ. Khi dây rốn khơng đƣợc
ni dƣỡng sẽ bị khơ héo đi tuần hồn trong dây rốn bị cản trở.
1.1.3. Thể tích và tính chất nước ối
* Thể tích nước ối
Hiện nay ngƣời ta chƣa biết rõ cơ chế điều hòa cân bằng thể tích nƣớc ối.
Thể tích nƣớc ối là kết quả của một quá trình cân bằng động, rất nhạy cảm,
mong manh và dễ bị phá vỡ [12].
Theo Beall M.H cho biết khi thai đủ tháng TTNO bắt đầu giảm dần và
đặc biệt giảm đi nhiều khi thai già tháng với tốc độ khoảng 8% mỗi tuần [27].
Thể tích nƣớc ối tăng một cách nhanh chóng từ thể tích trung bình 60ml ở
tuần thứ 12 lên đến 980ml ở tuần thứ 36 [61]. Sau đó nƣớc ối giảm dần khi
gần đến ngày sinh [58].


8

Ở tuần 40 lƣợng nƣớc ối trung bình 800ml, sau tuần 40 lƣợng nƣớc ối là
250ml [4], [78].
Theo Queenan J.T và Whitfielf C.R (1972), lƣợng nƣớc ối thay đổi theo

25-26

670

32-36

980

40

840

42

540

* Tính chất lý học của nước ối
Nƣớc ối có màu trắng trong những tháng đầu, vào gần cuối của thời kỳ
thai nghén trở lên hơi đục do lẫn chất gây, tế bào thƣợng bì, lơng, chất bã, tế
bào đƣờng tiết niệu, tế bào âm đạo [1], [9].
Hơi nhớt.
Mùi tanh nồng.
Tỷ trọng 1001.
Hơi kiềm: pH từ 7,1-7,3.
* Tính chất hóa học của nước ối
97% là nƣớc, 2-3% là muối khống và chất hịa tan.
Chất vơ cơ: Na+, K+, Mg++, Ca++.
Chất hữu cơ: protein, glucose, lipit, các hormone và các chất màu [9].



ối khác nhau tuỳ theo từng tác giả. Theo Phan Trƣờng Duyệt và Nguyễn Đức
Hinh, thiểu ối là lƣợng nƣớc ối giảm so với lƣợng nƣớc ối bình thƣờng tính
theo tuổi thai và ở dƣới đƣờng percentile thứ 5 [8],[11]. Theo tác giả Nguyễn
Đức Hinh, chỉ số nƣớc ối (CSNO) theo nhóm tuổi thai (mm) nhƣ sau:


10

Bảng 1.2. Chỉ số nước ối (mm) theo nhóm tuổi thai
Tuổi thai

5%

10%

50%

90%

95%

Thai 28 - 37 tuần

86

91

130

180

149mm [49].
1.2.2. Tỷ lệ thiểu ối
Tỷ lệ thiểu ối thay đổi tùy theo từng tác giả, tiêu chuẩn chẩn đốn, đối
tƣợng nghiên cứu, phƣơng pháp xác định thăm dị.
Theo Hill và cộng sự (1983) thăm dò cho 1408 thai phụ thấy tỷ lệ thiểu
ối là 4,3% [43].
Divon (1995) khám cho 139 thai phụ có tuổi thai trên 41 tuần, với tiêu
chuẩn chẩn đoán thiểu ối khi đo CSNO ≤ 50mm, thì tỷ lệ này cũng là 10%
[37]. Shaw và cộng sự (1997) thì tỷ lệ này là 10% [70].
Nghiên cứu của Triệu Thúy Hƣờng (2002), tỷ lệ thiểu ối 4,07% [16].
Nguyễn Thanh Hà (2004), tỷ lệ thiểu ối 1,81% [10]. Nguyễn Thị Thu Hồng
(2009), tỷ lệ thiểu ối 1,82% [15]. Theo tác giả Ninh Văn Minh (2011) tỷ lệ
thiểu ối ở thai từ 28 tuần trở lên là 2,1% [18]
1.2.3. Hậu quả của thiểu ối
Chamberlain và cộng sự (1984) nghiên cứu thấy rằng thiểu ối gây biến
chứng từ 0,5 - 5% và cũng liên quan đến tăng tỷ lệ bệnh tật, tỷ lệ tử vong chu
sinh, tăng tỷ lệ đẻ ngôi ngƣợc và mổ lấy thai cho mẹ [31]. Theo Stoll (1990)


