TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
TỔ SỬ - ĐỊA
Giáo trình
ĐỊA LÝ CÁC KHU VỰC
&
MỘT SỐ QUỐC GIA CỦA
CHÂU ÂU - CHÂU PHI
Người biên soạn:
PHAN NGỌC ÁNH
Giảng viên Trường ĐẠI HỌC AN GIANG
LƯU HÀNH NỘI BỘ
Năm 2002
Phần I: Địa Lý Châu Âu
Chương I: Khái Quát Địa Lý Châu Âu
Các Đặc Điểm Địa Lý Tự Nhiên Châu Âu
Địa Hình Và Khoáng Sản
I. Lịch sử phát triển của lục địa
a-Thời tiền cam
Lục địa Châu Âu bao gồm 1 nền cổ gọi là nền Nga hay còn gọi là nền Đông Âu, chiếm toàn bộ đồng
bằng Nga và phần lớn bán đảo Xcanđinavi hiện nay và lục địa Bắc Ðại Tây Dương .
b-Đại cổ sinh
• Chu kỳ Calêđôni: hình thành nên các khối núi ven rìa lục địa Châu Âu như đất Phran Iơxip,
Sét len, Ailen, Tây nước Anh.
• Chu kỳ Hec xi ni: tạo nên các núi trung bình và các miền đất cao trung tâm Châu Âu kéo dài từ
Ailen đến Anh qua Pháp đến Tiệp Khắc.
c-Đại trung sinh và kỷ đệ tam
Vận động tạo sơn Anpơ làm xuất hiện miền núi trẻ Nam Âu với hướng T - Đ gồm các dãy Pirênê,
Anpo, Cacpat, Bancang tới bán đảo Tiểu Á và nối tiếp với miền núi trẻ Tây Á. Lục địa Bắc Ðại Tây
Dương bị đổ vỡ tạo ra biển Mangso và quần đảo Anh.
Kèm theo uốn nếp và đổ vỡ là hoạt động núi lửa ở Ailen, Aixolen, quần đảo Setlen, bán đảo
Xcanđinavi và nhất là ở Nam Âu.
nguyên hoặc bồn địa.
• Miền núi trẻ Anpơ nằm ở Nam Châu Âu kéo dài từ T-Đ gồm những dãy núi hướng T-Đ và
hướng vòng cung có nhiều đỉnh nhọn lởm chệm cao hơn 4500m quanh năm tuyết phủ. Giữa
các dãy núi cao, là các đồng bằng thấp trước và giữa núi: đồng bằng trung và hạ lưu sông Đa
nuyp, đồng bằng S.Pô.
Miền núi Anpo gồm các dãy núi chính:
• Dãy Anpo: đồ sộ cao nhất Châu Âu uốn thành vòng cung từ bờ biển Ðởa Trung Hải đến Thụy
Sĩ với hướng chính là T-Đ cao nhất là ngọn Bạch Sơn ( 4810m ) quanh năm tuyết phu, Anpo
có nhiều thung lũng sâu, nhiều đèo thấp nên không cản trở giao thông.
• Dãy Cacpat và dãy Bancang ( phần kéo dài về phía Đông của dãy Anpo )
• Dãy Cácpat uốn thành vòng cung lưng quay về phía Đông ôm lấy bình nguyên trung lưu sơng
Danuyp & cao nguyên Tranxinvanie dài khoảng 1500 km rộng tb 150 km cao từ 1500 - 2000
m đỉnh cao nhất 2663 trên khối núi Ta Tra.
• Dãy Bancang cũng uốn thành vòng cung ôm lấy bình nguyên hạ lưu sơng Ðanuyp, đỉnh cao
nhất 2.925m.
• Anpo kéo dài về phía Nam tạo thành các dãy núi trên bán đảo Ibêrich, bán đảo Apennin và bán
đảo Bancang. Các bán đảo này chủ yếu là núi, bình nguyên chỉ chiếm diện tích nhỏ hẹp, trong
đó phân bố rộng rãi các khối núi đá vôi.
• Dãy Pirênê dài 450 km cao trung bình 1500- 2000 m ở biên giới Pháp. Tây Ban Nha - là dãy
núi hiểm trở nhất Châu Âu.
• . Dãy Apennin chạy dài trên bán đảoApennin đến Địa Trung Hải cao trung bình 1500-2000m
địa hình tương đối phức tạp:miền trung Apennin dọc bờ biển Adriatich có nhiều khối núi đá
vôi và các dạng địa hình Karst, miền nam ven bờ biển Tirenê là các dãy đồi diệp thạch xen kẻ
với các khối núi đá vôi. Ngoài ra dọc bờ biển là các dạng núi lửa cổ và hiện đại (Núi lửa
Vesuvio 1277m cứ vào khoảng 100năm lại phun 1 lần).
Trên bán đảo Bancang chạy dọc bờ biển Adriatich là dãy Pinđo và các nhánh trên bán đảo
PeloponeXô tạo thành dãy núi đá vôi uốn nếp xen kẻ với các dãy núi sa thạch đệ tam cao trung bình
2000-2500m, nhiều dạng địa hình Karst khó đi lại.
III. Khoáng Sản
Phong phú, nhiều mỏ có trữ lương vào loại lớn của thế giới, phần lớn tập trung ở các miền núi già và
Nhìn chung sự phân bố nhiệt độ tháng 1 và tháng 7 của Châu Âu cũng đã thể hiện 1 phần nào tính
chất khí hậu của nó: Ví dụ
T
o
tb tháng
Thành
phố Pari Praha Kiép Vongagrat
Tháng 7
Tháng 1
Biên độ
18
o
2
16
19
o
-2
21
19
o
-6
25
14
o
-10
34
Gồm bờ biển Bắc Băng Dương và các đảo phía Bắc. Mùa đông lạnh lẽo kéo dài từ 7-10 tháng. Mùa
hạ ngắn mát, trời luôn có mây và mưa nhỏ, lượng mua nhỏ trung bình 300-500 mm/năm, nhiệt độ
quanh năm thấp, phần lớn đất đai ẩm thấp, biến thành đầm lầy.
b. Miền khí hậu ôn đới đại dương và ôn đới lục địa
Khí hậu ôn đới hải dương:
• Quần đảo Anh, bờ biển phía Tây bán đảo Xcandinavi, bán đảo Giutlen, Pháp... có khí hậu ôn
đới hải dương điển hình: mùa đông ấm áp, mùa hạ mát mẻ, nhiệt độ trung bình tháng 1
thường trên 0oC. mua nhiều và mưa quanh năm, hon 2000 mm, tuyết chỉ có trong 1 thời gian
ngắn.Ở Ailen nhiệt độ trung bình tháng 1: +5
o
C, tháng 7: +15
o
C, phát triển đồng cỏ chăn nuôi.
