PHẦN 1
MỞ ĐẦU
Văn Kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII tiếp tục khẳng định “giáo
dục là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân
trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ
yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất
người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Phát triển giáo dục
và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội”. Trọng tâm là “...
đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo phát triển nguồn nhân lực, phấn
đấu trong những năm tới, tạo ra chuyển biến căn bản, mạnh mẽ chất lượng,
hiệu quả giáo dục đào tạo làm cho giáo dục đào tạo thật sự là quốc sách hàng
đầu, đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ tổ quốc và nhu
cầu học tập của nhân dân, là yêu cầu bức thiết của toàn xã hội, yêu cầu của
hội nhập quốc tế trong kỷ ngun tồn cầu hóa”.
Trong tiến trình đởi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo hiện nay thì
đởi mới giáo dục phở thơng đóng vai trị quan trọng: “...tập trung phát triển trí
tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi
dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất
lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức,
lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến
thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khún khích học tập
suốt đời…”
Với vai trị Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, bản thân thiết nghĩ
nâng cao chất lượng giáo dục là một yêu cầu bức thiết của các trường Phở
thơng nói chung, là sự sống cịn có tác động mạnh mẽ đến chất lượng đào tạo
nguồn lực cho sự phát triển xã hội. Trong rất nhiều biện pháp nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục của trường Phở thơng nói chung và Trung học cơ sở Phở
Khánh nói riêng thì đởi mới phương pháp, hình thức dạy học, đổi mới kiểm
1
- Qua kiểm tra đột xuất và định kỳ về giáo án phục vụ soạn giảng. Kết quả
38/38 giáo viên soạn giáo án đúng cấu trúc công văn 874/PGD-ĐT.
- Qua kiểm tra bộ Hồ sơ lưu của các tổ chuyên môn. Kết quả:
+ 100% giáo viên ra đề kiểm tra định kỳ có ma trận. Cấu trúc ma trận đảm
bảo theo qui định của công văn 8773/BGD-ĐT về quy định cấu trúc ma trận
đề kiểm tra.
+ 100% đề kiểm tra có câu hỏi, bài tập để học sinh vận dụng kiến thức đã
học giải quyết tình huống xảy ra trong thực tiễn cuộc sống.
+ Đã có nhiều sản phẩm: bài thuyết trình, bài trình chiếu, hệ thống bài
tập được học sinh hoàn thiện,... để thay thế cho bài kiểm tra định kỳ, bài kiểm
tra thường xuyên được lưu trữ tại hồ sơ tở chun mơn.
2.2.2. Những mặt cịn hạn chế
- Trong q trình giảng dạy còn một vài giáo viên chưa sử dụng thành thục
các kĩ thuật dạy học đặc thù bộ mơn nên đơi lúc cịn lúng túng trong khâu tở
3
chức, hướng dẫn học sinh hoạt động và hỗ trợ lẫn nhau cũng như trong quá
trình báo cáo kết quả đạt được.
- Giáo viên soạn giáo án thể hiện phương pháp, kỹ thuật dạy học lấy học
sinh làm trung tâm, tuy nhiên trong quá trình giảng dạy không thực hiện đúng
kịch bản đã xây dựng.
- Còn một vài tiết trong giáo án của giáo viên vẫn còn mang dáng dấp cấu
trúc giáo án cũ: còn xem nhẹ hoạt động khởi động – kết nối, nâng cao, tìm tòi
mở rộng.
- Nội dung, kiến thức của nhiều mơn học, tiết học có thể tở chức cho học
sinh tìm tịi, lĩnh hội ngồi lớp học nhưng giáo viên chưa mạnh dạn tổ chức
giảng dạy ngoài lớp học.
- Số lượng giáo viên sử dụng các hình thức đánh giá: qua các hoạt động
theo chủ đề, hội thảo chuyên đề xoay quanh đổi mới phương pháp, hình thức
dạy học và kiểm tra đánh giá nhằm giúp cho giáo viên học tập, chia sẻ, rút
kinh nghiệm lẫn nhau và áp dụng vào soạn giảng có chất lượng.
- Cơng tác kiểm tra đột xuất, kiểm tra chuyên đề liên quan đến đổi mới
phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá được duy trì thường xuyên từ đầu
đến cuối năm học.
