Đầu tư cơ bản của công ty xi măng Hoàng Thạch - Pdf 81

MỞ ĐẦU
Hoạt động đầu tư luôn giữ một vị trí rất quan trọng đối với bất cứ một hoạt động sản xuất
kinh doanh nào của một công ty. Điều này đặc biệt đúng trong điều kiện phát triển kinh tế
hiện nay, đặc biệt là trong ngành sản xuất và kinh doanh trên thế giới nói chung và Việt
Nam nói riêng, việc khai thác các nguồn vốn đầu tư được các công ty, doanh nghiệp đặc
biệt quan tâm. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để khai thác triệt để các nguồn vốn đầu tư và sử
dụng nguồn vốn một cách có hiệu quả, đòi hỏi phải có chiến lược, kế hoạch và quản lý
hoạt động đầu tư có hiệu quả để phát huy tối đa các nguồn lực và thế mạnh mà mình có để
đưa các hoạt động đầu tư lên hàng đầu. Cùng với đó đưa nền kinh tế phát triển một cách
toàn diện đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.
Công ty xi măng Hoàng Thạch là một trong những công ty lớn hàng đầu về lĩnh vực sản
xuất và cung cấp xi măng của Việt Nam, cùng với xu hướng tự do hóa thương mại về kinh
tế, Hoàng Thạch đã phấn đấu không ngừng về phương pháp và các hình thức quản lý nhằm
củng cố nội lực đồng thời thực hiện công tác đầu tư nhằm mở rộng quy mô sản xuất, cũng
như chất lượng của sản phẩm. Vì vậy công tác đầu tư đã được trú trọng và triển khai từ
những ngày đầu thành lập và đã đạt được nhiều hiệu quả to lớn. Bên cạnh đó vẫn còn một
số mặt hạn chế cần được khắc phục.
Trong thời gian thực tập tại Phòng xây dựng cơ bản của công ty xi măng Hoàng Thạch tôi
đã được phân công và nghiên cứu về đề tài tình hình đầu tư cơ bản của công ty xi măng
Hoàng Thạch, làm đề tài nghiên cứu thực tập của tôi.
Chuyên đề thực tập của tôi gồm các nội dung chủ yếu sau, chuyên đề gồm 3 chương
(không kể phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo):
Chương 1: Tổng quan về Công ty xi măng Hoàng Thạch
Chương 2: Tình hình đầu tư và sản xuất của công ty xi măng
Hoàng Thạch
Chương 3: Dự án đầu tư mái che lò nung số 2 công ty xi măng Hoàng Thạch
Trong quá trình thực tập tôi được sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn; Lãnh đạo,
các phòng ban liên quan của công ty xi măng Hoàng Thạch.
Tôi xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn cùng toàn thể ban lãnh đạo của công ty xi
măng Hoàng Thạch, đã giúp tôi hoàn thành tốt quá trình thực tập.
Hà Nội ngày 04 tháng 5 năm 2009

Kinh Môn – Hải Dương ngày nay) và thôn Vĩnh Tuy xã Vĩnh Khê huyện Đông Triều tỉnh
Quảng Ninh. Số vốn đầu tư ban đầu để xây dựng là 73.683.000 USD, nhà máy do hãng
F.L.Smidth (Đan Mạch) thiết kế, cung cấp thiết bị toàn bộ và cho chuyên gia giúp xây
dựng vận hành nhà máy.
Ngày 19-5-1977 khởi công xây dựng dây chuyền 1 nàh máy xi măng Hoàng Thạch với
công suất thiết kế 1,1 triệu tấn mỗi năm, đây là dây chuyền lớn và hiện đại nhất Việt Nam
vào thời điểm đó.
Ngày 04-3-1980 Bộ xây dựng ký quyết định số 333/BXD/TCCB về việc thành lập nhà máy
xi măng Hoàng Thạch.
Ngày 25-11-1983 nhà máy sản xuất được mẻ clanh-ke đầu tiên.
Ngày 16-01-1984 bao xi măng đầu tiên mang nhãn hiệu xi măng Hoàng Thạch ra đời, đánh
dấu thời kỳ mới, thời kỳ sản xuất xi măng theo chỉ tiêu pháp lệnh của nhà nước
Để đáp ứng yêu cầu phát triển phù hợp với nền kinh tế thị trường, ngày 12-8-1993 Bộ xây
dựng ra quyết định số 363/QĐ-BXD thành lập công ty xi măng Hoàng Thạch trên cơ sở
hợp nhất nhà máy xi măng Hoàng Thạch với công ty kinh doanh xi măng Hoàng Thạch.
Đồng chí Nguyễn Văn Hạnh được bổ nhiệm làm giám đốc công ty.
Cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế đất nước, nhu cầu xi măng cho xây
dựng ngày càng tăng, công ty đă đầu tư mở rộng,khẩn trương tiến hành dây chuyền 2 có
công suất thiết kế là 1,2 triệu /năm,trên măt bằng công ty hiện có dây chuyền 2 được khởi
công ngày 28/12/1993.Sau gần 3 năm thi công xây dựng,ngày 12/51996 dây chuyền 2
được khánh thành và đI vào sản xuất,như vậy tổng công suất của 2 dây chuyền là 2,3 triệu
tấn/ năm.
Được sự quan tâm của Đảng ,nhà nước Công ty xi măng Hoàng Thạch đă không ngừng lớn
mạnh và phát triển công ty năm sau lớn hơn năm trươc,chất lượng sản phẩm ổn định ở
mức cao.Trước tình hình tăng trưởng kinh tế giai đoạn (2006-2010),dự án đầu tư xây dựng
dây chuyền 3 Công ty xi măng Hoàng Thạch có công suất thiết kế là 1,2 triệu
tấn/năm,được thủ tướng Chính phử cho phép đầu tư tại quyết định số 91/QD-TTg ngày
20/01/2003.Dây chuyền 3 khởi công xây dựng ngày 04/02/2007 trên mặt bằng hiện có của
công ty với diện tích đất sử dụng là 7,46 ha, dự kiến năm 2009 khánh thành và dưa vào sản
xuất sẽ đưa tổng công suất của công ty lên 3,5 triệu tấn/năm .

