Thực trạng & Một số Giải pháp nhằm khai thác khách du lịch nội địa tại chi nhánh Cty cp du lịch thanh hóa tại Hà Nội - Pdf 80

Lời mở đầu
Việc áp dụng chính sách Đổi mới và mở cửa nền kinh tế tại Việt Nam
đã giúp nâng cao đời sống nhân dân. Dù đất nớc còn nghèo nhng nhu cầu thiết
yếu của dân chúng đợc đảm bảo, từ đó xuất hiện các nhu cầu về vui chơi giải
trí, khám phá những điều mới lạ và những chân trời mới.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Du lịch Việt Nam thì thị trờng khách
du lịch nội địa tăng mạnh từ 1.000.000 lợt khách năm 1990 lên 6.500.000 lợt
khách năm 1996 và 8.500.000 lợt khách năm 1997. Theo Báo cáo tổng kết
công tác năm 2002 và phơng hớng, nhiệm vụ năm 2003 của ngành du lịch (Sở
Du lịch, ngày 31, tháng 12 năm 2002):
- Thị trờng du lịch nội địa tăng trởng ổn định, số lợng khách du lịch nội
địa ớc khoảng 13.000.000 lợt ngời, đạt 107,4% kế hoạch năm, tăng
11,6% so với năm 2001.
- Trên cơ sở mục tiêu phát triển du lịch trong 5 năm 2001-2005 và mục
tiêu chiến lợc phát triển du lịch Việt Nam 2001-2010, mục tiêu cụ thể
của du lịch Việt Nam trong năm 2003 là phấn đấu đón tiếp và phục vụ
14 triệu lợt khách du lịch nội địa.
Nh vậy, cùng với việc mức sống của ngời dân ngày càng đợc nâng cao,thì sự
quan tâm của Nhà nớc để phát triển ngành du lịch cũng đã tác động không nhỏ
đến ý thức, tâm lí đi du lịch của ngời dân, nói một cách khác thì nó tạo điều
kiện kích thích ngời dân đi du lịch.
Mặt khác, Công ty cổ phần du lịch Thanh Hóa đã tạo dựng đợc tên tuổi
trên thơng trờng, doanh thu từ hoạt động lữ hành inbound chiếm khoảng 70%
tổng doanh thu của hoạt động kinh doanh lữ hành của Công ty. Nhìn chung,
mảng thị trờng này của Công ty đã tơng đối ổn định và hiện nay Công ty đang
có kế hoạch đẩy mạnh khai thác thị trờng khách du lịch nội địa, một thị trờng
tiềm năng rất hấp dẫn.
1
Vậy trên đây chính là hai lí do khách quan và chủ quan giải thích việc lựa
chọn đề tài Thực trạng và một số giải pháp nhằm khai thác khách du lịch
nội địa tại chi nhánh Công ty cổ phần du lịch Thanh hóa tại Hà Nội _ 161

Trong quá trình phát triển đến nay, hình thức các đại lí du lịch vẫn liên tục đợc
mở rộng và tiến triển.
Một cách định nghĩa phổ biến hơn là căn cứ vào hoạt động tổ chức chơng
trình du lịch trọn gói của các công ty lữ hành. Khi đã phát triển ở mức độ cao
hơn so với việc làm trung gian thuần túy, các công ty lữ hành đã tạo ra các sản
phẩm của mình bằng cách tập hợp các sản phẩm riêng rẽ nh dịch vụ khách sạn,
vé máy bay, ô tô, tàu thuỷ và các chuyến tham quan thành một sản phẩm (ch-
ơng trình du lịch) hoàn chỉnh và bán cho khách hàng du lịch với một mức giá
3
gộp. ở đây công ty lữ hành không chỉ dừng lại ở ngời bán mà trở thành ngời
mua sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch.
Trong cuốn Từ điển quản lí du lịch, khách sạn và nhà hàng, công ty lữ
hành đợc định nghĩa rất đơn giản là các pháp nhân tổ chức và bán các chơng
trình du lịch. ở Việt Nam, doanh nghiệp lữ hành đợc định nghĩa: Doanh
nghiệp lữ hành là đơn vị có t cách pháp nhân, hạch toán độc lập, đợc thành lập
nhằm mục đích sinh lợi bằng việc giao dịch, kí kết các hợp đồng du lịch và tổ
chức thực hiện các chơng trình du lịch đã bán cho khách du lịch (Thông t hớng
dẫn thực hiện Nghị định 09/CP của Chính phủ về tổ chức và quản lí các doanh
nghiệp du lịch TCDL- Số 715/TCDL ngày 9/7/1994).
1.1.1.2. Phân loại công ty lữ hành
Có nhiều cách phân loại các công ty lữ hành. Mỗi quốc gia có một cách phân
loại phù hợp với điều kiện phù hợp với điều kiện thực tế của hoạt động du lịch.
Các tiêu thức thông thờng dùng để phân loại bao gồm:
- Sản phẩm chủ yếu của công ty lữ hành: dịch vụ trung gian, du lịch trọn
gói...
- Phạm vi hoạt động của công ty lữ hành.
- Qui mô và phơng thức hoạt động của công ty lữ hành
- Quan hệ của công ty lữ hành với khách du lịch.
- Qui định của các cơ quan quản lý du lịch
Hiện nay cách phân loại chủ yếu đối với các công ty lữ hành đợc áp dụng tại