• Vào sâu trong nội địa các nước như miền Đông nước Pháp, Đức, Tiệp, Ba Lan... và 1 phần
phía Nam Thụy Điển. Tính chất lục địa tăng dần, do đó có khí hậu trung gian, không lạnh lắm
nhưng không ôn hòa như vùng bờ biển Tây Âu, biên độ tăng dần từ Tây sang Đông.
Tháng 7 Tháng 1 Biên độ
Béc lin 19
o
0
o
19
o
Vac sa va 19
o
- 4
o
23
o
lượng mua cũng giảm dần, thích hợp phát triển rừng cây ôn đới.
Miền Đông Âu chiếm một diện tích rộng lớn ( 2/3 diện tích châu lục ), địa hình thấp, bằng phẳng,
chạy theo hướng BN, có nhiều sông dài từ 1.300 km - 3.500 km, dòng sông ít thác ghềnh. Các sông
đều bắt nguồn từ các miền đất cao ( 170 m - 200m ), dòng sông đóng băng trong mùa đông, lũ lớn
vào mùa xuân, mực nước thấp nhất vào mùa hạ.
Các sông tương đối lớn:
• Sông Petchora, Bắc Dvina chảy ra Bắc Băng Dương.
• Sông Tây Dvina chảy ra biển Bantích.
• Sông Ðơn, Ðoniep chảy vào Adôp và Hắc Hải.
• Sông Vonga, Uran chảy vào Caxpi.
Các sông phần lớn được nối với nhau bằng hệ thống kênh đào, nên có giá trị rất lớn về giao thông, từ
Địa Trung Hải đến Ban tích, từ Caxpi đến Bạch Hải hoặc Ban tích.
Quan trọng nhất là sông Vonga dài nhất Châu Âu 3.600 km, hướng chủ yếu là TĐ. Lưu lượng trung
bình ở hạ lưu là 8.000m3/s hiện nay đã có hàng loạt các đập thủy điện được xây dựng trên sông
Vonga( Goocki 500.000 Kw), Sebô Xari 1 MKw, Cubisep 2 MKw). Ngoài ra sông Vonga còn có
nguồn thủy sản rất phong phú. Trên sông Vonga có nhiều thành phố lớn Calinin, Goocki, Ulianốp,
Vongagrat.
III. Sông ngòi Tây Âu
So với Đông Âu, Tây Âu ấm áp, lượng mưa phong phú hơn nên có mạng lưới sông ngòi dày đặc,
phần lớn là những sông nhỏ.
• Đổ ra Đại Tây Dương: sông Odo, sông Enbo, sông Raino, sông Loa, sông Garơn, sông Thêm
các sông nầy quanh năm nhiều nước, thủy chế điều hòa.
• Đổ ra Địa Trung Hải: sông Êbrơ, sông Rôn, sông Pô, sông Tibro. Các sông nầy có thủy chế
thất thường, mực nước cao nhất vào mùa dông, thấp nhất vào mùa hạ.
Phần trung lưu và hạ lưu sông ngòi Tây Âu có giá trị rất lớn về giao thông: sông Danuyp, sông Raino,
và các sông của Anh,Pháp,Đức là những đường thủy hết sức quan trọng trong nội địa. Phần thượng
lưu thuộc miền núi Anpo,trên bán đảo Xcandinan, có giá trị rất lớn về thủy điện.
Sông Danuyp dài 2.850 km, bắt nguồn từ sườn phía đông núi Rừng Đen trên độ cao 1.100 m, chảy
theo hướng Đông vàhướng Nam rồi đổ vào Hắc Hải. rồ
Ở thượng lưu sông có tính chất của các sông miền núi Anpo, dòng sông có lưu lượng cực đại vào
mùa xuân do băng tuyết tan, sau khi vượt qua những hẽm vực vùng rừng Bohême, dòng sông ít dốc,
trọng của Châu Âu.
III. Miền rừng hổn hợp và rừng cây lá rộng
Chiếm diện tích lớn nhất, gồm phần lớn đất đai của Tây Âu và 1 phần Đông Âu, kéo dài từ Tây sang
Đông, càng sang phía Đông càng thu hẹp lại và tận cùng ở phía Nam dãy Uran, phía Bắc đến 60oB,
phía Nam đến tận dãy Cacpat và miền Địa Trung Hải. Mùa đông ấm, mùa hạ nóng, mưa nhiều, thực
vật là lá kim và lá rộng mọc lẫn lộn như thông, tùng, bách, sồi, giẻ, bồ đề....
Miền duyên hải ĐỚI Tây Dương có khí hậu ôn đới hải dương điển hình, thực vật chủ yếu là các loại
sồi, giẻ và các loại cây lá rộng xanh quanh năm. càng sang phía Đông tính lục địa càng tăng, các loại
bạch dương và thông phát triển mạnh. Đất chủ yếu là đất rừng nâu bị glây hóa và đất Pốt dôn.
Miền nầy đã được khai phá triệt để, trở thành những cánh đồng lúa mì, củ cải đường rộng lớn. Rừng
chỉ còn lại trên những sườn núi cao, dã thú hầu như đã tuyệt chủng chỉ còn một vài loài như gấu, chó
sói,... việc chăn nuôi bò, cừu rất thuận lợi.
IV. Miền rừng thảo nguyên và thảo nguyên
Ở miền Nam Đông Âu khí hậu lục địa khô khan, mưa ít, bốc hơi nhiều. Thực vật chủ yếu là các loài
cỏ và rừng cây thưa. Phía bắc ẩm hơn cỏ mọc dày và cao, cây mọc thành rừng, phía nam khí hậu khô
khan hơn, cỏ mọc thưa thớt. Động vật có các loài gặm nhấm như thỏ rừng, chuột nhảy và có nhiều
loài chim ( cò, vạc, sếu, đa đa, sáo...).
Miền nầy có loại đất đen Tsecnodiôm phì nhiêu, nên phần lớn diện tích đã biến thành những cánh
đồng lúa mì và ngô, ngoài ra người ta còn trồng hướng dương, củ cải đường và các loại cây ăn quả.
