TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
Giáo trình
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
Người biên soạn: ĐỖ CÔNG TUẤT
LƯU HÀNH NỘI BỘ
Tháng 8 năm 2000
Lời nói đầu
Để đáp ứng nhu cầu học tập của sinh viên khoa Sư phạm, tài liệu “TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO
DỤC” được biên soạn.
Mục đích của tài liệu này là trang bị cho người giáo viên tương lai những tri thức cơ bản về công tác
giáo dục học sinh trong nhà trường trung học, qua đó rèn luyện ở họ những kỹ năng sử dụng các
phương pháp giáo dục, biện pháp tiếp cận học sinh cũng như các tổ chức xã hội nhằm kết hợp trong
công tác giáo dục.
Nôị dung tài liệu gồm 5 chương, đó là:
Chương 1: Công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học.
Chương 2: Phương pháp làm việc với các tổ chức học sinh trong nhà trường trung học.
Chương 3: Phương pháp kết hợp với gia đình và Hội phụ huynh học sinh.
Chương 4: Phương pháp phối hợp với cộng đồng nơi ở của gia đình học sinh và cơ quan - nơi làm
việc của cha mẹ học sinh.
Chương 5: Tổ chức kết hợp với các lực lượng xã hội trong công tác giáo dục học sinh.
Trong quá trình biên soạn tài liệu, tác giả có sử dụng tư liệu của một số tài liệu Giáo dục học. Đặc
biệt, trong phần câu hỏi và bài tập, có một số tình huống ứng xử sư phạm được rút ra từ cuốn “Sự
thông minh trong ứng xử sư phạm”.
Để tài liệu hoàn thiện hơn, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của bạn đọc.
Xin chân thành cảm ơn.
CHƯƠNG 0: Mục đích nội dung của học phần "Tổ chức giáo dục"
Mục đích
Tổ chức hoạt động giáo dục (TCHĐGD) là một trong những học phần của bộ môn Giáo dục học dùng
cho sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng sư phạm. Học phần này nhằm mục đích cung cấp cho
người sinh viên - những người làm công tác giáo dục trong một tương lai gần những hiểu biết cần thiết
về các lĩnh vực:
+ Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh
+ Hội liên hiệp thanh niên học sinh
+ Tổ chức câu lạc bộ.
Đối với các thầy giáo, cô giáo, việc tìm hiểu, nắm vững phương pháp làm việc với các tổ chức học
sinh trong nhà trường trung học là rất cần thiết. Đặc biệt đối với người giáo viên chủ nhiệm lớp điều
này càng cần thiết hơn.
Việc nghiên cứu nội dung chương này nhằm mục đích giúp cho người giáo sinh thấy được các tổ chức
học sinh trong trường học cũng là một đối tượng cần được quan tâm, giúp đỡ của người giáo viên chủ
nhiệm lớp, ngoài việc các tổ chức này là một lực lượng giáo dục tác động đến các em học sinh. Xây
dựng các tập thể học sinh chính là tạo ra một môi trường giáo dục lành mạnh để các thành viên của nó
tham gia tích cực vào hoạt động chung.
Chương 3: Phương pháp kết hợp với gia đình và Hội phụ huynh học sinh
Gia đình học sinh, Hội phụ huynh học sinh là một lực lượng giáo dục rất quan trọng. Nếu tổ chức, liên
kết với cha mẹ học sinh tốt sẽ tạo ra một nhà sư phạm rất tích cực trong việc giáo dục học sinh.
Mục đích của việc nghiên cứu chương này sẽ giúp cho người giáo viên tương lai có được phương
pháp làm việc đúng đắn trong việc kết hợp với cha mẹ học sinh, với Hội phụ huynh học sinh trong
việc giáo dục các em.