lịch bán
lẻ
Các
điểm
bán độc
lập
Các
công ty
lữ hành
tổng
hợp
Các
công ty
lữ hành
nhận
khách
Các
công ty
lữ hành
gửi
khách
Các công
ty lữ hành
quốc tế
Các công
ty lữ hành
nội địa
Các công ty lữ hành lớn, với hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật phong phú
từ các công ty hàng không tới các chuỗi khách sạn, hệ thống ngân hàng v.v
đảm bảo phục vụ tất cả các nhu cầu du lịch của khách từ khâu đầu tiên đến khâu

du lịch
Các công ty lữ hành du lịch có quy mô trung bình phù hợp với điều kiện
Việt Nam có cơ cấu tổ chức đợc thể hiện trong sơ đồ 2.
Sơ đồ: cơ cấu tổ chức của một công ty lữ hành du lịch
Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận:
Hội đồng quản trị thờng chỉ tồn tại ở các doanh nghiệp cổ phần. Đây là
bộ phận quyết định những vấn đề quan trọng nhất của công ty nh chiến lợc,
chính sách.
7
Hội đồng quản trị
Giám đốc
Các bộ
phận tổng
hợp
Các bộ
phận
nghiệp vụ
du lịch
Các bộ
phận hỗ
trợ và phát
triển
Tài
chính
kế
toán
Tổ
chức
hành
chính

nguồn khách du lịch đến với công ty.
Phối hợp với phòng điều hành, tiến hành xây dựng các chơng trình du
lịch từ nội dung đến mức giá, phù hợp với nhu cầu của khách, chủ động trong
việc đa ra những ý đồ mới về sản phẩm của công ty lữ hành.
Kí kết hợp đồng với các hãng, các công ty du lịch nớc ngoài, các tổ chức
cá nhân trong và ngoài nớc để khai thác các nguồn khách quốc tế vào Việt
Nam, khách nớc ngoài tại Việt Nam và khách du lịch Việt Nam.
Duy trì các mối quan hệ của công ty với các nguồn khách, đề xuất và xây
dựng phơng án mở các chi nhánh, đại diện của công ty ở trong nớc và trên thế
giới.
Đảm bảo hoạt động thông tin giữa công ty lữ hành với các nguồn khách.
Thông báo các bộ phận có liên quan trong công ty về kế hoạch đoàn khách, nội
dung hợp đồng cần thiết cho việc phục vụ khách. Phối hợp với các bộ phận có
liên quan theo dõi việc thanh toán và quá trình thực hiện hợp đồng phục vụ
khách.
Phòng thị trờng phải thực sự trở thành chiếc cầu nối giữa thị trờng với
doanh nghiệp. Trong điều kiện nhất định, phòng thị trờng có trách nhiệm thực
hiện việc nghiên cứu và phát triển, là bộ phận chủ yếu trong xây dựng các chiến
lợc, sách lợc hoạt động hớng tới thị trờng của công ty.
Phòng thị trờng thờng đợc tổ chức dựa trên những tiêu thức phân đoạn
thị trờng và thị trờng chủ yếu của công ty lữ hành. Nó có thể đợc chia thành các
8
nhóm theo khu vực địa lí (Châu Âu, Bắc Mĩ, Đông Nam á ) hoặc theo đối t -
ợng khách (công vụ, quá cảnh, khách theo đoàn v.v ). Dù đ ợc tổ chức theo
tiêu thức nào thì phòng thị trờng vẫn thực hiện các cộng việc nói trên.
- Phòng điều hành đợc coi nh bộ phận tổ chức sản xuất của công ty lữ
hành, nó tiến hành các công việc để đảm bảo thực hiện các sản phẩm của
công ty. Phòng điều hành nh cầu nối giữa công ty lữ hành với thị trờng
cung cấp dịch vụ du lịch.
Do vậy, phòng điều hành thờng đợc tổ chức theo các nhóm công việc

