Hoàn thiện công tác kế toán CPSX và tính GTSP xây lắp tại Cty xây dựng số 1 - Tổng Cty xây dựng Hà Nội - Pdf 80

Trờng Cao đảng Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
lời mở đầu
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất tạo cơ sở và tiền đề phát triển cho nền kinh tế
quốc dân. Hàng năm, ngành xây dựng cơ bản thu hút gần 30% tổng số vốn đầu t của
cả nớc. Với nguồn đầu t lớn nh vậy cùng với đặc điểm sản xuất của ngành là thời gian
thi công kéo dài và thờng trên qui mô lớn. Vấn đề đặt ra ở đây là quản lý vốn tốt, khắc
phục tình trạng thất thoát và lãng phí trong sản xuất thi công, giảm giá thành sản phẩm,
tăng tính cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Hạch toán kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan gắn liền với quan hệ hàng
hoá - tiền tệ, là một phơng pháp quản lý kinh tế, đồng thời là một yếu tố khách quan.
Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế nớc ta đang phát triển theo cơ chế thị trờng thì
hoạt động kinh doanh phải có lãi, lấy thu nhập để bù đắp chi phí. Song trên thực tế, tỷ
lệ thất thoát vốn đầu t trong các doanh nghiệp xây lắp còn tơng đối cao do cha quản lý
tốt chi phí sản xuất. Vì thế, ngoài vấn đề quan tâm ký đợc các hợp đồng xây dựng,
doanh nghiệp còn quan tâm đến vấn đề hạ thấp chi phí sản xuất đến mức cần thiết
nhằm hạ giá thành sản phẩm xây lắp, tất nhiên doanh nghiệp phải thông qua công tác
kế toán - một công cụ có hiệu quả nhất trong quản lý kinh tế. Trong đó, kế toán tập hợp
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp luôn đợc xác định là khâu trọng
tâm của công tác kế toán trong doanh nghiệp xây lắp.
Mặt khác, trong các doanh nghiệp xây lắp, giá thành sản phẩm xây lắp là chỉ tiêu
chất lợng quan trọng trong kinh doanh, qua chỉ tiêu này có thể đánh giá đợc trình độ
quản lý kinh doanh, tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp. Quản lý tốt chi phí sản
xuất xây lắp nhằm phấn đấu hạ thấp chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh là nhiệm vụ
hàng đầu của các doanh nghiệp xây lắp. Bởi vậy giá thành sản phẩm xây lắp và lợi
nhuận là các chỉ tiêu có quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau, ảnh hởng trực tiếp đến kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp.
Nếu tổ chức các vấn đề khác tốt mà thiếu đi việc tổ chức hạch toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp khoa học, hợp lý thì hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp khó có thể đạt hiệu quả cao đợc. Chính vì vậy, việc hoàn thiện hạch toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp có ý nghĩa hết sức quan trọng đối
với doanh nghiệp xây lắp.

Trờng Cao đảng Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
Chơng i
Tổng quan về cơ sở lý luận về: hoàn thiện công tác kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
tại công ty xây dụng số 1
I. Cơ sở lý luận về tập hợp chi phí và tính giá thành sản
phẩm ngành xây lắp .
1.1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh xây lắp có ảnh hởng đến công tác hạch toán
kế toán .
Xây dựng cơ bản là ngành sản xuất vật chất quan trọng mang tính công nghiệp
nhằm tạo ra cơ sở vật chất cho nền kinh tế quốc dân. Cũng nh các ngành khác, sau
những năm thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế ngành xây dựng cơ bản ngày
một thích ứng phát triển đợc Đảng và Nhà nớc quan tâm nhiều hơn .
Là một ngành sản xuất vật chất nhng sản phẩm ngành xây dựng cơ bản lại mang
những đặc điểm riêng biệt so với sản phẩm của các ngành sản xuất khác. Chính vì vậy
mà tổ chức hạch toán ở các doanh nghiệp kinh doanh xây lắp phải dựa trên những đặc
điểm này, đó là :
Sản phẩm xây lắp là các công trình, vật kiến trúc,... có quy mô lớn, kết cấu phức
tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất kéo dài và phân tán. Do vậy, trớc khi tiến
hành xây lắp , sản phẩm dự định đều phải qua các khâu từ dự án đến dự toán công
trình. Dự toán công trình là tổng mức chi phí cần thiết cho việc đầu t công trình đợc
tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật. Tổng dự toán công trình có liên quan đến
khảo sát , thiết kế, xây dựng, mua sắm thiết bị và các chi phí khác bao gồm: các chi phí
dự phòng, các yếu tố trợt giá. Dự toán chi phí bao gồm : dự toán thiết kế, dự toán thi
công phải lập cho từng phần công việc. Trong suốt quá trình xây lắp phải lấy giá dự
toán làm thớc đo kể cả về mặt giá trị lẫn kỹ thuật .
Sản phẩm xây lắp hoàn thành không thể nhập kho mà đợc tiêu thụ ngay theo giá
dự hoặc giá đấu thầu đã thoả thuận với đơn vị chủ đầu t từ trớc. Do vậy, tính chất hàng
hoá không đợc thể hiện rõ.
Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất và phân bố trên nhiều vùng lãnh thổ,