Chương 4: Phương pháp phối hợp với cộng đồng nơi ở của gia đình học sinh và cơ quan - nơi làm
việc của cha mẹ học sinh
Khi nói tới vai trò của môi trường xã hội đối với sự hình thành và phát triển nhân cách người học
sinh , chúng ta quy ước sau: môi trường xã hội được phân thành 2 loại:
Môi trường xã hội vĩ mô, bao gồm xã phường, huyện thị, tỉnh thành, quốc gia, quốc tế.
Môi trường xã hội vi mô, bao gồm:
+ Gia đình
+ Nhà trường
+ Cộng đồng nơi ở của học sinh
+ Tập thể mà học sinh tham gia.
Có thể khẳng định cộng đồng nơi ở của các em học sinh là một xã hội thu nhỏ, nó chứa đựng các mối
quan hệ xã hội đa dạng, phong phú có tác động trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách học
sinh.
Như vậy, GVCN là người thay mặt Hiệu trưởng quản lý toàn diện tập thể lớp học. Việc quản lý toàn
diện lớp học của GVCN là quản lý về các mặt sau:
1.1. Có những hiểu biết về gia đình học sinh, những ảnh hưởng của gia đình tới sự phát triển nhân
cách của các em . Từ sự hiểu biết về gia đình học sinh mà giáo viên chủ nhiệm mới có những biện
pháp giáo dục các em phù hợp.
Trong quá trình giáo dục học sinh, đã có những đáng tiếc xảy ra. Trong giờ trả tập làm văn, thầy T.
nhận xét:
-Đề bài: “Hãy tả người mẹ của em” kỳ này thật là dễ. Thế mà có em không chịu làm bài để giấy trắng.
Nghe tới đó, H. gục đầu xuống bàn, khóc nức nở. Thầy giáo ghi điểm 2 vào sổ cho H., trong bụng thầy
T. còn nghĩ :
-Thế đấy, con gái thật là mau nước mắt, bị điểm kém cũng khóc lóc. Cuối giờ học, lớp trưởng lên gặp
thầy và nói: -Thưa thầy, bài văn tả mẹ của em dễ thật đấy, nhưng bạn H. không làm được, vì bạn ấy
mồ côi mẹ từ năm lên ba ạ! Trời ơi! Sao mình lại vô tình với các em đến thế. Tại sao mình không tìm
hiểu kỹ hoàn cảnh của từng học sinh để hiểu biết và thông cảm với các em hơn.
1.2. Nắm được đặc điểm tâm - sinh lí của từng học sinh lớp chủ nhiệm.
Việc tìm hiểu và nắm được đặc điểm tâm - sinh lí học sinh là một công việc vô cùng quan trọng của
người giáo viên nói chung, người giáo viên chủ nhiệm nói riêng. Từ việc nắm đặc điểm tâm lí học sinh
mà có những phán đoán, kết luận chính xác về bản thân các em và từ đó có những biện pháp giáo dục
phù hợp.
Trường hợp sau đây chứng tỏ việc nắm được đặc điểm tâm sinh lí của các em và từ đó những nhận xét
chính xác về bản thân các em là một công việc không phải dễ dàng.
Chị Hằng và tôi được phân công chủ nhiệm và phó chủ nhiệm lớp 9A. Chị Hằng dạy văn, tôi dạy toán.
Tôi và chị Hằng thường tranh luận với nhau về hạnh kiểm hai em Minh và Cường. Minh học khá, nhất
là môn khoa học tự nhiên. Em xác định rất rõ học để vào đại học. Ở ngoài lớp Minh lầm lì ít nói,
nhưng trong giờ toán, em lại hăng hái phát biểu ý kiến để được nhiều điểm tốt. Minh ít chơi thân với
bạn bè. Em tỏ ra ích kỷ và ganh tị với một vài bạn khá hơn mình, có tài liệu về toán học, em không
cho bạn mượn. Lao động ở lớp, em tỏ ra tích cực; nhưng khi ở nhà em lại rất lười biếng.