- Giáo viên nhận thức được sự cần thiết phải đổi mới, nếu không thực hiện
đổi mới phương pháp, hình thức dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập
của học sinh, bản thân sẽ bị học sinh xem thường, danh dự “người thầy” giảm
sút.
2.2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế
- Số lượng học sinh/lớp tương đối đông, nội dung để học sinh lĩnh hội
trong một tiết học nhiều nhưng thời gian/ 1 tiết học chỉ 45 phút.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị, bàn ghế học sinh chưa thật phù hợp cho
việc áp dụng một số kỹ thuật dạy học đặc thù bộ mơn.
- Cịn một vài giáo viên ngại đởi mới, ngại khở, ngại khó nên chưa mạnh
dạn đầu tư trong soạn giảng, kiểm tra đánh giá và đổi mới hình thức dạy học.
- Phổ Khánh thuộc xã nghèo bãi ngang ven biển, đời sống khó khăn, đa số
phụ huynh đi làm ăn xa nên việc nhắc nhở, hỗ trợ việc học tập của học sinh
ở nhà rất ít, do đó ảnh hưởng rất lớn đến đởi mới phương pháp, hình thức dạy
học và kiểm tra kết quả học tập của học sinh đối với giáo viên.
5
- Quy cách bàn ghế và cách bố trí bàn ghế trong phịng học như hiện nay
chỉ thích hợp với lối tương tác một chiều từ giáo viên đến học sinh, hạn chế
lối tương tác đa chiều trong lớp học bao gồm giáo viên - học sinh, học sinhhọc sinh.
6
3.1.2. Cơ sở lý luận
7
3.1.2.1. Dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở
nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục , dạy học theo hướng phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. PPDH tích cực hướng tới
việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, tức là
tập kết vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập kết vào
phát huy tính tích cực của người dạy , tuy nhiên để dạy học theo phương pháp
tích cực thì thầy giáo phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ
động.
3.1.2.2. Đổi mới phương pháp dạy học
Đổi mới phương pháp dạy học là đổi mới cách tiến hành các phương pháp,
đổi mới các phương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai
thác triệt để ưu điểm của các phương pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số
phương pháp mới nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động và sáng tạo
của người học. Mục đích cuối cùng của đởi mới phương pháp là làm thế nào
để học sinh phải thực sự tích cực, chủ động, tự giác, ln trăn trở tìm tịi, suy
nghĩ và sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức và lĩnh hội cả cách thức để có
được tri thức ấy nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách của mình.
3.1.2.3. Hình thức dạy học
Hình thức tở chức dạy học là cách tiến hành tổ chức quá trình học tập cho
học sinh phù hợ p với mục đích, nội dung bài học, nhằm làm cho bài học đạt
kết quả tối ưu.
Các hình thức tổ chức dạy học rất đa dạng. Căn cứ vào địa điểm diễn ra
quá trình dạy học có hình thức dạy học trên lớp cả hình thức dạy học ngồi
lớp; xét theo số lượng học sinh, có hình thức dạy học tồn lớp, hình thức dạy
định lượng hay định tính.
Như vậy đánh giá là việc đưa ra những kết luận nhận định, phán xét về
trình độ học sinh. Muốn đánh giá kết quả học tập của học sinh thì việc đầu
tiên là phải kiểm tra, sốt xét lại tồn bộ cơng việc học tập của học sinh, sau
đó tiến hành đo lường để thu thập những thông tin cần thiết, cuối cùng là đưa
ra một quyết định. Do vậy kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh
là hai khâu có quan hệ mật thiết với nhau. Kiểm tra nhằm cung cấp thông tin
để đánh giá và đánh giá thông qua kết quả của kiểm tra. Hai khâu đó hợp
thành một quá trình thống nhất là kiểm tra - đánh giá.
9
3.1.2.5. Quản lý trường học
Nhà trường là đơn vị cơ sở trực tiếp giáo dục – đào tạo, là cơ quan chuyên
môn của ngành giáo dục – đào tạo, hoạt động của nhà trường rất đa dạng,
phong phú và phức tạp, nên việc quản lý, lãnh đạo chặt chẽ, khoa học sẽ bảo
đảm đoàn kết, thống nhất được mọi lực lượng, tạo nên sức mạnh đồng bộ
nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục đích giáo dục.
3.1.2.6. Quản lý việc đổi mới phương pháp dạy học
Quản lý việc đổi mới phương pháp dạy học được hiểu là những tác động
của hiệu trưởng đến tồn bộ con người, tở chức và các điều kiện vật chất của
nhà trường nhằm làm cho việc đổi mới phương pháp dạy học đạt được mục
tiêu đã đề ra.