trong quá trình sản xuất bao gồm 3 yếu tố sau:
- T liệu lao động.
- Đối tợng lao động .
- Sức lao động .
Các yếu tố này tham gia vào quá trình sản xuất, hình thành nên 3 loại chi phí t-
ơng ứng. Đó là chi phí về sử dụng t liệu lao động, chi phí về đối tợng lao động và chi
phí về sức lao động. Trong điều kiện sản xuất hàng hoá, các chi phí này đợc biểu hiện
dới dạng giá trị , đợc gọi là chi phí sản xuất .
Nh vậy, chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao
phí về lao động sống và lao động vật hoá phát sinh trong một kỳ kinh doanh nhất định.
Tạ Thị Nhàn- Lớp CĐKT 3- K4 Chuyên đề tốt nghiệp
4
Trờng Cao đảng Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
Tơng tự, chi phí sản xuất trong kinh doanh xây lắp là biểu hiện bằng tiền của
toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá cấu thành nên sản phẩm xây
lắp trong một thời kỳ nhất định.
Tuy nhiên, để hiểu đúng khái niệm trên ta cần phân biệt giữa chi phí và chi tiêu.
Chi phí là khái niệm có phạm vi rộng hơn chi tiêu.Khái niệm chi phí gắn liền với kỳ
hạch toán ,là những chi phí về lao động sống và lao động vật hoá liên quan đến khối l-
ợng sản xuất trong kỳ chứ không phải mọi khoản chi ra trong kỳ hạch toán. Nó không
đồng nhất hoàn toàn với chi tiêu.
Chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần của các loại vật t tài sản, tiền vốn của doanh
nghiệp, bất kể nó đợc dùng vào mục đích gì. Chi tiêu có thể là chi phí nh khi mua
nguyên vật liệu sử dụng ngay vào sản xuất kinh doanh nhng sẽ không phải là chi phí
nếu mua về nhập kho cha sử dụng ngay trong kỳ .
Chi phí sản xuất xây lắp phát sinh thờng xuyên trong suốt quá trình tồn tại và
sản xuất của doanh nghiệp nhng để phục vụ cho quản lý và hạch toán, chi phí sản xuất
phải đợc tính toán, tập hợp theo từng thời kỳ hàng tháng, hàng quý, hàng năm phù hợp
với kỳ báo cáo. Trong đơn vị xây lắp chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại có tính chất
kinh tế, công dụng khác nhau và yêu cầu quản lý đối với từng loại cũng khác nhau.