V. Miền cận chí tuyến khô
Chiếm khoảng 11 % diện tích Châu Âu, bao gồm dãy đất ven bờ các bán đảo Ibêrich, Apennin,
Bancang và một số đảo trong Điở Trung Hải. Mưa mùa đông, khô hạn mùa hạ. Thực vật gồm các loại
cây lá xanh quanh năm và rụng lá mùa đông như sồi, giẻ, thông... ngoài ra còn có các loại cây có võ
dày như giẻ gai, cọ, xương rồng. Đất phổ biến là đất nâu rừng khô cận nhiệt. Động vật tương đối
phong phú, trong rừng có hoẳng, chó sói, nhím, thỏ rừng... và các loài gặm nhấm. Miền Nam bán đảo
Ibêrich có nhiều giống khỉ Bắc Phi, chim chóc và bò sát rất nhiều.
Do đặc điểm khí hậu, người ta đã biến những nơi được tưới nước tốt thành các rừng cây ô liu và vườn
nho trù phú.
VI. Miền 1/2 hoang mạc và hoang mạc
Phát triển ở cực Đông Nam miền Đông Âu, trong miền đất thấp cận Caxpi khí hậu rất khô khan. P:
Ngoài ra Châu Âu còn nhiều dân tộc nhỏ có ngôn ngữ và văn hóa riêng như người Phần Lan,
Hungari, Anbani, Hi lạp.
II. BẢN ĐỒ CHÍNH TRỊ
Châu Âu hiện nay gồm 43 quốc gia (bản đồ kèm theo)
Các Khu Vực Địa Lý Tự Nhiên Châu Âu
Toàn bộ lãnh thổ Châu âu là bộ phận có hình dạng lãnh thổ bị chia cắt mạnh và chịu ảnh hưởng trực
tiếp của Đại Tây Dương. Tuy cấu tạo địa chất và địa hình khá phức tạp, nhưng trên đại bộ phận lãnh
thổ cảnh quan rừng chiếm địa vị thống trị. Có thể chia Châu âu thành các xứ sau đây:
1. URAN
Uran là dãy núi không lớn, nhưng vì nằm giữa hai đồng bằng lớn, nên nó trở thành một xứ tự nhiên
riêng biệt. Núi Uran là nơi có nguồn khoán sản rất phong phú, ở đây tập trung nhiều mỏ quặng có trữ
lượng khá lớn như sắt, đồng, bôxit, ngoài ra còn có niken, vonfram. crôm, vàng, thủy ngân v.v... Vì
thế Uran trở thành một trong những trung tâm công nghiệp rất quan trọng của Nga. Xứ Uran nằm chủ
yếu trong đới khí hậu ôn đới, có rừng hỗn hợp và rừng lá rộng với dự trữ khá lớn.
2. BẮC ÂU
Xứ Bắc Âu bao gồm lãnh thổ các nước Na Uy. Thụy Điển, Phần Lan và vùng Carêli thuộc Nga. Lãnh
thổ Bắc âu gồm hai bộ phận: miền núiXcănđinavi và miền đồng bằng phía đông. Núi Xcănđinavi
thuộc đới uốn nếp Cổ sinh, bị san bằng mạnh trong thời kỳ băng hà, sau này được nâng lên với độ cao
trung bình 1200 - 1400m, trên nền cổ Đông Âu. Do ảnh hưởng của băng hà đệ Tứ trên các đồng bằng
có một hệ thống hồ rất dày đặc, còn các sông mới được hình thành nên có nhiều thác ghềnh.
Bắc Âu nằm trong miền khí hậu ôn đới lạnh và ẩm nhất Châu Âu, nên phần lớn lãnh thổ phủ rừng lá
kim. Nguồn tài nguyên phong phú nhất của Bắc Âu là khoáng sản (gồm sắt, đồng, chì kẽm...) gỗ và
nguồn thủy năng, vì thế các ngành công nghiệp khai khoáng, khai thác, chế biến gỗ và công nghiệp
điện là thế mạnh của các nước khu vực này.
3. ĐỒNG BẰNG CHÂU ÂU
Bao gồm toàn bộ đồng bằng Nga, các đồng bằng Đức và BaLan. Các đồng bằng này đều hình thành
trên vùng nền Nga, nên có dạng một đồng bằng lượn sóng, với các vùng đất cao xen kẽ với các vùng
đất thấp, dộ cao của đồng bằng thay đổi từ 100 đến 300 - 400m
Đồng bằng Châu Âu nằm chủ yếu trong miền khí hậu ôn đới chuyển tiếp nhưng vì kích thước rộng
lớn nên điều kiện khí hậu không đồng nhất giữa các vùng: càng đi về phía nam càng ấm, càng đi về
ẩm. Trên các sườn núi và các đồng bằng phía Tây phát triển rừng lá rộng còn trên các đồng bằng phía
đông phát triển thảo nguyên rừng và thảo nguyên. Trong xứ này, ngoài nguồn dự trữ gỗ khá giàu có
các đồng bằng là những nơi thuận lợi cho trồng trọt và chăn nuôi. Ngoài ra trong lòng đất còn có
nhiều khoáng sản, đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt tập trung trong các đồng bằng nói trên.
6. NAM ÂU
Xứ nam Âu gồm ba bán đảo lớn là Pirênê, Apennin và Ban Căng. Toàn xứ được hình thành trong
giai đoạn tạo núi Tân sinh cùng thời với vùng núi Anpơ -Cácpat - Ban Căng, song về mặt cấu trúc, ở
Nam Âu các uốn nếp trẻ có xen các kiểu kiến trúc cổ hơn, vì thế trong địa hình, bên cạnh các dãy núi
trẻ, cao và hiểm trở có các núi trung bình hoặc các sơn nguyên tương đối bằng phẳng. Mặt khác,
trong cấu tạo địa chất của Nam Âu rất phổ biến nham đá vôi, vì thế trong những vùng cũng như các
cao nguyên, các dạng địa hình cátxtơ rất phát triển tạo nên nhiều phong cảnh đẹp hấp dẫn khách du
lịch.
Ở Nam Âu với điều kiện khí hậu ấm và ẩm về mùa đông, mùa hè khô và trong sáng nên là vùng trồng
được nhiều cây ăn quả, nhiều cây hoa thơm và cây công nghiệp có giá trị, đồng thời cũng là nơi có
nhiều thuận lợi cho việc xây dựng các khu nhà nghỉ và du lịch thu hút khách nhiều nước đến tham
quan và nghỉ ngơi.
Chương II: ĐỊA LÝ MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ MỘT SỐ KHU VỰC THUỘC CHÂU ÂU
Các Nước Đông Âu
Vị Trí Địa Lý
Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, các từ Đông, Tây được dùng để chỉ các nước thuộc hai hệ thống
chính trị kinh tế khác nhau.