tiếp thị thông qua hớng dẫn viên.
Phòng thị trờng, phòng điều hành, phòng hớng dẫn là ba bộ phận có
mối quan hệ khăng khít, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, cơ chế hoạt động
rõ ràng, hợp lí. Quy mô của phòng ban phụ thuộc vào quy mô và nội dung tính
chất các hoạt động của công ty. Tuy nhiên dù ở quy mô nào thì nội dung và tính
chất công việc của các phòng ban về cơ bản vẫn nh đã nêu.
Khối các bộ phận tổng hợp thực hiện các chức năng nh tại tất cả các
doanh nghiệp khác theo đúng tên gọi của chúng.
- Phòng tài chính kế toán có những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
Tổ chức thực hiện các công viêch tài chính kế toán của công ty nh theo
dõi ghi chép chi tiêu của doanh nghiệp theo đúng hệ thống tài khoản và chế độ
kế toán của nhà nớc, theo dõi và phản ánh tình hình sử dụng vốn, tài sản của
doanh nghiệp
Thực hiện chế độ báo cáo định kì, kịp thời phản ánh những thay đổi để
lãnh đạo có biện pháp xử lí kịp thời.
Theo dõi thị trờng, thu thập thông tin, báo cáo và đề xuật kịp thời với
lãnh đạo của doanh nghiệp.
- Phòng tổ chức hành chính thực thi những công việc chủ yếu trong
việc xây dựng đội ngũ lao động của công ty. Thực hiện các quy chế, nội
quy, khen thởng kỉ luật, chế độ tiền lơng, thay đổi đội ngũ, đào tạo v.v
Phòng này còn đảm bảo thực hiện những công việc văn phòng của doanh
nghiệp trong những điều kiện nhất định.
10
Các bộ phận hỗ trợ và phát triển đợc coi nh là các phơng hớng phát triển
của các doanh nghiệp lữ hành. Các bộ phận này, vừa thoả mãn nhu cầu của
công ty (về khách sạn, vận chuyển) vừa đảm bảo mở rộng phạm vi lĩnh vực kinh
doanh. Các bộ phận này thể hiện quá trình liên kết ngang của công ty.
Các chi nhánh đại diện của công ty thờng đợc thành lập tại các điểm du
lịch hoặc tại các nguồn khách du lịch chủ yếu. Tính độc lập của các chi nhánh
tuỳ thuộc vào khả năng của chúng. Các chi nhánh thờng thực hiện các vai trò