Ngược lại, Cường nghịch ngợm nổi tiếng cả khu tập thể đông dân này. Có lần em trèo lên bể nước lớn
của khu tập thể, thả vào đó một cục phân trâu. Cường học trung bình các môn học. Chị Hằng và tôi
đều nhận thấy em có tính cách thẳng thắn và lao động tích cực. Em thích đọc những mẫu chuyện về
+ Nội dung giáo dục.
Trong quá trình truyền đạt tới các em học sinh lớp chủ nhiệm, phương pháp truyền đạt là: thuyết phục,
cảm hoá, gương mẫu.
Mục đích của các phương pháp truyền đạt trên là giúp các em học sinh chấp nhận một cách tự nguyện,
tự giác các mục đích, yêu cầu , kế hoạch của nhà trường.
- Mặt khác GVCN là người đứng ra tập hợp các ý kiến, yêu cầu, nguyện vọng của các em học sinh
phản ánh với Ban giám hiệu, các tổ chức trong trường, với các giáo viên bộ môn.
+ Khi nhận thông tin từ phía học sinh phản ánh cho nhà trường, GVCN cần đảm bảo tính khách quan,
tính trung thực và xử lý kịp thời chúng với tư cách là nhà sư phạm.
+ GVCN lớp còn có trách nhiệm bảo vệ, bênh vực quyền lợi của học sinh lớp chủ nhiệm.
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể khẳng định: GVCN là người đại diện cho cả hai phía: lực lượng
giáo dục trong nhà trường và học sinh lớp chủ nhiệm.
3. GVCN là người cố vấn tổ chức các hoạt động tự quản của tập thể học sinh.
3.1. Học sinh trung học nằm trong lứa tuổi thiếu niên và đầu thanh niên (tuổi từ 11-12 đến 14-15 và 14
-15 đến 17-18)
Đây là một lứa tuổi có một số đặc trưng sau:
+ Phát triển tự ý thức, tự khẳng định mình.
+ Lứa tuổi giàu ước mơ.
+ Đã tích luỹ cho mình một số kinh nghiệm sống nhất định.
+ Có khả năng tự quản ...
Bên cạnh những điểm mạnh trên, lứa tuổi này cũng còn một số điểm cần được sự hướng dẫn, dìu dắt
của giáo viên nói riêng, người lớn nói chung như:
+ Những ước muốn của các em rất cao đẹp song nó cao hơn so với khả năng của chính các em.
+ Đây là lứa tuổi phát triển tính khẳng định mình nhưng chưa đủ kinh nghiệm sống.
+ Khi thành công dễ “bốc đồng”, “tự tin quá mức”..., khi gặp thất bại, các em dễ dao động, mất lòng
tin ...
Từ những đặc điểm trên, đòi hỏi người lớn, đặc biệt là cha mẹ, GVCN phải có những định hướng
trong việc giáo dục các em.
3.2. Bản chất của chức năng cố vấn là:
+ Định hướng, điều chỉnh, điều khiển quá trình tự giáo dục của từng em, của cả tập thể lớp.
tốt nhất về tài lực, vật lực, kinh nghiệm sống, lao động, trí tuệ của các bậc phụ huynh, quần chúng
nhân dân.
Nhiệm vụ, quyền hạn của giáo viên chủ nhiệm lớp
1. Nhiệm vụ của GVCN lớp
1.1. Là một giáo viên đứng lớp, người GVCN phải thực hiện tốt các nhiệm vụ của người giáo
viên, đó là các nhiệm vụ sau:
+ Giảng dạy và giáo dục theo đúng chương trình giáo dục kế hoạch dạy học; soạn bài, chuẩn bị thí
nghiệm, kiểm tra, đánh giá theo quy định; vào sổ điểm, ghi học bạ đầy đủ, lên lớp đúng giờ; không tuỳ
tiện bỏ giờ, bỏ buổi dạy; quản lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham
gia hoạt động của tổ chuyên môn.
+ Tham gia phổ cập giáo dục THCS.