• Đông là chỉ các nước theo chủ nghĩa xã hội, Đông Âu gôm 8 quốc gia XHCN ở Châu Âu là Ba
lan, Tiệp khắc, CHDCĐức, Hungari, Rumani, Bungari, Nam Tư và Anbani. Thực ra các nước
Đông Âu nằm ở vị trí ĐN và Trung Âu.
• Tây chỉ là các nước theo Chủ Nghĩa Tư Bản
Tám quốc gia Đông Âu có tổng diện tích 1.275.000km2 chiếm 12% diện tích Châu Âu, đều là những
nước có diện tích nhỏ (lớn nhất là Ba Lan:312.600km2, nhỏ nhất là Anbani:28.700km2 ), nằm liền kề
nhau từ bờ biển Bantich ở phía bắc đến bờ Hắc Hải ở phía đông và ven bờ Ðởa Trung Hải ở phía
TN&N. Tiếp giáp với nhiều nước Châu Âu&Thổ Nhĩ Kỳ ở Châu Á nên các nước Đông Âu có vị trí
thuận lợi để giao lưu buôn bán với các nước khác ở Châu Âu &các khu vực khác trên thế giới.
Dân Cư Lao Động
Các nước Đông Âu có dân số tương đối đông chiếm khoảng 22% đân số Châu Âu. Các nước đều có
mức độ dân số dân số cao hơn mật đô trung bình toàn châu. Trừ Anbani các nước còn lại có tỷ lệ gia
tăng dân số hàng năm thấp (Hunggari -0,2%), một số nước có tỉ lệ thị dân khá cao > 60% dân số
(CHDC Đức, Bungari, Tiệp Khắc).
Phần lớn dân cư làm việc trong khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Trong qúa trình công
nghiệp hóa, nhiều nước đã tạo được đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, có trình độ chuyên môn
cao.
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC NƯỚC ĐÔNG ÂU:
ĐÃ TRẢI QUA CÁC BƯỚC THĂNG TRẦM LỚN
I. Giai đoạn trước chiến tranh thế giới II: các nước Đông Âu có trình độ phát triển KT-XH rất
khác nhau
• Đức, Tiệp Khắc đã là những nước tư bản có trình độ công nghiệp khá phát triển.
• Các nước còn lại vẫn là những nước nông nghiệp lạc hậu ở Châu Âu, nền sản xuất công nghiệp
mới hình thành, nhỏ bé, phần lớn do tư bản nước ngoài nắm giữ.
II. Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới II đến thập kỷ 80
Sau chiến tranh thế giới II các nước Đông Âu đã thành lập Nhà nước dân chủ nhân dân tới năm 1949
các nước đều lần lượt hoàn thành cách mạng dân chủ nhân dân và bước vào thời kỳ xây dựng CNXH
với những đặc điểm chung như sau:
• Cải tạo quan hệ sản xuất cũ, thiết lập quan hệ sản xuất mới XHCN, tập trung tư liệu sản xuất
trong tay nhà nước, thực hiện nền kinh tế kế hoạch hóa. Trong những năm 1950 - 1975 các
nước Đông Âu đã thực hiện năm kế hoạch 5 năm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của
CNXH. Việc tập trung các tư liệu sản xuất và sản xuất có kế hoạch tạo điều kiện tập trung sức
lao động và vốn đầu tư vào những ngành trọng điểm, những công trình quan trọng nhằm đưa
đến sự thay đổi cơ bản nền kinh tế quốc dân. Vì vậy nó đã đóng vai trò tích cực trong khôi
phục và xây dựng đất nước.
• Tiến hành công nghiệp hóa đất nước, chú trọng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, nhà nước
đã dành phần lớn vốn đầu tư (40-50%) cho công nghiệp, trong đó tới 70 -80% giành cho công
nghiệp nặng. Bên cạnh đó sự giúp đỡ của Liên Xô về nhiều mặt đã giúp các nước Đông Âu
phát triển nhanh chóng nhiều ngành công nghiệp quan trọng, nhờ vậy tốc độ phát triển công
• Rumani: Từ 1 nước nông nghiệp cũng đã trở thành 1 nước công - nông nghiệp, sản xuất công
nghiệp chiếm gần 70% GNP.
• CHDC Đức: đã trở thành một nuớc công - nông nghiệp tiên tiến, sản xuất công nghiệp mang
lại 76% GNP.
• Ba Lan: Năm 1980 so với 1947 sản xuất công nghiệp tăng gấp 30 lần, sản xuất nông nghiệp
tăng gấp hơn 2 lần.
• Năm 1980 với sản lượng công nghiệp chiếm 1,8% tổng sản lượng công nghiệp thế giới Tiệp
Khắc đã được xếp vào hàng các nước công nghiệp trên thế giới.
III. Giai đoạn từ cuối những năm 1980 - 1991: số trì trệ về kinh tế làm các nước XHCN Đông
âu rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong quá trình xây dựng CNXH, các nước Đông Âu đã phạm
một số thiếu sót và sai lầm về đường lối và biện pháp phát triển kinh tế - xã hội. Trong thời gian dài,
các nước XHCN Đông Âu đã tập trung quá lớn vào các ngành sử dụng nhiều vốn đầu tư (khai
khoáng, xây dựng ) và những ngành tốn nguyên liệu ( chế tạo máy hạng nặng ), không có tác dụng
thúc đẩy sự phát triển các ngành khác. Trình độ kỹ thuật sản xuất tư ít đổi mới, ngày càng thua kém
các nước tư bản phát triển. mặc khác các ngành sx hàng hóa tiêu dùng ít được chú trọng phát triển,
chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người dân.
Cơ cấu kinh tế không phù hợp, lại chậm đổi mới về quản lý sản xuất nên đến đầu 1980 nền kinh tế
các nước Đông Âu đã có những biểu hiện trì trệ. Bên cạnh đó, trong các bộ phận lãnh đạo của đảng
nhà nước và chính quyền đã có những biểu hiện sai sót, tiêu cực (tham nhũng, cửa quyền, thiếu dân
chủ, thiếu công bằng xã hội.. ), Các nước Đông Âu đã bước vào thời kỳ khủng hoảng toàn diện về
kinh tế và chính trị - xã hội.
Cuộc khủng hoảng bùng nổ sớm nhất ở Ba Lan từ cuối năm 1988 sau đó lan sang tất cả các nước
Đông Âu còn lại. Kết quả tổng tuyển cử tự do ở hầu hết các nước Đông Âu, Đảng cộng sản bị thất
bại, các thế lực chống CNXH đã thắng cử. Nội chiến đã diễn ra ác liệt ở Nam Tư giữa các nước Cộng
Hòa Crôatia, Xecbia, Bôxnhia Hecsegôvina dẫn đến Liên Băng Nam Tư bị tan rã...