c.Yếu tố tiền lơng và các khoản phụ cấp lơng:là tổng sổ tiền lơng và phụ cấp
mang tính chất lơng phải trả cho công nhân viên .
d. Yếu tố bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn (BHXH, BHYT,
KPCĐ ) trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lơng và phụ cấp phải trả .
g.Yếu tố khấu hao tài sản cố định (TSCĐ): phản ánh tổng số giá trị khấu hao
TSCĐ sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ nh nhà xởng, máy thi
công..
h. Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm toàn bộ chi phí đã trả hoặc phải trả
về khối lợng dịch vụ mua ngoài nh điện nớc ,
i. Yếu tố chi phí khác bằng tiền .
Chi phí sản xuất theo yếu tố là chi phí ban đầu giản đơn, trong phạm vi chi phí
của doanh nghiệp không thể tiếp tục phân bổ nhỏ chi phí này. Hạch toán các khoản chi
phí này có tác dụng rất lớn trong công tác kế toán cũng nh công tác quản lý chi phí.
Đối với công tác kế toán , đây là cơ sở để tổ chức việc tập hợp chi phí sản xuất theo
yếu tố, giám đốc tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất, đồng thời là cơ sở tính
toán thu nhập quốc dân, đánh giá khái quát tình hình tăng năng suất lao động .
1.2.2.2. Phân loại theo mối quan hệ của chi phí sản xuất và quá trình sản xuất .
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất có thể chia ra thành chi phí trực tiếp
và chi phí gián tiếp.
a. Chi phí trực tiếp: Là những chi phí có liên quan trực tiếp tới quá trình sản
xuất và tạo ra sản phẩm. Những chi phí này có thể tập hợp cho từng công trình , hạng
mục công trình độc lập nh nguyên vật liệu, tiền lơng trực tiếp, khấu hao máy móc,
thiết bị sử dụng.
Tạ Thị Nhàn- Lớp CĐKT 3- K4 Chuyên đề tốt nghiệp
6
Trờng Cao đảng Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
b. Chi phí gián tiếp : Là những chi phí cho hoạt động tổ chức phục vụ và quản
lý, do đó không tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất và cũng không đợc trực tiếp
cho từng đối tợng cụ thể. Kết cấu của chi phí gián tiếp cũng tong tự nh chi phí trực tiếp
nhng nhũng khoản này chi ra cho hoạt động quản lý doanh nghiệp xây lắp. Do vậy, để

Tạ Thị Nhàn- Lớp CĐKT 3- K4 Chuyên đề tốt nghiệp
7
Trờng Cao đảng Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
Chi phí sản xuất chung bao gồm nhiều yếu tố chi phí và thờng không xác định
trực tiếp cho từng đối tợng cụ thể. Nội dung của chi phí sản xuất chung bao gồm: Tiền
lơng bộ phận quản lý đội, các khoản bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công
đoàn trích theo tỷ lệ quy định, khấu hao tài sản cố định dùng cho quản lý đội, chi phí
hội họp, tiếp khách,dịch vụ mua ngoài khác nh điện thoại, điện, nớc, Và các chi phí
phát sinh phụ thuộc vào điều kiện thi công công trình nh chi phí vận chuyển vật liệu
ngoài cự ly quy định, chi phí chuẩn bị sân bãi để vật liệu và mặt bằng thi công,..
Với cánh phân loại này mỗi loại chi phí sẽ thể điều kiện khác nhau của chi phí
sản xuất, thể hiện nơi phát sinh chi phí, đối tợng gánh chịu chi phí. đồng thời nó cũng
tạo điều kiện để xác định mức độ ảnh hởng của các nhân tố khác nhau và giá thành sản
phẩm để phục vụ cho công tác kế hoạch hoá và tính giá thành sản phẩm.
Xuất phát từ đặc điểm của sản phẩm xây lắp phơng pháp, phơng pháp lập dự
toán trong xây dựng cơ bản là dự toán đợc lập cho từng đối tợng xây lắp nên phơng
pháp phân loại chi phí theo khoản mục trở thành phơng pháp đợc sử dụng phổ biến
trong các doanh nghiệp kinh doanh xây lắp.
1.3.Bản chất và nội dung kinh tế của giá thành sản phẩm.
1.3.1. Khái niệm và bản chất giá thành .
Trong quá trình sản xuất của các doanh nghiệp chi phí chỉ là một mặt thể hiện
sự hao phí. Để đánh giá chất lợng sản xuất kinh doanh thì chi phí phải đợc xêm trong
mối quan hệ chặt chẽ với kết quả sản xuất, đây là mặt cơ bản của quá trình sản xuất.
Quan hệ so sánh đó đã hình thành nên khái niệm giá thành sản phẩm .
Nh vậy, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về
lao động sống và lao động vật hoá chi ra để tiến hành sản xuất một khối lợng sản
phẩm, lao vụ đã hoàn thành .
Giá thành sản phẩm xây lắp là một bộ phận của giá trị sản phẩm xây lắp. sản
phẩm xây lắp có thể là kết cấu công việc hoặc giai đoạn công việc có thiết kế và dự
toán riêng, có thể là hạng mục công trình hoặc công trình toàn bộ. Giá thành hạng mục