+ Rèn luyện đạo đức, học tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ để nâng cao chất lượng,
hiệu quả giảng dạy và giáo dục.
+ Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh; thương yêu, tôn trọng
học sinh; đoàn kết, giúp đỡ các bạn đồng nghiệp.
+ Phối hợp với giáo viên và các GVCN khác, gia đình học sinh, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Đội TNTP
Hồ Chí Minh trong các hoạt động giảng dạy và giáo dục học sinh.
+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
1.2. Với tư cách là người quản lý toàn diện lớp chủ nhiệm, ngoài các nhiệm vụ nêu trên, GVCN
còn phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
+ Tìm hiểu và nắm vững học sinh trong lớp về mọi mặt để có biện pháp tổ chức giáo dục sát đối
tượng, nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp.
+ Cộng tác chặt chẽ với phụ huynh học sinh; chủ động phối hợp với giáo viên bộ môn, Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh, Đội TNTP Hồ Chí Minh, các tổ chức xã hội có liên quan trong hoạt động giảng dạy và
giáo dục học sinh.
+ Nhận xét, đánh giá, xếp loại học sinh cuối học kỳ, cuối năm học; đề nghị khen thưởng, kỷ luật học
sinh; đề xuất danh sách học sinh được lên lớp thẳng, phải thi lại, phải ở lại lớp; hoàn chỉnh việc ghi
vào sổ điểm và học bạ của học sinh.
+ Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất (nếu có tình hình đặc biệt) về tình hình của lớp với hiệu trưởng.
2. Quyền hạn của GVCN lớp
+ Nhân cách và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh
+ Mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh, việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa thầy - trò
+ Nghệ thuật sư phạm: phương pháp tác động trực tiếp, phương pháp tác động song song, phương
pháp bùng nổ sư phạm...
+ Xây dựng tập thể học sinh
+ Sự phối hợp với phụ huynh học sinh trong công tác giáo dục các em
+ Xã hội hoá giáo dục
+ Sự phối hợp với Đoàn, Đội trong công tác giáo dục học sinh...
2. Nắm vững mục tiêu giáo dục, mục tiêu cấp học, lớp học, kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học
của học kỳ, năm học
Để vận dụng vào công tác chủ nhiệm của mình, GVCN phải nắm vững mục tiêu giáo dục, mục tiêu
cấp học, lớp học, kế hoạch, nhiệm vụ giáo dục, dạy học của học kỳ, năm học.
Nhằm tạo cho học sinh lớp chủ nhiệm thực hiện chủ động, sáng tạo nhiệm vụ của lớp trong phong trào
chung, GVCN phải nắm vững kế hoạch, nội dung và cách thức tiến hành các hoạt động của nhà trường
trong hàng tuần, hàng tháng, từng học kỳ, từng năm học.
3. Có hiểu biết sâu sắc về chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức trong nhà trường, các cán bộ
phụ trách các mặt hoạt động, đội ngũ giáo viên giảng dạy các môn học ở lớp chủ nhiệm, cơ sở
vật chất kỹ thuật của nhà trường.
- Có những hiểu biết về cơ cấu tổ chức, phân công phụ trách của các tổ chức trong nhà trường:
+ Ban giám hiệu
+ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Hội Liên hiệp thanh niên
+ Hội phụ huynh
+ Các tổ chức tự quản...
Từ những hiểu biết trên, người GVCN tổ chức thống nhất, liên kết các lực lượng hoạt động theo
những nội dung giáo dục của nhà trường...
- Có những hiểu biết về đội ngũ giáo viên nhà trường, đặc biệt là những giáo viên giảng dạy trực tiếp
lớp mình phụ trách để:
+ Thường xuyên nắm vững tình hình giảng dạy và học tập của lớp.
+ Tổ chức các hoạt động dạy - học cho tập thể lớp học.