Cuộc khủng hoảng của CNXH của các nước Đông Âu đã dẫn tới những biến đổi lớn: CHDC Đức sát
nhập vào CHLB Đức, CHLB Tiệp Khắc tách ra thành 2 nước CH độc lập Séc và Xlôvakia, LB Nam
Tư tan rã phân chia thành 5 quốc gia độc lập: LB Nam Tư ( gồm Xecbia và Môntênêgro ) CH
Xlôvenia, CHCrôatia, CH Bôxnia-Hecxegôvinia, CH Maxeđônia.
o Ống dẫn dầu Hữu Nghệ chuyển dầu từ LX sang các nước Đông Âu với giá bao cấp
(thập kỷ 80 hoạt động không hiệu quả do Mỹ cấm vận).
o Đường tải điện Hòa Bình cung sang các nước Ðông Âu.
• Cơ cấu công nghiệp: chú ý phát triển công nghiệp, công nghiệp nặng chiếm 3/4 tổng sản lượng
công nghiệp phần còn lại là công nghiệp nhẹ, dịch vụ chiếm tỷ lệ thấp.
• Tổ chức sản xuất: hình thành các tổ hợp sản xuất liên ngành, các liên hợp sản xuất Công -
nông nghiệp, các liên hợp khoa học - sản xuất qui mô lớn nhưng không đồng bộ.
• Phân bố lực lượng sản xuất: đã có sự thay đổi cơ bản, trước tập trung ở vùng đếng bằng Ðơng
Âu, nay đã có sự di chuyển lớn theo 3 hướng: về phía đông, xuống phía nam, lên phía băéc,
nhiều thành phố công nghiệp, khoa học đã mọc lên từ đây, kinh tế trở nên phồn vinh hơn.
• Đời sống người dân được đảm bảo, cuộc sống rất thanh bình hàng hóa rẻ với giá bao cấp của
nhà nước hàng mấy thập kỷ liền.
• Sở hữu vật chất: chỉ có 2 hình thức toàn dân và tập thể.
• Lao động: tuần lễ làm việc 5 ngày - nghỉ thứ 7, chủ nhật. Liên Xô có đội ngũ cán bộ khoa học,
trường đại học, viện nghiên cứu vào loại tầm cở thế giới, nhung thiên về khoa học cơ bản
Tất cả những điều vừa nêu trên có thể nói Liên Xô đã trãi qua một thời hoàng kim, đã là chỗ dựa cho
nhiều dân tộc, nhiều quốc gia.
Một Thời Chao Đảo, Một Cuộc Thử Nghiệm Đầy Chông Gai LB Xô Viết Tan Rã Và Sự Ra Đời
Của Cộng Đồng Các Quốc Gia
Sau 60 năm đạt nhiều thành tựu rực rỡ, nền kinh tế Liên Xô ở thập kỷ 70 ngày càng bộc lộ rõ những
yếu điểm do cơ chế kinh tế cũ tạo ra, nền kinh tế mất cân đối nghiêm trọng trên nhiều lĩnh vực, nợ
nước ngoài và lạm phát tăng nhanh dẫn đến chất lượng cuộc sống của nhân dân ngày càng giảm sút.
Thập kỷ 80, Liên Xô dã đề ra chiến lược phát triển kinh tế theo chiều sâu, chú trọng đến vị trí của tiến
bộ khoa học - kỹ thuật, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại và cố gắng mày mò thử nghiệm cuộc cải tổ
cơ chế kinh tế lỗi thời để tạo động lực phát triển kinh tế mới. Và thập kỷ 80 đầy thử thách đã trôi qua
với kết quả không mấy phấn khởi
Về thực trạng kinh tế - xã hội
• Tốc độ phát triển kinh tế chậm dần, sản xuất công nghiệp trì trệ - GNP giảm 4,5% năng suất
lao động xã hội giảm 3%. thu nhập quốc dân giảm 4% (năm 1990 so với 1989)
• Khủng hoảng kinh tế, chính trị nặng nề bao trùm toàn bộ kinh tế, lạm phát ở mức kỷ lục
và Mônđôva ) đã ký 6 văn kiện của hiệp định thành lập cộng đồng, còn 3 nước vùng cận Ban Tích:
Látvia, Litvia và Ettônia đã tách thành những quốc gia riêng từ năm 1990. Còn Grudia không tham
gia.
Mỗi nước là một quốc gia độc lập, tự mình điều khiển hướng đi, tốc độ phát triển, thực hiện cải cách
là công việc của chính bản thân mỗi nước cởng hoa. Các nước xây dựng quan hệ kinh tế với nhau trên
nguyên tắc độc lập, bình đẳng cùng có lợi.
Liên Bang Nga
Diện tích: 17.075.200 km2
Dân số: 147.500.000 người ( 1989) - 149.457.000 người ( 1993)
Thủ đô: Matxcơva.
Các nguồn lực tự nhiên
Lãnh thổ trải dài trên 2 châu lục Âu - Á (phần Đông Âu, Bắc A) chiều dài theo kinh tuyến B - N:
2500 - 4000 km, rộng T - Đ: 9000 km. Trong LB Nga gồm nhiều vùng, miền tự trị: 16 lãnh thổ CH tự
trị ( Baski, Buriat, Đagétstan, Kabarđino-Baka, Kalơmư, Kapelơ, Kômi, Mani, Môrơđô, Bắc Osétrin,
Tactarô, Tubin, Uđơmurơ, Tretrenno-Inglurơ, Truvas, Iarơcut. 5 tỉnh tự trị, 10 khu tự trị, 6 vùng và 49
miền. Thành phố Mátcơva và Xanh Pêtecbua (trước 1990 là Leningorat) như dơn vị hành chính độc
lập.
I.Vị trí - giới hạn
Vị trí quan trọng, giáp nhiều biển, nhiều quốc gia. Liên Bang Nga có đường biên giới biển và đất liền
dài gần 40.000 km. Bắc và Đông giáp 2 đại dương (Bắc Băng Dương và Thái Bình Dương) Tây và
Nam giáp 13 quốc gia, trong đó có những nước cởng hồ thuộc LB Xôviết (Extônia, Látvia, Bêlarut,
Ucraina, Grudia. Adecbaizan, Kadắcxtan), Phần lan, Mông Cổ, Trung Quốc, Triều Tiên.