biện phápquản lý kỹ thuật và tổ chức thi công, các định mức và đơn giá áp dụng trong
doanh nghiệp xây lắp.
Zkế hoạch = Zdt -Mức hạ giá thành dự toán.
Đối với các doanh nghiệp không lập giá thành dự toán thì giá thành kế hoạch đ-
ợc xác định khi bớc vào kinh doanh trên cơ sở giá thành thực tế năm trớc và các định
mức kinh tế kỹ thuật tiên tiến của ngành. Nó bao gồm các chi phí gắn liền với quá trình
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đợc xác định trên cơ sở định mức hao phí lao động, hao
phí vật t và khung giá áp dụng theo kế hoạch. Do vậy, bên cạnh giá thành kế hoạch, giá
thành định mức cùng song song tồn tại và dợc xây dựng trên cơ sở định mức hiện hành
tại mỗi giai đoạn sản xuất. Điều đó có ý nghĩa to lớn giúp lãnh đạo doanh nghiệp kịp
thời phát hiện sớm để phấn đấu hạ giá thành.
+ Giá thành thực tế: Giá thành thực tế phản ánh toàn bộ các chi phí thực tế để
hoàn thành, bàn giao khối lợng công tác xây lắp mà doanh nghiệp nhận thầu. Giá thành
này bao gồm các chi phí theo định mức, vợt định mức và các khoản chi phí phát sinh
Tạ Thị Nhàn- Lớp CĐKT 3- K4 Chuyên đề tốt nghiệp
9
Trờng Cao đảng Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
không có định mức ( nh chi phí do thiệt hại về sản phẩm hỏng, thiệt hại về ngng sản
xuất).
Giá thành thực tế là các khoản chi phí thực tế theo khoản mục quy định thống
nhất cho phép tính vào giá thành. Nó đợc xác định vào cuối thời kỳ kinh doanh. Việc
so sánh giá thành thực tế với dự toán cho phép đánh giá trình độ quản lý và sử dụng chi
phí của doanh nghiệp so với doanh nghiệp xây lắp khác. Nếu so sánh giá thực tế với giá
kế hoạch, ta có thể đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
trong điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất và trình độ quản lý. Từ đó,đa ra những ý kiến
đóng góp cho quản trị doanh nghiệp trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh.
Hiện nay, trong lĩnh vực kinh doanh xây lắp, giá thành thực tế đợc báo cáo theo
2 chỉ tiêu:
Giá thành thực tế khối lợng công tác xây lắp: Là toàn bộ chi phí thực tế bỏ ra

thông tin kiểm tra chi phí và tính giá thành sản phẩm. Giới hạn tập hợp chi phí có thể là
nơi phát sinh chi phí, có thể là đối tợng chịu chi phí. Thực chất của việc đối tợng tập
hợp chi phí là xác định nơi gây ra chi phí và đối tợng chịu chi phí.
Việc xác định đối tợng tập hợp chi phí sản xuất trong các ngành sản xuất nói
chung và trong kinh doanh xây lắp nói riêng thờng căn cứ vào:
- Đặc điểm quy trình công nghệ của việc sản xuất sản phẩm (việc sản xuất sản
phẩm là giản đơn hay phức tạp ).
- Loại hình sản xuất sản phẩm ( sản xuất đơn chiếc hay sản xuất hàng loạt).
- Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý (hay yêu cầu quản lý).
- Đối tợng tính giá thành .
- Trình độ nhân viên kế toán.
Trong kinh doanh xây lắp, với tính chất phức tạp của quy trình công nghệ và
loại hình sản xuất đơn chiếc, quá trình sản xuất thờng đợc phân chia thành nhiều khu
vực, bộ phận thi công, các hạng mục khác nhau. Trong đó, mỗi bộ phận lại có phơng
án tổ chức sản xuất khác nhau, mỗi hạng mục công trình có thiết kế,cấu tạo vật chất và
giá thành dự toán riêng. Do vậy, tuỳ thuộc vào từng công trình cụ thể, trình độ quản lý
của từng doanh nghiệp nhất định, đối tợng hạch toán chi phí sản xuất sản phẩm có thể
là:
+ Hạng mục công trình .
+ Đơn đặt hàng.
+ Giai đoạn công việc hoàn thành.
+ Bộ phận thi công.
Trên thực tế, các doanh nghiệp xây lắp hiện nay thờng tập hợp chi phí theo công
trình hoặc hạng mục công trình .
Tạ Thị Nhàn- Lớp CĐKT 3- K4 Chuyên đề tốt nghiệp
11
Trờng Cao đảng Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
Việc xác định đối tợng hạch toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên, cần thiết và
quan trọng của công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất. Có xác định đúng đối tợng