- Nắm được chức năng, nhiệm vụ, năng lực, tình cảm, ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quản lý,
tài đã trưởng thành cứ nhởn nhơ ngay trong cơn đau dạ dày quằn quại của bố. Victo nhìn mẹ và cũng
cười: -Không! Con không đi được đâu, người ta đang đợi con! Con mang chìa khoá theo đây.
Những gia đình quan tâm quá mức và không đúng cách trong giáo dục con cái sẽ mang lại những hậu
quả mà họ không hề mong muốn.
Khi tìm hiểu gia đình học sinh, người GVCN cần tìm hiểu các điểm sau:
+ Trình độ văn hoá của cha mẹ học sinh
+ Đặc điểm tâm lí của họ
+ Mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình
+ Điều kiện sinh sống, lao động, học tập cũng như thu nhập của gia đình
Trong các nội dung mà GVCN tìm hiểu gia đình học sinh, vấn đề quan trọng nhất, cần quan tâm là:
+ Sự quan tâm của cha mẹ đối với con cái, sự quan tâm lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình
+ Phương pháp giáo dục của cha mẹ với các con cái trong gia đình
+ Việc thực hiện các nghĩa vụ của người công dân đối với Tổ quốc Quan hệ của gia đình với láng
giềng...
Có thể khẳng định việc tìm hiểu gia đình học sinh nhằm mục đích:
+ Kết hợp gia đình và nhà trường trong công việc giáo dục trẻ em, tránh tình trạng “trống đánh xuôi,
kèn thổi ngược”
+ Nắm được các yếu tố tác động đến học sinh, từ đó có những giải pháp phù hợp.
5. Nắm được đặc điểm của học sinh
Có nhà giáo dục đã khẳng định một điều rất đúng là: muốn giáo dục con người về mọi mặt phải hiểu
con người về mọi mặt.
Liên hệ với công tác chủ nhiệm lớp, để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, người GVCN phải nắm
được đặc điểm chung của cả lớp và của từng học sinh.
5.1. Nội dung tìm hiểu học sinh của GVCN bao gồm các vấn đề sau:
+ Sức khoẻ
+ Đạo đức
+ Năng lực học tập
+ Động cơ, thái độ học tập
+ Quan hệ của học sinh với cha mẹ, ông bà, anh chị em trong gia đình, ở trường học với bạn bè, thầy
cô và ngoài xã hội, cộng đồng...
+ Truyền thống địa phương
Mục đích của việc này là liên kết, phối hợp có hiệu quả giữa nhà trường, đại diện là GVCN với địa
phương trong công tác giáo dục.
6.2. GVCN cần thiết phải nắm được tình hình thời sự trong nước, ngoài nước, đặc biệt về các
vấn đề khoa học kỹ thuật, công nghệ, giáo dục, đào tạo, văn hoá xã hội để bổ sung cho những
hiểu biết của mình thêm phong phú.
7. Để làm tốt công tác chủ nhiệm lớp, GVCN lớp phải tự hoàn thiện mình
Với đặc trưng về lao động nghề nghiệp, đặc biệt về công cụ lao động sư phạm, nó đòi hỏi người giáo
viên nói chung, GVCN nói riêng phải không ngừng tự hoàn thiện nhân cách của mình. Cụ thể phải rèn
luyện các mặt sau:
+ Đạo đức tác phong
+ Quan hệ đồng nghiệp, hàng xóm láng giềng tốt đẹp
+ Có tầm hiểu biết sâu rộng, đặc biệt môn học mình phụ trách
+ Luôn luôn nâng cao trình độ nghề nghiệp, nắm vững kỹ thuật giảng dạy
+ Quan tâm đến công việc của đồng nghiệp, của nhà trường, quan tâm đến các em học sinh ...