11

tỷ lệ biến chứng của thiểu ối là 1,9% và tỷ lệ này ở Casey (2000) là 2,3% và
Chandra (2000) là 4 - 5% [74],[30],[33].
1.2.3.1. Hậu quả với con
* Phân su trong nước ối
Khi thể tích nƣớc ối giảm dây rốn sẽ bị chèn ép, hoặc giảm chức năng
bánh rau và làm giảm cung cấp oxy và các chất dinh dƣỡng cho thai, khi oxy
cung cấp cho thai giảm kéo dài hoặc giảm quá mức dẫn đến tình trạng phân
bố lại tuần hoàn thai nhi nhằm cung cấp oxy cho các cơ quan của thai: tim và
não là các cơ quan trọng yếu cần đƣợc ƣu tiên cung cấp oxy do đó giảm cung

14,2/1000 [50].
Nghiên cứu của Casey (2000) tỷ lệ tử vong ngay sau đẻ của nhóm thiểu
ối là 1,4%, của nhóm chứng là 0,3% với p < 0,03, tỷ lệ tử vong chu sinh của
nhóm thiểu ối là 5%, nhóm chứng là 3% với p < 0,001 [30]. Chamberlain và
cộng sự (1984) nghiên cứu thấy tỷ lệ tử vong ngay sau đẻ và tử vong chu sinh
cũng cao hơn nhóm chứng nhiều [31].
Mercer và cộng sự (1984) nghiên cứu thấy tỷ lệ tử vong chu sinh ở nhóm
bệnh cao gấp 6 lần so với nhóm chứng [51]. Theo Wolff (1994) 7,2% tử vong
chu sinh ở thai phụ thiểu ối, còn theo Golan (1994) là 10,7% [79] , [40].
Christianson (1999) nghiên cứu biến chứng của thiểu ối mãn tính, ơng
thấy ngồi các biến chứng với thai nhi có chỉ số Apgar thấp, sơ sinh bị bệnh,
tử vong chu sinh cao, còn một số biến chứng khác tuy không phải là quan
trọng nhất nhƣng lại thƣờng gặp, đó là thiểu ối làm cho buồng tử cung bị hẹp
lại, tử cung co lại gây ra chèn ép và biến dạng chi, ông thấy rằng nếu thiểu ối
kéo dài 2 tuần thì 57% thai nhi bị chèn ép, các biến dạng xảy ra ở tay và chân
gây ra tay và chân bị khoèo sau khi đẻ [35].
Triệu Thuý Hƣờng (2002) nghiên cứu thấy tỷ lệ tử vong con sau đẻ ở
những thai phụ bị thiểu ối có tuổi thai từ 28 tuần trở lên là 8,4%o, trong đó
3,72%o tử vong sau đẻ khơng phải do thai bị dị dạng [16].
1.2.3.2. Hậu quả đối với mẹ


13

* Tăng tỷ lệ đẻ ngôi ngược do thiểu ối làm cho ngơi bình chỉnh khơng tốt
Mercer và cộng sự (1984) thiểu ối làm tăng tỷ lệ đẻ ngôi ngƣợc từ 8-13%
[51]. Golan và cộng sự (1994) 17% thai phụ thiểu ối đẻ ngôi ngƣợc [40].
* Tăng tỷ lệ mổ lấy thai
Theo tác giả Triệu Thúy Hƣờng và cộng sự (2002) cho thấy tỷ lệ mổ lấy
thai của nhóm thai thiểu ối cao hơn so với nhóm khơng thiểu ối có ý nghĩa