Nằm ở vị trí trung gian của bán cầu Bắc, Nga có thế quan hệ với các nước Châu Âu (Ðông và Tây
Âu), Á, Bắc Phi và Bắc Mỹ (khu vực này có diện tích rộng lớn, dân số đông, tiềm năng kinh từ lớn).
Phần phía Ðông Nga cách xa những trung tâm kinh tế của đất nước có nhiều triển vọng trong việc
phát triển quan hệ ngoại thương trong tương lai, khu vực sẽ có vai trò nhất định trong chiến lược kinh
tế Châu Á và Thái Bình Dương, phát triển kinh tế sôi động, dọc bờ biển có nhiều Hải cảng lớn:
Vlađivôstốc, Nakhốtca, Magađan, Pêtrôpaplôpxcơ, Kansatski.
Qua các hải cảng trên miền Bắc ( Bắc Băng Dương và Ban Tích ). Nga có thể buôn bán với các nước
Đông. Tây Âu ra các nước ven bờ Đại Tây Dương và các nơi khác. Nga còn nằm trên đường giao
đoạn sinh trưởng của cây trồng ngắn (30-60 ngày). Thực vật chỉ có cây bụi, rêu, địa y,. Phần
lớn lãnh thổ quanh năm sương mù và bão tuyết không thuận lợi cho phát triển kinh tế và sinh
sống cho con người. Ở đây chỉ phát triển ngành chăn nuôi, săn bắn tuần lộc, các loại thú có
lông quí, gấu trắng, hải cẩu.
• Vùng rừng taiga: chiếm hon 50% diện tích nước Nga với gần 10.000.000 km2. khí hậu ẩm,
giai đoạn sinh trưởng của thực vật 80-140 ngày. Sinh khối thực vật 70-85 tạ/ha. Rừng cây lá
nhọn chiếm ưu thế với các loài cây lạc diệp, tùng, bá hương, thông đuôi ngựa, linh sam, thông
và rừng hổn hợp. Đất nông nghiệp chiếm 20-40% diện tích, nhưng cần được cải tạo (thủy lợi
và phân bón). Động vật có tuần lộc, gậm nhấm và thú có lông quí.
• Vùng thảo nguyên và thảo nguyên rừng: khí hậu ẩm, giai đoạn sinh trưởng của thực vật 100-
200 ngày. Cây cỏ chiếm ưu thế, sinh khối 90 tạ/ha/năm, thuận lợi để phát triển chăn nuôi.
• Vùng núi cao: núi Xibia và Viễn đông chủ yếu là rừng lá nhọn. Những chổ trũng thấp giữa núi
sử dụng để trồng trọt, sườn núi trồng cây thức ăn gia súc theo mùa phục vụ chăn nuôi.
VI. Tài nguyên - khoáng sản
Nga là nước giàu có về tài nguyên khống sản (trở lượng và số lượng: nhiên liệu, năng lượng thuỷ
diện, quặng kim loại và phi kim loại, rộng, đất nông nghiệp..) - một trong những nước đứng đầu thế
giới.
• Năng lượng - nhiên liệu có vai trị quang trọng hàng đầu. Gồm: than đá (trở lượng 7.000 tỉ tấn),
dầu (trở lượng 60 tỉ tấn), kim loại màu, kim loại đen, vàng, kim cương, niken, boxit trữ lượng
lớn. Diện tích rừng 747.000.000 ha, trữ lượng gỗ 80 tỉ m3. Tiềm năng thủy điện 400.000.000
kw có khả năng sản xuất hàng ngàn tỉ Kwh điện hàng năm (sông Lêna đứng đầu).
• Tài nguyên đất nông nghiệp: quỹ đất 2,2 tỉ ha, 227.000.000 ha đất trồng trọt, 373.500.000 ha
đồng cỏ.
• Tài nguyên dưới nước khá phong phú: cá và các hải sản, riêng vùng biển phía đông chiếm tới
1/4 sản lượng, Nga có ngành công nghiệp đánh bắt, chế biến hải sản phát triển mạnh.
• Việc săn bắn thú có lông quí đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Hàng năm có thế cung
cấp từ hàng trăm bộ lông thú quí hiếm - một trong những nước hàng đầu thế giới.
Phân bố: phần lớn tài nguyên khoáng sản nằm ở vùng Ðông Xibia: than, Fe, Au, kim cương, rừng.
Tây Xibia: dầu mỏ, khí tự nhiên. Dãy Uran: than, sắt, kim loại màu. Vùng Đông Âu ít khoáng sản,
nhưng có khả năng phát triển nông nghiệp và các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp đòi hỏi hàm
Trong đó có 12 thành phố hon 1 triệu người. Maxcơva: 8.850.000 người, Xanh Petecbua:
5.000.000 người, Goocki: 1.425.000 người, Nôvôxibiếc: 1.423.000 người, Svelốp: 1.331.000
người, Cubưxep: 1.280.000 người, Oâmxcơ: 1.134.000 người, Cheliabinxcơ 1.119.000 người,
Upm:1.092.000 nguởi Pecmơ:1.075.000 người, Cadan:1.067.000 người, Rốtstốc: 1.004.000
người. Các thành phố ở Nga là những trung tâm công nghệ khoa học, đầu mối giao thông
quan trọng hay trung tâm chính trị, hành chính. Sự phát triển công nghiệp đóng vai trò chính
trong việc hình thành phát triển thành phố và các thành phố vệ tinh ở Nga. Nga chú trọng xây
dựng thành phố như các thị trấn, các làng kiểu thành phố, là những trung tâm của liên hợp
nông công nghiệp.
II. Một dân tộc thông minh - một cường quốc khoa học (tiềm năng lớn chưa được vận dụng vào
thực tế)
Nước Nga có nhiều tác phẩm nghệ thuật, văn học, nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng, nhiều công
trình khoa học có giá trị, nhiều nhà bác học nổi tiếng, thiên tài lỗi lạc có tầm vóc thế giới trong mọi
lĩnh vực khoa học trong quá khứ, hiện tại và tương lai (Goocki. Puskin, PN Lêbêđép, ĐI Menđêlêép,
A.M Bulesốp, VI Verơnátski, MV Lomônôxốp). Những trường đại học, viện hàn lâm mà nói đến tên
tuổi, các nước đều khâm phục và ngưỡng mộ. Song cũng có những nhược điểm nhất định như chỉ
thiên về nghiên cứu cơ bản, nhiều công trình chưa vận dụng vào thực tiển, nhà nước chưa có những
chính sách, biện pháp đúng kích thích lao động trí tuệ và các vấn đề khác, nên trong vài năm gần đây
đã xảy ra hoạt tượng chảy máu chất xám.