3.1.3. Căn cứ thực tiễn
- Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, công nhân viên và học sinh: Tổng số
giáo viên và nhân viên: 39, trong đó Hiệu trưởng: 01, Phó Hiệu trưởng: 01,
Giáo viên: 35, Kế tốn: 01; Tởng số lớp học: 18; tởng số học sinh đầu năm
557/284 nữ. Đa số giáo viên được đào tạo chuyên môn đạt chuẩn và trên
chuẩn. Học sinh số đơng có đạo đức tốt, hiền ngoan có ý thức động cơ học tập
Để đổi mới phương pháp, hình thức dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá
kết quả học tập của học sinh, địi hỏi người thầy khơng chỉ có bản lĩnh nghề
nghiệp vững vàng mà còn phải tự mình vượt qua những thói quen đã ăn sâu,
bám rễ trong tiềm thức của bản thân. Nhận thức được những khó khăn đó bản
thân đã tham mưu với Hiệu trưởng triển khai đầy đủ các văn bản chỉ đạo của
cấp trên liên quan đến đổi mới phương pháp, hình thức dạy học và đổi mới
kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh; Tạo điều kiện để 100% giáo
viên được tham gia tập huấn chuyên môn liên quan đến đổi mới phương pháp,
hình thức dạy học và đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh,
đồng thời cử giáo viên cốt cán tổ chức tập huấn lại những nội dung liên quan
phải đổi mới mà giáo viên chưa hiểu kỹ tại trường; Tổ chức sinh hoạt chuyên
môn theo chủ đề, theo nghiên cứu bài học, hội thảo, sinh hoạt chuyên đề xoay
quanh đổi mới phương pháp dạy học, hình thức dạy học, kiểm tra đánh giá kết
quả học tập của học sinh … đúng kế hoạch đã lập và điều chỉnh bổ sung kịp
thời phù hợp với thực tế. Tổ chức cho giáo viên tham gia học bồi dưỡng
thường xuyên nội dung 3 theo kế hoạch của trường với nội dung của những
11
modul liên quan đổi mới phương pháp dạy học, hình thức dạy học, kiểm tra
đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Với biện pháp trên, trong những năm qua đã có:
- 100% giáo viên của trường đã nhận thức rõ tầm quan trọng và ý nghĩa
của việc đổi mới phương pháp dạy học, hình thức dạy học, kiểm tra đánh giá
kết quả học tập của học sinh.
- 100% giáo viên bộ môn được tham gia tập huấn và dự tập huấn lại tại
trường những vấn đề mới, khó, chưa nắm rõ liên quan đến đổi mới phương
pháp dạy học, kiểm tra đánh giá.
- 100% giáo viên được Phòng giáo dục - Đào tạo Đức Phổ đánh giá kết
đạo giáo viên đổi mới cách thiết kế bài dạy, thay cấu trúc giáo án truyền thống
bằng cấu trúc giáo án mới đúng qui định của công văn 874/PGDĐT- THCS
ngày 11/12/2017 của Trưởng Phịng Giáo dục- Đào tạo huyện Đức Phở.
Kết quả: 100% giáo viên soạn giáo án đảm bảo cấu trúc, đầy đủ các hoạt
động:
* HOẠT ĐỘNG 1: Khởi động- trải nghiệm- kết nối
* HOẠT ĐỘNG 2: Hình thành kiến thức
* HOẠT ĐỘNG 3: Luyện tập (Củng cố )
* HOẠT ĐỘNG 4: Vận dụng (nâng cao)
* HOẠT ĐỘNG 5: Tìm tòi và mở rộng (Hướng dẫn- dặn về nhà cho số
học sinh giỏi, khá,…)
* HOẠT ĐỘNG TIẾP NỐI (Hướng dẫn về nhà chuẩn bị bài cũ và nội
dung tiết sau)
Trong mỗi hoạt động giáo viên thể hiện rõ các kỹ thuật dạy học.
3.3.3. Chỉ đạo cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống
Phương pháp dạy học truyền thống là những cách thức dạy học quen
thuộc được truyền từ lâu đời và được bảo tồn, duy trì qua nhiều thế hệ. Về cơ
bản, phương pháp dạy học này lấy hoạt động của người thầy là trung tâm.