Hoạt động du lịch trọn gói mang tính chất đặc trng cho hoạt động lữ hành
du lịch. Các công ty lữ hành liên kết các sản phẩm của các nhà sản xuất riêng lẻ
thành một sản phẩm hoàn chỉnh và bán cho khách du lịch với một mức giá gộp.
Có nhiều tiêu thức để phân loại chơng trình du lịch. Ví dụ nh các chơng trình
nội địa và quốc tế, các chơng trình du lịch dài ngày và ngắn ngày, các chơng
trình tham quan văn hoá và các chơng trình vui chơi giải trí. Khi tổ chức các ch-
ơng trình du lịch trọn gói, các công ty lữ hành có trách nhiệm đối với khách du
lịch cũng nh các nhà sản xuất ở một mức độ cao hơn nhiều so với hoạt động
trung gian.
1.1.4.3. Các hoạt động kinh doanh lữ hành tổng hợp
Trong quá trình phát triển, các công ty lữ hành có thể mở rộng phạm vi
hoạt động của mình, trở thành những ngời sản xuất trực tiếp ra các sản phẩm du
lịch. Vì lẽ đó các công ty lữ hành lớn trên thế giới hoạt động trong hầu hết các
lĩnh vực có liên quan đến du lịch.
. Kinh doanh khách sạn, nhà hàng.
. Kinh doanh các dịch vụ vui chơi giải trí.
. Kinh doanh vận chuyển du lịch: hàng không, đờng thuỷ v.v
. Các dịch vụ nhân hàng phục vụ khách du lịch.
Các dịch vụ này thờng là kết quả của sự hợp tác, liên kết trong du lịch.
Trong tơng lai, hoạt động lữ hành du lịch càng phát triển, hệ thống sản
phẩm của các công ty lữ hành sẽ càng phong phú.
12
1.1.5. Nội dung hoạt động kinh doanh lữ hành
Tổ chức xây dựng, bán và thực hiện các chơng trình du lịch trọn gói là
các hoạt động đặc trng và cơ bản của các công ty lữ hành. Các chơng trình có
nội dung độc đáo, hấp dẫn, có mức giá lôi cuốn và tính khả thi cao đem lại lợi
nhuận và uy tín cho các công ty lữ hành.
Vì vậy, sản phẩm chính của kinh doanh du lịch lữ hành đợc xác định là
chơng trình du lịch. Chơng trình du lịch nh là sản phẩm mang tính đặc trng của
doanh nghiệp kinh doanh lữ hành để phân biệt nó với các loại kinh doanh khác

2001).
Các chơng trình du lịch trọn gói là những nguyên mẫu để căn cứ vào đó,
ngời ta tổ chức các chuyến du lịch với mức giá đã đợc xác định trớc. Nội dung
của chơng trình du lịch thể hiện lịch trình thực hiện chi tiết các hoạt động từ
vận chuyển, lu trú, ăn uống, vui chơi giải trí tới tham quan v.v mức giá của
chuyến bao gồm giá của hầu hết các dịch vụ và hàng hoá phát sinh trong quá
trình thực hiện du lịch . (Theo nhóm tác giả bộ môn du lịch, Đại học Kinh tế
quốc dân, giáo trình Quản trị kinh doanh lữ hành).
Từ những định nghĩa nêu trên có thể rút ra một số nhận xét nh sau:
- Chơng trình du lịch nh là một văn bản hớng dẫn việc thực hiện các dịch
vụ làm thoả mãn nhu cầu của con ngời khi đi du lịch.
- Trong chơng trình du lịch có ít nhất hai dịch vụ chính và đợc sắp xếp
theo một trình tự nhất định theo thời gian và không gian, làm gia tăng
giá trị của chúng.
- Giá cả đa ra phải là giá tổng hợp của các dịch vụ chính có trong chơng
trình khi chuyến du lịch đợc thực hiện và phải chỉ rõ là không bao gồm
những loại dịch vụ nào.
- Chơng trình du lịch phải đợc bán trớc và khách du lịch phải thanh toán
trớc chuyến du lịch đợc thực hiện.
Một chơng trình du lịch có thể sử dụng để tổ chức nhiều chuyến du lịch
vào các thời điểm kế tiếp nhau nhng cũng có những chơng trình du lịch chỉ sử
14
dụng một hoặc vài bachuyến với khoảng thời gian xa nhau. Do đó cần có sự
phân biệt giữa chuyến du lịch và chơng trình du lịch. Một chơng trình du lịch có
thể có nhiều chuyến du lịch đợc thực hiện, nhng một chuyến du lịch chỉ thực
hiện theo một chuyến. Vì vậy có rất nhiều loại chơng trình du lịch khác nhau
cần phải phân biệt chúng để đảm bảo tính hiệu quả trong kinh doanh của doanh
nghiệp lữ hành. Nếu so sánh chơng trình du lịch nh một vở kịch, thì chuyến du
lịch nh là xuất diễn của vở kịch đó.
1.1.5.2. Quy trình xây dựng, bán và thực hiện chơng trình du lịch