Khoan, nổ mìn,vận chuyển Khoan, nổ mình, vận chuyển
Tuy nhiên trong điều kiện hội nhập toàn cầu như hiện nay, Việt nam đã trở thành thành
viên của tổ chức thương mại quốc tế – WTO thì mô hình này sẽ bộc lộ nhiều nhược điểm.
Vì vậy để thích ứng với xu hướng kinh tế hiện nay Công ty cần xem xét và cân đối lại cơ
cấu tổ chức, đồng thời củng cố lại bộ máy quản lý.
1.1.4. Chức năng, nhiệm vụ của cac phong ban trong cong ty
Tổ chức các bộ phận sản xuất trong Công ty
Kết cấu sản xuất của Công ty gồm 4 phân xưởng sản xuất chính, 6 phân xưởng phụ trợ và
các phòng ban chức năng.
1.1.4.1. Bộ phận sản xuất chính
Phân xưởng Nguyên liệu
Đảm nhiệm từ khâu đập đá vôi, đá sét cho tới xy lô đồng nhất bột liệu.
Đá vôi, đá sét sau khi được khai thác tại các mỏ của Công ty bằng phương pháp khoan nổ
mìn vi sai, cắt tầng sẽ được các phương tịên vận chuyển cỡ lớn chuyển đến các trạm đập
búa. Tại đây đá vôi, đá sét được đập nhỏ đến kích thước 25 x 25mm và được rải vào kho
đồng nhất thành các đống đá vôi và đá sét.
Quặng sắt và Bôxít (phụ gia điều chỉnh) được Công ty mua ngoài sau đó được tập kết vào
kho chứa.
Đá vôi, đá sét và các phụ gia điều chỉnh được các thiết bị vận chuyển đưa vào máy nghiền
theo năng suất nhất định (nhờ hệ thống cân định lượng). Hỗn hợp nguyên liệu sau khi được
nghiền mịn sẽ được chuyển đến hệ thống xy lô đồng nhất bột liệu. Tại đây bột liệu được
đồng nhất để đảm bảo thành phần hoá học trước khi cung cấp cho lò nung clinker.
Phân xưởng Lò nung
Đảm nhận từ khâu cấp bột liệu đến xy lô chứa clinker
Đây là phân xưởng đặc biệt quan trọng trong toàn bộ dây chuyền sản xuất, nó quy định đến
tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
Chức năng của đơn vị là phối hợp với phòng Điều hành Trung tâm tổ chức vận hành hệ
thống thiết bị trong phạm vi của đơn vị quản lý để đảm bảo các thiết bị hoạt động liên tục,
đồng bộ, an toàn nhằm sản xuất Clinker có chất lượng tốt, hiệu quả cao. Lập kế hoạch báo
cáo với ban Giám đốc về tình trạng hoạt động, tình trạng thiết bị của công đoạn Lò nung để
kịp thời chỉnh sửa thay thế.