thành là toàn bộ chi phí bỏ ra trong giai đoạn thi công khối lợng công tác xây lắp đó .
-Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất theo các đơn vị hoặc khu vực thi công.
Tạ Thị Nhàn- Lớp CĐKT 3- K4 Chuyên đề tốt nghiệp
12
Trờng Cao đảng Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
Phơng pháp này đợc áp dụng khi đối tợng hạch toán chi phí của doanh nghiệp
xây lắp là các bộ phận, khu vực thi công. Theo phơng pháp này, các chi phí phát sinh
trong phạm vi các bộ phận, khu vực thi công lại đợc tập hợp cho các bộ phận chịu phí
nh công trình,hạng mục công trình .
Cuối tháng, tổng số chi phí phát sinh ở từng đơn vị đợc so sánh với dự toán để
xác định kết quả hạch toán kinh tế nội bộ. Khi các công trình, hạng mục công trình
hoàn thành, kế toán tiến hành tính giá bằng các phơng pháp tính giá thích hợp.
1.4.2. Nội dung tính giá thành sản phẩm xây lắp.
a. Xác định đối tợng tính giá thành sản phẩm xây lắp.
Xác định đối tợng tính giá thành là công việc đầu tiên trong toàn bộ công tác
tính giá thành sản phẩm của kế toán. Kế toán phải căn cứ vào đặc điểm sản xuất của
doanh nghiệp, tính chất sản xuất và yêu cầu quản lý để xác định đối tính giá thành một
cách thích hợp .
Trong kinh doanh xây lắp, do tính chất sản xuất là đơn chiếc, mỗi sản phẩm
phải có lập dự toán riêng nên đối tợng tính giá thành thông thờng là hạng mục công
trình , toàn bộ công trình hay khối lợng công tác xây lắp hoàn thành.
Xác định đối tợng tính giá thành là cơ sở để kế toán lập phiếu tính giá thành sản
phẩm, tổ chức tính giá thành theo từng đối tợng phục vụ cho việc kiểm tra tình hình
thực hiện kế hoạch giá thành, xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh để có kế hoạch,
biện pháp phấn đấu hạ giá thành sản phẩm. Trong kinh doanh xây lắp, thời gian sản
xuất sản phẩm kéo dài. Do vậy, đối tợng tính giá thành và đối tợng tập hợp chi phí th-
ờng không thống nhất với nhau. Chúng chỉ thực sự bằng nhau khi không có giá trị sản
phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ.
Cùng với việc xác định đối tợng tính giá thành kế toán phải xác định kỳ tính giá
thành sản phẩm xây lắp.

lắp, đối tợng tính giá thành thờng là hạng mục công trình ,toàn bộ công trình hoặc khối
lợng xây lắp hoàn thành. Do vậy, về cơ bản có thể dụng các phơng pháp sau:
+ Phơng pháp tính giá thành trực tiếp: Phơng pháp này áp dụng trong trờng hợp
đối tợng tính giá thành phù hợp với đối tợng hạch toán chi phí, kỳ tính giá thành phù
hợp với kỳ báo cáo. Theo phơng pháp này, nếu doanh nghiệp không có sản phẩm dở
dang hoặc sản phẩm dở dang ít và ổn định, không cần tính giá thành sản phẩm dở dang
thì tổng chi phí sản xuất đã tập hợp trong kỳ cho mỗi đối tợng là giá thành thực tế của
tính giá đó .
Công thức : Z = C
Trong đó : Z: là giá thành thực tế cuả sản phẩm xây lắp.
C: là tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ.
Trong trờng hợp cuối kỳ có nhiều sản phẩm dở dangvà không ổn định, kế toán
cần đánh giá sản phẩm dở dang theo các phơng pháp thích hợp. Sau đó, xác định giá
thành thực tế của sản phẩm bằng công thức:
Tạ Thị Nhàn- Lớp CĐKT 3- K4 Chuyên đề tốt nghiệp
14
Trờng Cao đảng Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
Z = Dđk + C - Dck
Trong đó: Z: là giá thành thực tế của sản phẩm xây lắp.
Dđk: là giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ.
Dck: là giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ.
C : là tổng chi phí phát sinh trong kỳ.
+ Phơng pháp tổng cộng chi phí: Phơng pháp này đợc áp dụng trong trờng hợp
doanh nghiệp xây lắp thi công các công trình lớn và phức tạp,quá trình xây lắp đợc
chia ra cho các bộ phận sản xuất khác nhau. Đối tợng tập hợp chi phí là từng đội sản
xuất còn đối tợng tính giá thành là toàn bộ công trình hoàn thành.Theo phơng pháp
này, giá trị công trình đợc xác định bằng cách tính tổng cộng chi phí sản xuất phát sinh
tại từng đội, cộng với giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ trừ đi giá trị sản phẩm dở dang
cuối kỳ.
Công thức :