Phương pháp tác động của giáo viên chủ nhiệm lớp
Ngoài việc nắm được các phương pháp giáo dục học sinh của người làm công tác giáo dục, GVCN
cần phải nắm được các phương pháp tác động tới học sinh. Đó là các phương pháp:
+ Phương pháp tác động trực tiếp
+ Phương pháp tác động gián tiếp
+ Phương pháp “bùng nổ sư phạm”
+ Phương pháp giáo dục bằng “viễn cảnh”
Phương pháp tác động trực tiếp
1.1. Được gọi là phương pháp tác động trực tiếp vì có sự tác động trực tiếp, đối diện giữa GVCN
và học sinh. Cụ thể là nhà giáo dục nói chung, GVCN nói riêng tác động trực tiếp tới đối tượng
bằng cách sau:
+ Chăm lo, săn sóc
+ Khen thưởng, kỷ luật
+ Ra các yêu cầu, các mệnh lệnh buộc học sinh phải thực hiện ngay các yêu cầu của nhà giáo dục.
Ví dụ 1: Trong lớp học có 2 học sinh, một nam, một nữ, học tập rất khá, được GVCN tin tưởng.
Phương pháp tác động gián tiếp, được Macarencô đặt tên là phương pháp tác động song song hay còn
được gọi là phương pháp giáo dục trong tập thể và bằng tập thể.
Tác động song song được Macarencô giải thích như sau: chỉ tiếp xúc với tập thể, không tiếp xúc với cá
nhân riêng lẻ, đó là cách biểu hiện chính thức, còn thực chất là hình thức tác động tới chính cá nhân
đó. nhưng biểu hiện thì lại diễn ra song song với thực chất.
Phương pháp tác động song song, về bản chất của nó được hiểu là:
+ Xây dựng tập thể học sinh thành môi trường giáo dục lành mạnh.
+ Xây dựng được các mối quan hệ trong tập thể thành những tác động, chi phối nhận thức, tình cảm,
hành động của từng cá nhân trong tập thể đó.
Nói một cách khác đi, mỗi cá nhân trong tập thể phải tự điều chỉnh hành vi của mình dựa vào tập thể
mà mình là một thành viên.
Như vậy, về thực chất, phương pháp tác động gián tiếp là giáo viên không tác động tới từng cá nhân
mà thông qua tập thể, qua các thành viên khác để các thành viên này tác động, nhắc nhở bạn mình.
A.X.Macarencô thường sử dụng phương pháp tác động gián tiếp trong ba trường hợp sau:
Một là: Thông qua đội ngũ lãnh đạo tập thể.
Ông lấy ví dụ sau để dẫn chứng: Petrencô đi làm không đúng giờ, Ông gặp đội trưởng đội 1 và nói:
“Đội có một người đi làm chậm” để đội trưởng họp đội rút kinh nghiệm, nhắc Petrencô đi làm cho
đúng giờ.
Hai là: Tác động tới cả tập thể và cá nhân Hôm sau Petrencô lại đi làm trễ giờ lần thứ hai, Ông triệu
tập cả đội 1, tuyên bố: “Ở đội các em có Petrencô đi làm muộn lần thứ hai”. Đội hứa sẽ không để xảy
ra nữa. Sau đó đội đã họp bàn kế hoạch giúp đỡ Petrencô.
Như vậy, Macarencô đã tác động tới cả đội - tập thể cơ sở. Khi tác động lần thứ hai, Ông đã kết hợp
giữa tác động song song và tác động trực tiếp. Hiệu quả tác động vào toàn đội sẽ mạnh hơn hiệu quả
tác động vào đội trưởng hay đội ngũ tự quản.
Ba là, khi Petrencô đi làm trễ giờ, Macarencô mời cả đội lên phòng ông uống trà, Ông nói về một điều
gì đó mà không ám chỉ một ai hoặc một đội nào cả, nhưng các em tự liên hệ và đoán ra Macarencô
định nói gì và nói về ai.