đúng quy trình quy phạm khai thác.
Xưởng Xe máy
Lập kế hoạch vận tải đá vôi, đá sét, Clinker, phụ gia, vật tư... Quản lý, sửa chữa, bảo
dưỡng các thiết bị xe máy (ôtô tải, máy xúc, xe cẩu...) và các thiết bị máy móc khác nhằm
phục vụ sản xuất. Quản lý, vận hành các trạm máy phát điện để sãn sàng cấp điện khi có sự
cố lưới điện.
Xưởng Cơ khí
Thực hiện việc sửa chữa, lắp đặt, gia công, chế tạo, phục hồi thiết bị, nắm vững các thiết bị
của dây chuyền sản xuất trong lĩnh vực cơ khí, đảm bảo các thiết bị hoạt động liên tục, an
toàn, ổn định. Phối hợp với các đơn vị theo dõi hoạt động của các thiết bị, tìm ra nguyên
nhân sự cố, đề xuất ý kiến với lãnh đạo Công ty biện pháp khắc phục xử lý kịp thời.
Xưởng Điện - Điện tử
Xưởng Điện - Điện tử là đơn vị trực thuộc Công ty có chức năng quản lý toàn bộ tài sản,
lao động và tổ chức vận hành, sửa chữa các thiết bị thuộc hệ thống cung cấp điện, hệ thống
máy lạnh và hệ thống đo lường điều khiển, đảm bảo cho các thiết bị hoạt động liên tục ổn
định. Quản lý, bảo dưỡng, sửa chữa mạng thông tin nội bộ của Công ty.
Xưởng nước
Quản lý hệ thống cấp nước phục vụ cho sản xuất kinh doanh và nhu cầu sinh hoạt của cán
bộ công nhân viên trong Công ty. Nắm vững nguồn nước, khả năng cung cấp để tổ chức
vận hành và xử lý nước, điều phối nước hợp lý.
Xưởng sửa chữa công trình
Có nhiệm vụ sửa chữa xây vá lò nung, xây dựng và sửa chữa các công trình trong Công
ty.
1.1.4.3. Các phòng ban chức năng
Phòng Tổ chức - Lao động
Chức năng quản lý, tổ chức, đào tạo lao động, pháp chế, tiền lương và các chế độ chính
sách đối với người lao động nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất. Đề
xuất với Giám đốc về lĩnh vực tổ chức kết cấu bộ máy làm việc và bố trí nhân lực trong
Công ty, đảm bảo đúng người đúng việc.
Phòng Kế toán - Thống kê - Tài chính

Đảm bảo các thiết bị hoạt động liên tục, có hiệu quả. Tham mưu cho Giám đốc chỉ đạo
việc điều độ kế hoạch sản xuất giữa các đơn vị phù hợp với kế hoạch sản xuất của Công ty.
Trực tiếp điều hành sản xuất thông qua hệ thống điều hành đảm bảo sản xuất liên tục
không bị gián đoạn.
Phòng Kinh doanh
Thực hiện các công tác liên quan đến tiêu thụ, bán sản phẩm do Công ty sản xuất, có trách
nhiệm chính trong việc giúp Giám đốc Công ty hoạch định chính sách tiêu thụ, tổ chức bán
hàng tại Công ty và cung ứng cho các nhà phân phối. Chỉ đạo về mặt nghiệp vụ đối với các
nhà phân phối, các đại diện tiêu thụ, tiếp thị, thu nhận thông tin, dự báo khả năng và năng
lực thị trường qua từng thời gian kế hoạch nhằm tiêu thụ sản phẩm cao nhất và mở rộng thị
trường.
Phòng Thí nghiệm
Kiểm tra và xác định chất lượng nguyên, nhiên, vật liệu, phụ gia, kiểm tra chất lượng từng
công đoạn sản xuất và thành phẩm của Công ty theo tiêu chuẩn TCVN và tiêu chuẩn cơ sở,
duy trì hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn ISO - 9001.
1.1.4.4. Chế độ công tác của Công ty
Với đặc thù công nghệ của ngành sản xuất xi măng là phải duy trì lò nung chạy liên tục và
ổn định, do đó chế độ công tác của doanh nghiệp cũng phải bố trí sao cho đáp ứng được
yêu cầu công nghệ đặt ra. Công ty xi măng Hoàng Thạch là đơn vị sản xuất xi măng nên
cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Để đảm bảo hoạt động sản xuất Công ty đã có những sự điều chỉnh cũng như thay đổi
trong việc lập chế độ công tác của doanh nghiệp sao cho phù hợp nhất và hiệu quả nhất.
Hiện nay Công ty đã và đang áp dụng chế độ làm việc như sau:
Công ty thực hiện chế độ làm việc 42 giờ/tuần, thời gian nghỉ trong một năm là 92 ngày.
Nghỉ lễ theo chế độ của Nhà nước là 9 ngày. Nghỉ phép năm là 12 ngày đối với khối hành
chính, 14 ngày đối với khối trực tiếp sản xuất và cứ 5 năm công tác thì được tính thêm 1
ngày nghỉ phép.
* Các trường hợp nghỉ việc riêng có lương:
- Cha, mẹ, vợ, chồng, con mất hoặc người lao động lấy vợ hoặc lấy chồng.
- Thời gian học, họp hay tham gia công tác đoàn thể.