do thay đổi

so với
sản phẩm sản phẩm định mức định mức
Tạ Thị Nhàn- Lớp CĐKT 3- K4 Chuyên đề tốt nghiệp
15
Trờng Cao đảng Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
Phơng pháp này rất phù hợp với đặc điểm ngành xây lắp, nó đảm bảo cho việc
tính giá thành đợc nhanh chóng, chính xác, kịp thời phát hiện các nguyên nhân làm
tăng giá thành. Tuy nhiên, khi áp dụng phơng pháp này thì phải căn cứ vào hệ thống
của Nhà nớc. Hệ thống định mức này thờng đợc áp dụng trong một thời gian dài,
không sát với thực tế của doanh nghiệp, gây nên sự thiếu chính xác so với thực tế của
việc tính giá thành.
+Phơng pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng : Doanh nghiệp có thể ký với bên
giao thầu hợp đồng nhận thầu thi công bao gồm nhiều công việc khác nhau mà không
cần hạch toán riêng cho từng công việc. Khi đó đối tợng tính giá thành là đơn đặt hàng.
Toàn bộ chi phí thực tế tập hợp riêng cho từng đơn đặt hàng kể từ khi khởi công đến
khi hoàn thành, toàn bộ chi phí đó chính là giá thành của đơn đặt hàng đó.
Tuy nhiên, để phục vụ cho việc hạch toán nội bộ, ngời ta cũng tính giá thành
của từng hạng mục công trình hay khối lợng công việc trong toàn bộ hợp đồng. Các
hạng mục công trình này tuy cùng một đơn vị thi công, cùng một khu vực nhng chúng
có thể có thiết kế khác nhau, dự toán khác nhau. Để xác định giá trị thực tế cho từng
hạng mục công trình ngời ta phải xác định hệ số phân bổ theo công thức sau:

Trong đó : H: Hệ số phân bổ.
C: Tổng chi phí tập hợp phải tính vào giá thành.
T
i
: Giá trị dự toán của công trình i .

toán chi phí và tính giá thành đầy đủ, chính xác thì mới phục vụ cho việc phân tích
đánh giá kết quả, tổ chức quản lý và sản xuất một cách hợp lý, nâng cao hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp.
Đối với ngành xây dựng cơ bản việc hạch toán đúng chi phí sản xuất và tính giá
thành càng trở nên quan trọngvà có tính quyết định bởi sự tác động của các đặc điểm
nh: sự biến động của giá cả ở những thời điểm khác nhau, nhu cầu nhân công, nhu cầu
xây dựng cơ bản khác nhau,.. Thông qua chỉ tiêu giá thành công tác xây lắp ta có thể
xác định đợc kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sự sáng tạo, tìm tòi
phơng án giải quyết công việc có hiệu quả. Việc phấn đấu hạ giá thành sản phẩm là
một nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây lắp: nhằm tăng mức lãi, mặt khác còn giải
quyết mối quan hệ về lợi ích giữa Nhà nớc, doanh nghiệp và cá nhân ngời lao động.
Bên cạnh đó, giá thành sản phẩm còn phản ánh chất lợng xây dựng của doanh
nghiệp nh : trình độ kỹ thuật thi công, trình độ tổ chức sản xuất thi công, tình hình sử
dụng lao động, vật liệu, thiết bị, khả năng sử dụng vốn đầu t trong công tác xây lắp và
kiểm tra việc chấp hành chế độ chính sách của Nhà nớc tại doanh nghiệp. Từ đó có thể
đổi mới chế độ chính sách của Nhà nớc cho phù hợp.
Do đó, hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có một vai trò
quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và trong kinh doanh xây lắp
nói riêng.
2.1.2 Yêu cầu và nhiệm vụ hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành.
a. Yêu cầu.
Hạch toán chi phí sản xuất và tình giá thành sản phẩm giúp doanh nghiệp nắm
chắc đợc việc thực hiện các định mức lao động, vật t, tiền vốn, sử dụng máy, các chi
Tạ Thị Nhàn- Lớp CĐKT 3- K4 Chuyên đề tốt nghiệp
17
Trờng Cao đảng Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
phí khác cho từng hạng mục công trình theo từng giai đoạn, không ngừng nâng cao
chất lợng sản xuất kinh doanh.
Muốn đạt hiệu quả nh vậy, việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp phải đạt đợc những yêu cầu sau:

18
Trờng Cao đảng Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
Hoạt động kinh doanh xây lắp là sự thống nhất hai mặt của một quá trình. Trong
đó chi phí thể hiện mặt hao phí sản xuất và giá thành thể hiện mặt kết quả sản xuất.
Chúng đều là biểu hiện bằng tiền của các lao động sống và lao động vật hoá. Nh vậy về
bản chất chi phí và giá thành là giống nhau. Nhng xét về các mặt khác, chúng lại
không có sự thống nhất với nhau:
- Về lợng: Trong giá thành bao gồm cả chi phí phát sinh ở kỳ trớc và loại trừ chi
phí ở kỳ này chuyển sang giá thành kỳ sau.
_ Về thời gian: Trong giá thành, các khoản chi phí phát sinh ở kỳ trớc lại đợc
tính vào giá thành kỳ này, có những chi phí ở kỳ này nhng không đợc tính vào giá
thành kỳ này mà chyển sang kỳ sau.
Có thể phản ánh mối quan hệ giữa chi phí và giá thành sản phẩm qua sơ đồ sau:
CPSX dở dang đầu kỳ CPSX phát sinh trong kỳ

A B C
D
Tổng giá thành sản phẩm xây lắp CPSX dd cuối kỳ
Qua sơ đồ ta thấy AC = AB + BD - CD
Tổng giá Chi phí Chi phí Chi phí
thành sản = sản xuất + sản xuất phát - sản xuất
phẩm dd đầu kỳ sinh trong kỳ dd cuối kỳ
Với yêu cầu công tác quản trị trong doanh nghiệp, việc tính đúng, tính đủ
chi phí sản xuất có vai trò quan trọng trong việc tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm.
Do đó trong xây dựng cơ bản muốn tính đúng giá thành xây lắp phải kết hợp với việc
hạch toán chính xác, kịp thời các chi phí phát sinh theo đối tợng chịu chi phí cụ thể.
Hạch toán chi phí sản xuất dù đầy đủ và chi tiết đến đâu cũng chỉ phản ánh đợc
một mặt của mối quan hệ giữa chi phí và giá thành. Chính vì vậy, ngoài hạch toán chi
phí, tính giá thànhcòn vận dụng các phơng pháp kỹ thuật nhằm nêu ra một cách chính
Tạ Thị Nhàn- Lớp CĐKT 3- K4 Chuyên đề tốt nghiệp

- Bớc 3: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các công trình, có liên
quan theo tiêu thức thích hợp.
- Bớc 4: Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ .
2.2.2. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
a. Tài khoản sử dụng.
Tạ Thị Nhàn- Lớp CĐKT 3- K4 Chuyên đề tốt nghiệp
20
Trờng Cao đảng Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
Để theo dõi khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán dử dụng tài khoản
621- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
- Nội dung : Phản ánh các chi phí nguyên, vật liệu phát sinh liên quan trực tiếp đến
việc xây dựng hay lắp đặt các công trình.
- Bên nợ : Phản ánh giá trị nguyên vật liệu thực tế xuất dùng cho thi công công trình,
hạng mục công trình .
- Bên có : Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vào tài khoản 154.
Tài khoản 621 cuối kỳ không có số d. Tài khoản này đợc mở chi tiết cho từng đối t-
ợng.
b. Phơng pháp hạch toán .
Chi phí nguyên , vật liệu trực tiếp bao gồm giá thực tế của toàn bộ vật liệu chính, các
cấu kiện, bộ phận rời lẻ (trừ vật liệu dùng cho máy thi công) dùng cho việc xây dựng, lắp đặt
các công trình. Vật liệu sử dụng cho công trình, hạng mục công trình nào thì tính cho công
trình, hạng mục công trình đó. Trờng hợp không tính riêng đợc thì phải phân bổ cho từng
công trình, hạng mục công trình theo định mức tiêu hao, theo khối lợng thực hiện.
Khi xuất kho vật liệu sử dụng trực tiếp cho hoạt động xây lắp, ghi:
Nợ TK 621 (chi tiết đối tợng)
Có TK 152 (chi tiết vật liệu)
Trờng hợp thu mua vật liệu chuyển đến tận chân công trình, không qua kho, sử dụng
trực tiếp cho hoạt động xây lắp,
Nợ TK 621(chi tết đối tợng):Giá mua không thuế VAT
Nợ TK 133(1331) Thuế VAT đầu vào đợc khấu trừ.