Hy vọng rằng với cơ chế chuyển đổi mới, nhà nước LB Nga sẽ có nhiều chính sách, biện pháp để
khơi dậy mọi tiềm năng (tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên trí tuệ) để LB Nga trở thành cường quốc
kinh tế, cường quốc khoa học đứng vào hàng ngũ các G8 (1998).
Hoạt động kinh tế
Liên Bang Nga với một thời cường thịnh và đang trãi qua những bước biến động thăng trầm của nền
kinh tế khổng lồ đầy tiềm năng:
I. Quá trình phát triển
a. Nền kinh tế lạc hậu của những năm trước cách mạng tháng 10 -1917: Nga bước vào con đường
phát triển TBCN muộn hơn nhiều nước Tây Âu khác, là nước kinh tế lạc hậu.
• Nông nghiệp đóng vai trò chủ yếu, trình độ khoa học kỹ thuật nông nghiệp yếu kém, sử dụng
đất đai hạn chế, nhiều nơi bị bỏ hoang. Năm 1913 dân số nông nghiệp chiếm 82%, nông
hiện đại nhưng hiệu quả không cao.
• Trình độ khoa học kỹ thuật đạt mức cao song đặc biệt chỉ ở khoa học cơ bản, còn khoa học
ứng dụng kém.
• Tốc độ phát triởn kinh tế, sản xuất công nghiệp luơn ở Mỹc dở 9 - 10%/năm (trung bình 1950 -
1970), nông nghiệp 4% (trung bình 1950-1970).
• Phân bố: trước các xí nghiệp công nghiệp chủ yếu tập trung ở Đông Âu, nay chú ý phát triển
vùng Ðông Xibia, Tây Xibia, vùng Bắc, ở đây hình thành nhiều trung tâm khoa học mới như
Bratxcơ, Novôxibiếc.
• Giao thông phát triển ở nhiều dạng: đường sắt, ô tô, biển, hàng không, đường ống, đường điện
ngầm... với tổng chiều dài khá lớn, với giá bao cấp quá rẻ, đến nay không phù hợp, chất lượng
phục vụ không cao, kém hiệu quả.
• Quan hệ kinh tế: chủ yếu trao đổi với các nước cởng hồ thuộc Liên Xô trước nay, và buôn bán
với các nước XHCN dưới danh nghĩa LBXô Viết.
Liên Bang Nga đã góp phần đáng kể của mình (về sức lực, trí tuệ, tiền của) cho sự phát triển kinh tế -
xã hội không những cho cộng đồng các nước XHCN (Đông Âu cũ, Cu Ba, Việt Nam, Triều Tiên,
Mông Cổ) mà còn đặc biệt cho các nước thuộc Liên Xô trước nay, đưa mức sống của đa số người dân
các nước này từ nghèo khổ bần hàn lên ngang hàng mức sống của người dân Nga nhất là các nước
vùng Trung Á, thể hiện một tinh thần quốc tế cao cả.
c. Thời kỳ đầy khó khăn biến động, Nga tách khỏi LB Xô viết. Những giải pháp và triển vọng (cuối
thập kỷ 80-đầu 90,91,92) của nền kinh tế vốn khổng lồ, đầy tìềm năng.
Nền kinh tế Nga đã đang trãi qua bao khó khăn, nhược điểm:
• Cơ cấu kinh tế không hợp lý, chú ý phát triển công nghiệp nặng, nhiều công trình đồ sộ, tốn
kém, hiệu quả thấp, công nghiệp nhẹ không đáp ứng đủ nhu cầu, hàng hóa khan hiếm, hình
thức xấu, chất lượng không đảm bảo, gía cả không hợp lý, không kích thích sản xuất. Trang
thiết bị dựa trên cơ sở công nghệ cũ kém xa các nước phương Tây.
• Trong nông nghiệp nhiều năm thiếu lương thực phải nhập từ nước ngoài mặc dù đất nông
nghiệp nhiều và màu mỡ, ngân sách thiếu hụt, tệ nạn xã hội tăng. Chính trị không ổn định đã
gây nên những xáo trộn về kinh tế, mâu thuẩn xung đột sắc tộc ngày càng cao, gây thiệt hại
người và của.
Sản xuất trong tất cả các ngành giảm sút nghiêm trọng, năm 1991 sản lượng công nghiệp ở các ngành
Các hoạt động công nghiệp:
• Tổ hợp năng lượng - nhiên liệu: bao gồm các ngành khai thác, sản xuất nhiên liệu, năng
lượng, giao thông và các cơ sở hạ tầng dịch vụ.
o Công nghiệp khai thác dầu: tập trung ở vùng Uran, Tây Xibia cung cấp 2/3 dầu, 1/3
khí. Năm 1990 ở đây khai thác 70% nhiên liệu này cho tồn Liên Băng Nga. Hệ thống
đường ống dẫn dầu đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dầu cho các nhà máy
chế biến từ Tây Xibia tới phần Châu Âu, từ vùng Đông đến Baican sang các nước
cởng hồ khác. Kế hoạch năm 1990 sẽ khai thác 560-570 triệu tấn dầu, 640-650 tỷ m3
khí, song không đạt.
o Công nghiệp khai thác than: trữ lượng lớn tập trung ở Cudônét, Pechoki, Nam Iacut,
Kanko-Achinki, Luu vực Cudơnét cung cấp 1/5 khối lượng than toàn Liên Băng. Năm
1990 dự kiến khai thác 440-445 triệu từn nhưng không đạt. Việc khai thác than đã tạo
điều kiện thuận lợi xây dựng những cơ sở năng lượng hùng mạnh để hình thành các
thể tổng hợp công nghiệp.
o Công nghiệp điện: thành phần chủ yếu của tổ hợp năng lượng - nhiện liệu nối liền tất
cả các quá trình từ phát điện, chuyển tải đến nơi tiêu dùng năng lượng. Trong cơ cấu
năng lượng, nhiệt điện chiếm 70% sản lượng. Những nhà máy nhiệt điện lớn (công
suởt 2.000.000 kw) phân bố ở khu công nghiệp trung ương, Uran, Capca, Pavondo,
Tây Xibia. Những nhà máy thủy điện công suất lớn xây dựng trên sông Angara
(Icacut); Bratscơ, Uxzơ Ilimscơ, trên sông Ienhixây; Krátsuơiac công suởt 6 triệukw,
Quybixep trên sông Vonga.. Các nhà máy điện nguyên tử vùng Tây Bắc, Trung ương,
Nam... (Kalinin, Smolen, Balakơp, Vongarat... dự kiến sản lượng điện 1999: 1.120 -
1.160 tỷ kw.