Theo Frire - nhà xã hội học, nhà giáo dục học nổi tiếng người Braxin đã gọi
phương pháp dạy học này là "Hệ thống ban phát kiến thức", là quá trình
chuyển tải thông tin từ đầu thầy sang đầu trò. Thực hiện lối dạy này, giáo viên
là người thuyết trình, diễn giảng, là "kho tri thức" sống, học sinh là người
nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo. Với phương pháp dạy học truyền thống,
giáo viên là chủ thể, là tâm điểm, học sinh là khách thể, là quỹ đạo. Giáo án
13
dạy theo phương pháp này được thiết kế kiểu đường thẳng theo hướng từ trên
xuống. Do đặc điểm hàn lâm của kiến thức nên nội dung bài dạy theo phương
chủ động trong việc tìm kiếm thơng tin, tích lũy kinh nghiệm, rèn luyện khả
năng phán đoán và trưởng thành, tự tin hơn qua mỗi bài học. Đặc trưng cơ
bản của phương pháp dạy học hiện đại là:
- Lồng ghép các bài học vào các hoạt động thực tế: Việc dạy học thông
qua các hoạt động thực tế sẽ giúp các bạn học sinh, tiếp nhận kiến thức nhanh
hơn. Qua đó, giáo viên khơng cần phải giảng dạy chi tiết, áp đặt các kiến thức
cho học sinh, sinh viên.
- Tự giác học tập: Phương pháp dạy học hiện đại mang lại rất nhiều ưu
điểm. Do đó, phương pháp này cũng yêu cầu người học phải tự giác tìm kiếm
tài liệu, tự suy nghĩ, tự khám phá và rút ra kinh nghiệm, … Không những thế
học sinh trước khi theo học tiết học sử dụng phương pháp này thì luôn phải
chuẩn bị trước bài tập ở nhà nếu không muốn không thể theo kịp bài dạy.
- Phối hợp giữa học nhóm và tự học: Học sinh vừa phải tham gia các hoạt
động học nhóm để tăng khả năng giao tiếp, tính chủ động, tính tự giác và tạo
nguồn động lực học tập khi học nhóm. Đồng thời, các bạn cũng cần có những
b̉i tự học để tập hợp kiến thức, tập trung suy nghĩ.
Cách học mới cho hiệu quả cao hơn nhiều lần
- Giáo viên và người học cùng nhau đánh giá: Nếu dạy học theo phương
pháp truyền thống thường chỉ có giáo viên mới cần đưa ra những nhận xét
đánh giá của mình đối với học sinh, sinh viên. Còn đối với phương pháp dạy
học hiện đại thì giáo viên cùng với người học cùng đưa ra đánh giá của mình.
Việc họ cùng đưa ra những ý kiến đánh giá, nhận xét sẽ dễ dàng tìm ra các
biện pháp khắc phục những chỗ cịn thiếu sót trong bài giảng của giáo viên.
15
16
học, tiến hành soạn giáo án và tổ chức giảng dạy, dự giờ rút kinh nghiệm và
áp dụng vào giảng dạy trên lớp. Cụ thể:
- Các mơn Vật lý, Hóa học, Sinh học, Công nghệ : chú trọng thực hiện
soạn giảng theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”.
- Môn Lịch sử, Giáo dục, Địa lý: chú trọng dạy học theo dự án; dạy học
giải quyết vấn đề; dạy học nhóm.
- Mơn Tốn, Ngữ văn: chú trọng dạy học giải qút vấn đề; dạy học nhóm.
- Mơn Tiếng Anh : dạy học nhóm, dạy học theo dự án,…
3.3.7. Tăng cường dạy học theo hình thức trải nghiệm, dạy học tham
quan
- Dạy học trải nghiệm là hình thức dạy học giáo viên tổ chức cho học sinh
tham gia trải nghiệm. Khái niệm thực tế, sau đó tởng kết lại để tăng cường
hiểu biết, phát triển kĩ năng, hình thành các giá trị sống và phát triển tìm năng
của học sinh.