Có TK 334(3341): Phải trả cho công nhân thuộc danh sách
Có TK liên quan ( 3341, 111,..): Trả cho lao động thuê ngoài.
Trờng hợp tạm ứng chi phí để thực hiện giá trị khoán xây lắp nội bộ ( bộ phận
nhận khoán không tổ chức công tác kế toán riêng), khi quyết toán tạm ứng về khối lợng
xây lắp nội bộ đã hoàn thành bàn giao đợc duyệt, ghi:
Nợ TK 622 ( chi tiết đối tợng)
Có TK 141(1413) - Tạm ứng.
Cuối kỳ, kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp:
Nợ Tk 154 (1541. Chi tiết đối tợng).
Có TK 622 ( chi tiết đối tợng).
2.2.4. Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công.
a. Tài khoản sử dụng .
TK 623 - Chi phí sử dụng máy thi công.
Tạ Thị Nhàn- Lớp CĐKT 3- K4 Chuyên đề tốt nghiệp
22
Trờng Cao đảng Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
- Nội dung: Tài khoản 623 dùng để tập hợp và phân bổ chi phí sử dụng xe, máy
thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp công trình theo phơng thức thi công
hỗn hợp vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy.
Trờng hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình hoàn toàn bằng máy thì
không sử dụng tài khoản này mà kế toán phản ánh trực tiếp vào các TK 621, 622, 627.
Mặt khác, các khoản KPCĐ, BHXH, BHYT tính theo lơng phải trả cho công nhân sử
dụng máy thi công và tiền ăn ca cũng không hạch toán vào tài khoản này.
- Bên nợ: Tập hợp chi phí sử dụng máy thi công thực tế phát sinh.
- Bên có: Kết chuyển(hoặc phân bổ) chi phí sử dụng máy thi công cho công
trình , hạng mục công trình vào TK154.
Tài khoản 623 cuối kỳ không có số d.
b. Phơng pháp hạch toán .
Việc hạch toán chi phí sử dụng máy thi công phụ thuộc vào hình thức sử dụng
máy thi công. Cụ thể:

Nợ TK 133 (nếu đợc khấu trừ thuế)
Có TK 111,112
Trờng hợp tạm ứng chi phí để thực hiện giá trị khoán xây lắp nội bộ ( bộ phận
nhận khoán không tổ chức công tác kế toán riêng), khi quyết toán tạm ứng về khối l-
ợng xây lắp nội bộ hoàn thành đã bàn giao đợc duyệt, kế toán ghi nhận chi phí sử dụng
máy thi công:
Nợ TK 623
Có TK141( 1413) - Tạm ứng.
Cuối kỳ, căn cứ vào bảng phân bổ chi phí sử dụng máy tính cho từng công trình,
hạng mục công trình, ghi:
Nợ TK 154 (1541)
Có TK 623.
+ Trờng hợp công ty có tổ chức đội máy thi công riêng.
Công ty có tổ chức bộ máy thi công riêng biệt và có phân cấp hạch toán cho đội
máy có tổ chức hạch toán kế toán riêng, hạch toán nh sau:
Hạch toán các chi phí có liên quan đến hoạt động của đội máy thi công, ghi:
Nợ TK 621, 622, 627
Có các tài khoản liên quan.
Cuối kỳ, tổng hợp chi phí vào TK154 (1543. Chi tiết đội máy thi công) để tính
giá thành ca máy hoặc giờ máy. Từ đó, xác định giá trị mà đội máy thi công phục vụ
cho từng đối tợng (công trình, hạng mục công trình ) theo giá thành ca máy hoặc giờ
máy và khối lợng dịch vụ( số ca máy, giờ máy) phục vụ cho từng đối tợng. Cụ thể:
Tạ Thị Nhàn- Lớp CĐKT 3- K4 Chuyên đề tốt nghiệp
24
Trờng Cao đảng Công nghiệp Hà Nội Khoa kinh tế
Nếu các bộ phận trong doanh nghiệp, không tính toán kết quả riêng mà thực
hiện phơng thức cung cấp lao vụ máy lẫn nhau:
Nợ TK 623: Giá trị của đội máy thi công phục vụ cho các đối tợng
Có TK 154 (1543. Chi tiết đội máy thi công): Gía thành dịch vụ của
đội máy thi công phục vụ cho các đối tợng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status