• Công nghiệp luyện kim đen: Đây là ngành công gnhiệp rất mạnh của Nga với 3 trung tâm lớn:
Uran, Trung ương và Xibia ( Uran cung cấp 1/5 sản lượng gang thép toàn LB.
Luyện kim màu ( Bôxit, Cu, đa kim, niken ) chủ yếu ở Uranl, Baican, Xibia và Viễn đông.
• Các ngành công nghiệp nặng khác: Hóa chất, cơ khí và công nghiệp rừng.
o Công nghiệp hóa chất, hóa dầu: phát triển ở Trung ương,, Pavondo, Uran, Tây Xibia và
Viễn đông
o Cơ khí đa ngành phát triển ở Trung ương, Pavondo, Uran, Tây Xibia, chú trọng cơ khí
đình. Ngành này được tiến hành tổ chức sản xuất theo các APK: chăn nuôi, chế biến sản phẩm
thịt, sữa, bơ... Một vài năm gần đây khi chuyển sang cơ chế thị trường các APK họat động
kém hiệu qủa nên đã tăng cường chăn nuôi ở các hộ gia đình - 1990 sản xuất 10.000.000 tấn
thịt, 54.000.000 tấn sữa, 45 tỷ qủa trứng. Chăn nuôi được tiến hành ở nhiều nơi trong khắp đất
nước.
c. Giao thông vận tải:
Mạng lưới giao thông vận tải phát triển mạnh với nhiều loại hình song còn có nhiều vấn đề phải giải
quyết (cơ sở hạ tầng, dịch vụ còn yếu kém hơn các nước phát triển khác).
Các loại hình giao thông dởm bộo Mỹi liên hệ kinh từ giởa các ngành và các vùng rộng lớn cởa
đất nước: duịng hàng khơng, đường sốt, đường bộ, đường điện nGồm, ởng đến đầu và khí.
Matxcova là đầu mối giao thông chính từ đây các tuyến đường tỏa ra các huởng . Tổng chiều
dài đường sắt: 85.000 km, đường bộ: 735.000 km, đường sông:120.000 km, đường ống 38.600
km, đường hàng không, đường biển.Nga có hạm đội máy may và tàu biển vào tầm cở lớn trên
thế giới nhưng kém hiện đại và chất lượng phục vụ kém hơn các nước phát triển khác trên thế
giới. Các cảng lớn là Xanh Pêtécbua, Ackhan-GhenXô, Vladivostôc, Nakhốtka, Vanhinô,
MuốcmanXô. Nga có tiềm năng du lịch, nhưng chưa được khai thác triệt để.
IV. Các vùng kinh tế chính của Nga
Đất nước rộng lớn, nhiều miền tự nhiên khác nhau, trong quá trình phát triển kinh tế có sự phân công
lao động theo lãnh thổ nên Liên Băng Nga hình thành 12 vùng kinh tế, những vùng nầy không đồng
đều về tiềm năng kinh tế, trình độ phát triển và dân số. Điều đó thể hiện trong bảng số liệu sau:
Tỷ lệ từng vùng kinh tế ở Liên Băng Nga về lãnh thổ và dân số(%).
Vùng Diện tích Dân số Vùng Diện tích Dân số
1. Trung ương 2,8 20,6 7. Bắc Capca 2,1 11,3
2. Trung tâm đất đen 1,0 5,3 8. Uran 4,9 13,8
3. Vonga-Vratki 1,5 5,8 9. Tây Xibia 14,3 10,1
4. Tây Bắc 1,1 5,6 10. Đông Xibia 24,2 6,2
5.Bắc 8,5 4,2 11. Viễn đông 36,5 5,3
6. Pavondơ 3,1 11,2 12. Tỉnh Kalininggrat 0,1 0,6
Một số vùng kinh tế quan trọng của LB Nga:
a. Vùng Trung ương: bao gồm thành phố Matxcơva và các tỉnh Matxcova, Bộrian, Vlađimia, Kalinin,
những trung tâm công nghiệp lớn của vùng là: Vorony, Lipet, Tambôrơ, Kyrơsk.
c. Vùng Uran: bao gồm tỉnh Kurơgan, Orenbua, Perơ, Svetlôp, Tréliabin và 2 nước cộng hòa tư trị
Baki, Uđơmurơ diện tích: 824.000 km2, dân số 20.000.000 người. Vùng nối liền các khu công nghiệp
phía Nam Châu Âu với vùng Đông Xibia. Nơi giàu tài nguyên, cơ sở luyện kim, cung cấp đồng,
niken, phân bón, cơ khí, hóa chất, năng lượng, chế biến gỗ lớn của đất nước. Sản xuất công nghiệp
không thua gì vùng Trung Ương.
d.Vùng Tây Xibia: gồm các tỉnh Kemerôp, Novosibiêc, Omxco, Tomxco, Tiumen, và miền Antai,
diện tích: 2.400.000 Km2 dân số 14.600.000 người. Giàu tài nguyên, đặc biệt là dầu hỏa và khí đốt.
Phát triển thể tổng hợp năng lượng, nhiên liệu, hóa dầu, hóa rừng, luyện kim. Khai thác cá trên sông,
hồ, biển- sản xuất lúa mì, chăn nuôi ( lấy thịt, sữa ). Ðây còn là trung tâm khoa học của vùng Ðông
Nơvơxibiêc.
Cộng Đồng Châu Âu
Tây Âu Và Việc Hình Thành Liên Minh Châu Âu (EU)
Lịch sử Châu Âu là lịch sử của những cuộc chiến tranh để chia xẻ và hợp nhất các quốc gia. Đồng
thời cũng là lịch sử của việc thực hiện ý tưởng về Một Châu Âu thống nhất bằng nhiều biện pháp,
dưới nhiều hình thức khác nhau từ chính trị, quân sự dến kinh tế.
Kết thúc chiến tranh thế giới II, sự xuất hiện khối XHCN Đông Âu đã đưa Châu Âu đến một bước
ngoặt lịch sử mới, Châu Âu bước vào thời kỳ chiến tranh lạnh với sự song song tồn tại 2 khối quốc
gia đối lập nhau về mọi phương diện: quân sự và kinh tế, không ngừng chạy đua vũ trang và hoàn
toàn cắt đứt mọi mối quan hệ kinh tế truyền thống Đông-Tây vốn có.
Đối với Tây Âu, bên cạnh việc áp dụng các biện pháp quân sự qua việc thành lập tổ chức liên minh
phòng thủ Bắc Đại Tây Dương (North Atlantic Jreaty Organization - NATO) năm 1949, vấn đề nhất