- Các công ty lữ hành gửi khách trong nớc và quốc tế
- Các tổ chức quốc tế tại Việt Nam
- Các công ty, xí nghiệp liên doanh hoặc quan hệ kinh doanh đối với nớc
ngoài.
- Các mối quan hệ cá nhân
- Các đối tợng khách đi lẻ, khách tự đến
- Khách quá cảnh (độc quyền của hàng không).
*Khách du lịch nội địa:
- Các công ty lữ hành trong nớc.
- Các công ty, xí nghiệp, trờng học v.v
- Các tổ chức xã hội đoàn thể.
- Các đối tợng khách trực tiếp đến công ty.
- Các mối quan hệ khác.
Sau khi xác định nguồn khách, phải xác định mối quan hệ của công ty lữ
hành với các công ty lữ hành khác và với khách du lịch.
Hợp tác giữa các công ty du lịch lữ hành bao giờ cũng đóng vai trò đặc biệt
quan trọng. Đối với các công ty lữ hành Việt Nam, khi điều kiện tiếp xúc và
khai thác trực tiếp các nguồn khách quốc tế tại nơi c trú của họ là vô cùng hạn
chế thì việc nhận khách thông qua các công ty lữ hành gửi khách gần nh là một
tất yếu. Giữa các công ty lữ hành gửi khách và nhận khách thờng có một bản
hợp đồng với những nội dung theo thoả thuận giữa hai bên.
16
Đối với khách du lịch tự đến với các công ty lữ hành (chủ yếu là khách lẻ),
khi họ mua chơng trình của công ty lữ hành, nếu chơng trình có giá trị tơng đối
lớn thì giữa công ty và khách thờng có một bản hợp đồng (hoặc thoả thuận) về
việc thực hiện chơng trình du lịch. Hợp đồng này thờng đợc in theo mẫu có sẵn,
trong đó quy đinh rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của công ty lữ hành cúng
nh của khách du lịch. Các trờng hợp bất thờng, bất khả kháng, mức giá của ch-
ơng trình v.v
Khi công ty lữ hành tổ chức thu hút khách trực tiếp cho các chơng trình du

- Chuẩn bị các dịch vụ
- Chuẩn bị hối phiếu
- Kiểm tra khả năng thực thi. Nếu có những vấn đề bất thờng cần lập tức
thông báo cho bộ phận Marketing và lãnh đạo công ty.
- Chuẩn bị các dịch vụ gồm có đặt phòng và báo ăn cho khách tại các
khách sạn.
Ngoài ra, phòng điều hành cần tiến hành những chuẩn bị sau đây:
. Đặt mua vé máy bay cho khách (nếu có).
. Mua vé tàu (đờng sắt) cho khách.
. Điều động hoặc thuê xe ô tô.
. Mua vé tham quan (thông thờng do hớng dẫn viên trực tiếp thực hiện)
. Đặt thuê bao các chơng trình biểu diễn văn nghệ.
. Điều động và giao nhiệm vụ cho hớng dẫn viên. Cùng bộ phận hớng dẫn
viên điều động hớng dẫn viên theo đúng yêu cầu của chơng trình.
Giai đoạn 3: Thực hiện các chơng trình du lịch.
Trong giai đoạn này công việc chủ yếu là của hớng dẫn viên du lịch và
các nhà cung cấp dịch vụ. Hoạt động của hớng dẫn viên rất đa dạng, phong phú,
phụ thuộc vào nhiều yếu tố nh nội dung, tính chất của chơng trình, điều kiện
thực hiện cũng nh khả năng của các hớng dẫn viên. Một cách khái quát, quy
trình hoạt động của hớng dẫn viên khi thực hiện các chơng trình du lịch bao
gồm những công việc sau:
- Chuẩn bị cho chơng trình du lịch
- Đón tiếp khách.
18
- Hớng dẫn, phục vụ khách tại khách sạn.
- Hớng dẫn tham quan.
- Xử lí các trờng hợp bất thờng.
- Tiễn khách.
- Những công việc của hớng dẫn viên sau khi thực hiện chơng trình.
Giai đoạn 4: Các hoạt động sau khi kết thúc chơng trình du lịch