có nguy cơ cao và tìm ĐSTĐNO bình thƣờng từ 2 - 8cm, dƣới 1cm là thiểu
ối, từ 1 - 2cm là thiểu ối ở mức giới hạn [31]. Phƣơng pháp đánh giá này
khơng tính đến biến đổi sinh lý của TTNO theo tuổi thai.
Phương pháp đo hai kích thước nước ối
Do Manngan và cộng sự đề xuất năm 2011 [47]. Hai kích thƣớc nƣớc
ối là tích số của ĐSTĐNO với chiều ngang tối đa. Cả hai kích thƣớc này đều
cùng đo ở một vùng nƣớc ối rộng nhất. Các giới hạn bình thƣờng của hai kích
thƣớc nƣớc ối là:
Nƣớc ối bình thƣờng từ 15,1cm3 đến 50cm3.
Thiểu ối là dƣới 15cm3.
Đa ối là trên 50cm3.
Phương pháp đo chỉ số nước ối
Phelan và cộng sự (1987), [60] đã mô tả lần đầu tiên kỹ thuật đo CSNO.
CSNO là tổng ĐSTĐNO ở 4 góc của tử cung (cịn gọi là kỹ thuật đo 4 góc).
Từ nhiều năm nay, tác giả Phan Trƣờng Duyệt ở Bệnh viện Phụ sản
Trung ƣơng đã sử dụng phƣơng pháp đo các túi ối rộng nhất tại 4 vùng thăm
dò trên rốn bên phải, trên rốn bên trái, dƣới rốn bên phải, dƣới rốn bên trái rồi
chia 4 để có số đo trung bình [7].
Số trung bình dƣới 7mm (tƣơng đƣơng CSNO dƣới 28mm) là nƣớc ối
q ít thì phải đình chỉ thai nghén ngay bằng mổ lấy thai trong vịng 6 giờ.
Số trung bình từ 7mm đến 10mm (tƣơng đƣơng CSNO từ 28mm đến
40mm) là nƣớc ối giảm, cần theo dõi và đo lại sau 6 giờ. Nếu giảm thì nên
đình chỉ thai nghén nếu thai đã đủ tháng.


15

Số trung bình trên 10mm đến 15mm (tƣơng đƣơng CSNO trên 40mm
đến 60mm) là nƣớc ối giảm ít nhƣng cũng phải theo dõi hàng ngày.
Số trung bình trên 15mm (tƣơng đƣơng CSNO trên 60mm) là ối bình thƣờng.



16

1.3.2. Đường kính lưỡng đỉnh và chu vi vịng đầu
Trong trƣờng hợp thiểu ối máu đƣợc ƣu tiên cung cấp cho não, do đó duy
trì sự phát triển của não, duy trì sự phát triển đƣờng kính lƣỡng đỉnh, chu vi
đầu bình thƣờng.
1.3.3. Đường kính trung bình bụng thai và chu vi vịng bụng
Thai nhi có khả năng tự điều chỉnh và bù đắp những thiếu hụt dƣỡng khí
trong tử cung bằng cách:
Điều chỉnh lƣợng máu đến nuôi dƣỡng các cơ quan thiết yếu trong cơ
thể: tăng lƣợng máu đến não. Thoạt đầu tăng tỷ lệ dòng chảy giữa động mạch
cảnh và động mạch chủ, sau đó nếu vẫn tiếp tục thiếu oxy thì mạch máu não
sẽ giãn để có thể dự trữ máu nhiều hơn. Giảm lƣợng máu đến thận và phổi.
Thay đổi các nội tiết tố: tăng chất co mạch arginine vasopressin (một yếu
tố góp phần gián tiếp làm giảm lƣợng nƣớc ối), tăng chất catecholamines
trong hệ tuần hồn làm giảm glycogen từ đó làm giảm khối lƣợng gan, cơ và
dự trữ mỡ.
Hệ thần kinh giảm hoạt động của các cơ xƣơng và giảm nhịp hô hấp để
giảm tiêu thụ oxy, có thể đến 17% [4].
Hay gặp giảm lƣợng máu đến phổi là tình trạng thiểu sản phổi. Sinh lý
bệnh học rất phức tạp và hiện tƣợng thiểu sản phổi liên quan đến nhiều hiện
tƣợng: áp lực ngoài lồng ngực, cử động hô hấp của thai kém và gradient giữa
áp lực trong lòng các phế nang và khoang ối. Khả năng xảy ra thiểu sản phổi
phụ thuộc vào nhiều yếu tố [4]:
+ Thời điểm xuất hiện thiểu ối: nguy hiểm nhất là vào giai đoạn từ 17 đến 26
tuần vì giai đoạn này là giai đoạn hình thành và phát triển các phế nang.
+ Thời gian kéo dài của thiểu ối: nhất là kéo dài trên 1 tuần.
+ Mức độ trầm trọng của thiểu ối: tiên lƣợng cho các trƣờng hợp này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status