Trường hợp thứ ba xảy ra khi tập thể các em có đội ngũ tự quản vững vàng, có dư luận lành mạnh, các
thành viên trong tập thể có ý thức trách nhiệm cao đối với công việc chung. Vì vậy, vấn đề nhà giáo
dục đưa ra không phải là yêu cầu trực tiếp với tập thể mà chỉ là một mong muốn, một nguyện vọng,
nảy sinh cùng với sự nảy sinh của hiện tượng giáo dục, thì phương pháp tác động song song và
“bùng nổ sư phạm” xuất hiện vào những năm đầu của thế kỷ XX. Người xây dựng và áp dụng
thành công trong công tác giáo dục trẻ em là A.X.Macarencô (1888 - 1939) - nhà giáo dục Xô viết
nổi tiếng.
Để hiểu rõ về phương pháp “bùng nổ sư phạm” của ông, chúng ta hãy nghe chính ông giải thích: “Tôi
nói “bùng nổ’ không có nghĩa là đặt một gói bộc phá dưới chân một người nào đó, châm ngòi rồi bỏ
chạy, để cho người đó nổ tung ra. Tôi muốn nói tới một tác động bất thần làm đảo lộn hoàn toàn mọi
ước muốn của con người, mọi nguyện vọng của họ.”
Theo kinh nghiệm giáo dục của Macarencô, chúng ta có thể hiểu “bùng nổ sư phạm” là phương pháp
mà giáo viên dùng những tác động mạnh đặc biệt, bất thần tới đối tượng giáo dục, nhằm tạo ra ở họ
những chuyển biến về mặt tâm lí , suy nghĩ, nhằm điều chỉnh quá trình hưng phấn và ức chế để phá vỡ
những suy nghĩ, thói quen, hành vi xấu, tạo ra những suy nghĩ, những tình cảm, những hành vi mới
theo yêu cầu giáo dục.
3.2. Trong quá trình giáo dục, Macarencô đã nhiều lần sử dụng thành công. Sau đây là một vài
ví dụ:
- Ví dụ 1: Trong trại giáo huấn của ông có một cô gái mắc tính hay cắp vặt. Ngay ngày đầu tiên vào
trại, ông đã thấy tận mắt thấy cô gái lấy chiếc đồng hồ của bạn. Mọi người trong trại ai cũng nghi ngờ
cô ta là thủ phạm nhưng chẳng ai nắm được bằng chứng cụ thể. Trong cuộc họp kiểm điểm, cô ta ấp a
ấp úng tưởng chừng như không thể nào chối cãi được trước những câu chất vấn dồn dập. Macarencô
bước vào. Những người điều khiển cuộc họp báo cáo tình hình với vẻ khinh bỉ cô gái, còn cô gái thì
run sợ ngồi co rúm ở góc phòng. Macarencô nhìn khắp lượt rồi nghiêm khắc nói: “Tại sao các anh, các
chị lại lên án cô ấy. Tôi chắc chắn là cô ấy không lấy đồng hồ của bạn. Nào, ai có bằng chứng gì cụ
thể thì nói ra ngay đi”. Không ai nêu ra được bằng chứng nào nhưng tất cả đều lên tiếng phản đối ông.
Ông vẫn lên tiếng bênh vực cô gái. Thoạt đầu cô ta vô cùng cảm động vì chỉ có ông ấy là người duy
nhất bảo cô không ăn cắp và cuối cùng mọi người đã phải chấp nhận ý kiến của ông. Nhưng rồi cô ta
nghiêm nghị nhìn ông với đôi mắt buồn bã. Rõ ràng cô ta không phải là đứa ngốc. Trong nỗi buồn của
cô ta có chút nghi ngờ. Liệu ông ta có tin mình thật hay không hay chỉ là thủ đoạn, cô tự hỏi mình.
Sau cuộc họp, Macarencô đã giao cho cô gái cả những công việc có liên quan tới tiền bạc với một lòng
tin thực sự. Ông đã hành động liên tiếp nhiều tuần. Cô gái đã không chịu đựng được nữa, tìm đến Ông
khóc lóc thảm thiết và nói: -Con xin cảm ơn thầy ví thầy là người duy nhất độ lượng và vẫn tin yêu