Nam đợc thành lập, trực thuộc Bộ Ngoại thơng, đã đánh dấu sự ra đời của
nghành du lịch Việt Nam.
Cơ sở vật chất ban đầu có một vài khách sạn cũ với 20 giờng phục vụ
khách quốc tế, phơng tiện vận chuyển gồm một xe Zill và một Simca cũ.
Đặc điểm chung nhất của giai đoạn này là nghành du lịch không có điều
kiện để phát triển vì đất nớc ddang trong tình trạng chiến tranh. Nhiệm vụ chủ
yếu của nghành du lịch Việt Nam (miền Bắc) trong giai đoạn này là phục vụ
các đoàn khách quốcc tế, chủ yếu là khách của các nơc xã hội chủ nghĩa và
phục vụ khách du lịch nội địa. Khách du lịch nội địa là những công đan có
thành tích trong chiến đấu, lao động, học tập đi nghỉ mát, điều dỡng. Với ý
nghĩa đó khái niệm kinh doanh du lịch cha xuất hiện và cha đợc biết đến ở thời
kì này. Trên thực tế hoạt động du lịch lữ hành thời kì này chính là hoạt động đa
khách đến các cơ sở du lịch và điều dỡng hàng năm.
1.2.3.2. Giai đoạn từ 1976 1989
Sau cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nớc toàn thắng vào mùa xuân năm
1975, đất nớc Việt Nam chuyển sang một kỉ nguyên mới. Đây chính là một điều
kiện à cơ hội thuận lợi cho nghành du lịch Việt Nam. Ngày 27/06/1978, Uỷ ban
Thờng vụ Quốc hội ban hành Nghị định số 282/NQ- QHK6, thành lập Tổng cục
Du lịch trên cơ sở một vụ của Bộ nội vụ. Sự kiện này đánh dấu một bớc chuyển
biến quan trọng trong quá trình phát triển của nghành du lịch Việt Nam. Bởi vì
sự kiện này đã phản ánh mức độ nhận thức về tầm quan trọng và vai trò, hiệu
quả kinh tế- xã hội của nó đối với sự phát triển của nớc nhà. Tuy nhiên, do hậu
20
quả nặng nề của chiến tranh để lại, và do bối cảnh quốc tế lúc đó cộng thêm cơ
chế quản lí kinh tế còn mang nặng tính bao cấp, cấp phát của thời chiến vẫn còn
nên nền kinh tế nói chung, nghành du lịch nói riêng cha có động lực để phát
triển.
Một số đặc điểm cơ bản của giai đoạn này là:
- Về cơ sở vật chất kĩ thuật và lao động:
Cơ sở vật chất của nghành còn nghèo nàn, thiếu thốn, lạc hậu và xuống