- Tác dụng của dạy học trải nghiệm: Phương pháp buộc học sinh phải sử
dụng tổng hợp các giác quan (nghe, nhìn, chạm, ngửi,...), tăng khả năng lưu
giữ những điều đã học được lâu hơn; có thể tối đa hóa khả năng sáng tạo, tính
năng động và thích ứng của người học.Việc trải qua quá trình khám phá kiến
thức và tìm giải pháp giúp phát triển năng lực cá nhân và tăng cường sự tự tin;
việc học cũng trở nên thú vị hơn với học sinh và việc dạy trở nên thú vị hơn
với giáo viên. Khi chủ động tham gia tích cực vào quá trình học, học sinh
được rèn luyện về tính kỷ luật. Học sinh cũng có thể học các kỹ năng sống mà
được sử dụng lặp đi lặp lại qua các bài tập, hoạt động, từ đó tăng cường khả
năng ứng dụng các kỹ năng đó vào thực tế.
Với phương pháp học thông qua trải nghiệm luyện được cho học sinh cả
về kiến thức và kĩ năng học tập, tìm tịi, phân tích và áp dụng thực tiễn. Nhờ
vậy, các em sẽ có được một kho tàng kiến thức vững chắc, trang bị cho bản
Bàn ghế theo chuẩn của Bộ, thuận tiện cho việc sắp xếp, bố trí phù hợp với
hoạt động học của học sinh.Theo đó, lớp học mơ hình trường học mới hoạt
động, kỷ luật tích cực, khơng hình thức, học sinh tự chủ, tự quản, dân chủ,
thân mật và hợp tác.
18
* Kết quả: Áp dụng thành tố tích cực của trường học mới nêu trên nên hầu
hết các tiết dạy giáo viên đã kê bàn ghế thích hợp và tở chức dạy học theo
nhóm, tạo mọi điều kiện để các em tự tìm tịi, trao đởi, lĩnh hội kiến thức dưới
sự hướng dẫn của giáo viên và sự điều hành của trưởng nhóm học sinh.
3.3.9. Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông
tin hợp lý hỗ trợ dạy học
Phương tiện dạy học có vai trị quan trọng trong việc đổi mới phương pháp
dạy học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy
học. Việc sử dụng các phương tiện dạy học cần phù hợp với mối quan hệ giữa
phương tiện dạy học và phương pháp dạy học.
Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là
phương tiện dạy học trong dạy học hiện đại. Đa phương tiện và cơng nghệ
thơng tin có nhiều khả năng ứng dụng trong dạy học. Bên cạnh việc sử dụng
đa phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các
phần mềm dạy học cũng như các phương pháp dạy học sử dụng mạng điện tử
(E-Learning). Phương tiện dạy học mới cũng hỗ trợ việc tìm ra và sử dụng các
phương pháp dạy học mới. Webquest là một ví dụ về phương pháp dạy học
mới với phương tiện mới là dạy học sử dụng mạng điện tử, trong đó học sinh
khám phá tri thức trên mạng một cách có định hướng.
* Kết quả:
- 100% giáo viên đã sử dụng đồ dùng dạy học hiện có để phục vụ giảng
dạy bộ môn.
chuyên với nội dung
tổng kết đánh giá, triển khai công tác mới một
lần/tháng, tăng cường sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học, theo
chủ đề, hội thảo chuyên môn theo các chuyên đề: dạy học theo công văn
1868/SGDĐT, minh họa giáo án theo công văn 874/PGDĐT ở nhiều môn học.
Sau các lần sinh hoạt các tổ chuyên môn đã chia sẻ sản phẩm trên trường học
kết nối và áp dụng vào công tác giảng dạy của cá nhân. Hiệu quả thiết thực
nhất mang lại cho giáo viên: sau mỗi tiết dạy dưới dạng sinh hoạt chuyên môn
theo nghiên cứu bài học đã giúp giáo viên nắm vững và áp dụng các kỹ thuật
dạy đặc trưng của bộ môn, nắm vững phương pháp và hình thức tổ chức cho
học sinh tự học…
3.3.11. Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh
20
Chiến lược đởi mới căn bản, tồn diện hệ thống giáo dục phổ thông hiện
nay của Bộ Giáo dục-Đào tạo chọn đổi mới kiểm tra đánh giá là khâu đột
phá nhằm thúc đẩy các quá trình khác như đổi mới phương pháp dạy học, đổi
mới cách thức tổ chức hoạt động dạy học và đổi mới quản lý.
Theo quan điểm dạy học theo định hướng phát triển năng lực của người
học, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện
kiến thức đã học làm trọng tâm của việc đánh giá. Đánh giá kết quả học tập
theo năng lực là chú trọng vào khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong
những tình huống ứng dụng khác nhau.
Đánh giá kết quả học tập đối với các môn học và hoạt động giáo dục trong
quá trình học và sau các cấp học là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ
thực hiện mục tiêu dạy học, có vai trị quan trọng trong việc cải thiện kết quả
những giá trị, tình cảm của người học. Do đó cần đánh giá qua các hoạt động
trên lớp; vở học tập; báo cáo kết quả thực hành, thí nghiệm, bài thuyết trình,
sản phẩm trình chiếu, một dự án... về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập. Căn
cứ mức độ hoàn thành nhiệm vụ của học sinh, giáo viên ghi nhận và thay thế
cho kiểm tra miệng, 15 phút, 45 phút.
* Kết quả: Trong năm học 2018-2019 đã có nhiều giáo viên dạy mơn
Tiếng Anh, Hóa học, Tốn học, Sinh học, Ngữ văn tiến hành đánh giá kết quả
học tập của học sinh thông qua bài thuyết trình, sản phẩm trình chiếu, hệ
thống bài tập của một chủ đề . Kết quả đạt được của học sinh thay thế cho bài
kiểm tra định kỳ, kiểm tra thường xuyên.
The King of football
This is Pele. He was born on October 21 st, 1940 in the countryside of Brazil.
Pele began his career at the age of 15 when he started playing for Santos
Football club
The achievements that Pele has achieved
In 1958, at the age of 17, Pele won his fist World Cup. It was the fist time
the World Cup was shown on TV. People around the world watched PeLe play
22
and cheered. Pele won three World Cups and scored 1,281 goals in his 22year career. In 1999, he was voted football player of the Century.Pele is a
national hero in Brazill. During his career he became well-known as “The
king of football”.
Trích “Sản phẩm trình chiếu của học sinh Trần Khánh Linh – Lớp 6A”
Achivements
She has won many competition with a lot
of high result like 8 gold metal at Asia
Games in Singapore in 2015.
4.1. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Kết quả quan trọng nhất của việc đề ra các biện pháp chỉ đạo giáo viên của
trường Trung học cơ sở Phổ Khánh tiến hành đổi mới phương pháp, hình thức
dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, với mục tiêu nâng
cao chất lượng, hiệu quả giáo dục của nhà trường, đáp ứng theo yêu cầu của
Nghị quyết số 29/TW là:
- Tất cả giáo viên đã đổi mới phương pháp và hình thức dạy học, gắn học
đi đôi với hành, chuyển dạy học theo nội dung sang dạy học theo định hướng
phát triển năng lực học sinh, hạn chế tối đa việc cung cấp lý thuyết hàn lâm
không giải quyết được những tình huống xảy ra trong cuộc sống hằng ngày.
Hệ thống câu hỏi, bài tập giáo viên giao cho học sinh ln có những nội dung
gần gũi với thực tế cuộc sống. Trong quá trình dạy học ln tạo ra những tình
huống có vấn đề để kích thích tư duy, sáng tạo của học sinh từ đó làm cho học
sinh ham học và ham đam mê nghiên cứu.
- Số lượng giáo viên nắm vững và hướng dẫn học sinh hoàn thành sản
phẩm dự án, bồi dưỡng học sinh dự thi cấp trường, cấp huyện, tỉnh ngày càng
tăng lên. Đặc biệt hàng năm đều có nhiều nhân tố mới xuất hiện hướng dẫn
học sinh đạt giải cấp huyện.
- Chất lượng giáo dục về mặt học lực và hạnh kiểm của học sinh có chiều
hướng tiến bộ, năm sau số lượng và chất lượng học sinh giỏi, khá tăng.
- Số lượng và chất lượng học sinh tham gia thi và đạt giải cấp huyện, tỉnh
các hội thi văn hóa, thể thao cũng như các hội thi khác được duy trì bền vững.
Cụ thể:
+ Kết quả xếp loại học lực năm học 2018-2019: Giỏi: 17,2%; Khá:
34%; Trung bình 46,1%; Yếu: 2%; Kém : 0,5%.
+ Kết quả tham gia hội thi các cấp năm học 2018-2019 của học sinh :
Hội thi cấp văn hóa cấp huyện đạt 37 giải; hội thi thể thao đạt 13 giải; hội thi
cấp tỉnh đạt 04 giải . Tổng cộng 54 giải
+ Học kỳ I năm học 2019-2020: Hội thi học sinh giỏi cấp huyện đạt