Độ dài thời gian cho chuyến du lịch đợc xác định dựa trên cơ sở quỹ thời
gian rỗi của khách du lịch. Mặt khác tuỳ vào đối tợng khách mà chơng trình có
đọ dài thời gian tơng ứng. Ví dụ có sự khác biệt lớn về quỹ thời gian giữa khách
du lịch công vụ thờng xuyên bận rộn với khách du lịch nghỉ ngơi tận hởng sự
bình yên an nhàn thú vị
1.2.4.2. Thời điểm tổ chức
Thời điểm tổ chức du lịch phải phù hợp với thời điểm nghỉ ngơi của
khách du lịch.
1.2.4.3. Mức giá
Để xác định mức giá cho một chơng trình du lịch thì phải dựa vào khả
năng thanh toán nói chung và khả năng trong chi tiêu du lịch của du khách.
1.2.4.4.Phơng tiện lu trú, ăn uống
Để xác định đợc phơng tiện lu trú, ăn uống phải dựa vào thói quen sử
dụng và yêu cầu về chất lợng của các phơng tiện vận chuyển, lu trú. Điều này
phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, xã hội và tập quán tiêu dùng của du khách. Ví
dụ ngời Mĩ rất thích đi máy bay trong khi đó ngời Pháp thờng xuyên lu trú tại
nhà bạn bè khi đi du lịch.
1.2.4.5. Tuyến điểm du lịch
Tuyến điểm du lịch phải phù hợp với động cơ, mục đích đi du lịch của du
khách, nghỉ ngơi, giải trí, tham quan tìm hiểu, thể thao v.v ng ời ta cũng có
thể đi du lịch kết hợp nhiều mục đích.
1.2.4.6. Chất lợng của chơng trình du lịch
22
Sản phẩm chơng trình du lịch là một loại dich vụ tổng hợp. Trên cơ sở
đặc điểm của dịch vụ để xác định nội hàm của khái niệm chất lợng chơng trình
du lịch. Khái niệm này đợc xem xét trên hai góc độ:
Thứ nhất, trên quan điểm của nhà sản xuất (công ty lữ hành):
Chất lợng chơng trình du lịch chính là mức độ phù hợp của những đặc
điểm thiết kế so với chức năng và phơng thức sử dụng chơng trình; đồng thời
cũng là mức độ mà chơng trình thực sự đạt đợc so với thiết kế ban đầu của nó.

24
UBTH ngày 28/ 9/ 1992, có trụ sở chính tại số 23A phờng Ngọc Trạo, thành
phố Thanh Hóa.
Trải qua bao biến đổi trong lĩnh vực hoạt động du lịch, nh hầu hết các xí
nghiệp quốc doanh khác khi chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp
sang nền kinh tế thị trờng nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nớc theo
định hớng XHCN, công ty đã trải qua những khó khăn nhất định với sự tăng
giảm của thị trờng du lịch trong nớc tởng nh có thể bị bế tắc. Song với sự quan
tâm chỉ đạo của UBND tỉnh Thanh Hóa và Tổng cục du lịch đã kịp thời đa ra
các văn bản, chỉ thị phù hợp với thực tiễn khách quan và nhờ có sự phấn đấu nỗ
lực không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ nhân viên trong công ty, nhất là bộ máy
quản lý, công ty đã vợt qua những cơn sóng to ấy để phát triển. Tiếp đến với
sự thay đổi của môi trờng kinh doanh, khi nhà nớc khuyến khích các doanh
nghiệp quốc doanh cổ phần hóa, tự lợng sức mình thấy có đủ điều kiện cần thiết
để sẵn sàng đơng đầu với môi trờng mới, công ty du lịch Thanh Hóa đã hởng
ứng sự khuyến khích đó và ngày 20/2/2002 thành lập Công ty cổ phần du lịch
Thanh Hóa theo quyết định của UBND tỉnh Thanh Hóa. Đồng thời, theo quyết
định của chủ tịch hội đồng quản trị, công ty đã lập chi nhánh tại Hà Nội ngày
26/5/2002, đặt trụ sở tại số 161 Bùi Thị Xuân - Quận Hai Bà Trng - Hà Nội. Tr-
ớc đó chi nhánh là văn phòng đại diện của công ty tại Hà Nội ra đời tháng
5/1992 theo quyết định của công ty du lịch Thanh Hóa. Đây là chi nhánh đợc
thành lập sớm nhất của công ty. Ngoài ra, công ty còn có các chi nhánh ở 26
phố Lê Lai, thành phố Đà Nẵng ra đời tháng 3/1995 và tại số 70 Lạc Long
Quân, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh thành lập tháng 2/1995.
Cùng với một khoản chi viện hoạt động trích từ ngân sách rất khiêm tốn
song chi nhánh vẫn tồn tại và hoạt động đợc hơn 10 năm. Thời gian này cũng là
một minh chứng cho sự phát triển của chi nhánh khi mà ngành du lịch Việt
Nam trải qua bao nhiêu diễn biến phức tạp của sự tăng giảm có thời kỳ nh năm
1997, 1998 khi mà thị trờng du lịch Việt Nam gần nh rơi vào khủng hoảng do
sự gia tăng quá nhiều các khách sạn, các công ty lữ hành, thời kỳ mà ngành du


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status