Ca I nghỉ một ngày
Ca II không có ngày nghỉ
Ca III nghỉ một ngày
Như vậy một vòng đi ca có 8 ngày, 6 ngày làm việc và 2 ngày nghỉ.
Hình 1-3 Sơ đồ đi ca
- Chế độ công tác làm việc theo kíp
Kíp I: từ 6h ÷ 12h
Kíp II: từ 12h ÷ 18h
Kíp III: từ 18h ÷ 24h
Kíp IV: từ 24h ÷ 6h
1.1.4.5. Tình hình sử dụng lao động trong Công ty
Là một doanh nghiệp Nhà nước có quy mô sản xuất lớn nên để đảm bảo hoạt động sản
xuất kinh doanh và vận hành toàn bộ dây chuyền hiện nay Công ty đang có tổng số 2.672
cán bộ công nhân viên trong đó:
Cán bộ lãnh đạo (từ Giám đốc đến Trưởng ca): 212 người, chiếm 7,93%
Cán bộ kỹ thuật (Đại học, Cao đẳng): 453 người, chiếm 16,95%
Công nhân kỹ thuật: 1.577 người, chiếm 59,02%
Lao động phổ thông: 173 người, chiếm 6,47%

tồn đọng của Nhà máy vật liệu chịu lửa kiềm tính; Xí nghiệp bao bì Vĩnh Tuy; Việc gia
công xi măng tại các đơn vị khác do giá cả tăng cao, không ổn định, thiếu nguồn clinker
cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến các chỉ tiêu sản lượng sản xuất tiêu thụ và tài chính
của Công ty.
- Gía vật tư đầu vào cho sản xuất liên tục tăng ( xăng dầu, vỏ bao, thuốc nổ, than…);
Nguồn nguyên liệu ( đá vôI, đất sét…) gặp nhiều khó khăn do trữ lượng ngày càng
giảm…. là trở ngại lớn đối với việc sản xuất kinh doanh.
- Việc vừa tổ chức sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, vừa triển khai xây dựng dây chuyền
III với yêu cầu đảm bảo tiến độ là một thách thức lớn.
1.2.1.2. Thuận lợi:
- Có sự chỉ đạo, giúp đỡ tận tình của các đồng chí lãnh đạo Bộ xây dựng và các cơ quan
chức năng của Bộ. Sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của các đồng chí lãnh đạo Công ty CN
XM VN và các phòng ban chức năng của Công ty, sự giúp đỡ và tạo điều kiện của các cấp
uỷ Đảng, chính quyền 2 tỉnh Hải Dương và Quảng Ninh. Sự cổ vũ và động viên kịp thời
của các cơ quan thông tấn, báo chí, phát thanh, truyền hình trung ương và địa phương.
- Những tháng đầu năm và cuối năm tốc độ ĐTXD tăng mạnh dẫn đến nhu cầu xây dựng
xi măng liên tục tăng. Thương hiệu XMHT luôn được thị trường tin dùng.
Năm 2008 Công ty XMHT đã xác định rõ các mục tiêu và điều kiện hiện có, từng bước tìm
cách tháo gỡ những khó khăn, phát huy lợi thế, đẩy mạnh sản xuất tiêu thụ sản phẩm, phấn
đấu thực hiện hoàn thành kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tại Hoàng Thạch mà
Tổng Công ty CN XM VN đã giao cụ thể như sau:
1.2.2. Kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất – kinh doanh năm 2008:
1.2.2.1. Tổng sản lượng sản xuất tiêu thụ:
Sản xuất:
- Clinker: KH năm là: 2.100.000 tấn; Thực hiện năm 2008 là: 2.142.769 tấn, bằng 102% kế
hoạch năm.
- Xi măng bột: KH năm là: 3.420.000 tấn; Thực hiện năm 2008 là: 3.519.039 tấn, bằng
102,8% kế hoạch năm.
Trong đó:
+ Nghiền tại HT: KH năm là: 3.250.000 tấn; Thực hiện năm 2008 là: 3.372.431 tấn, bằng

Trong năm 2008 Công ty đã quản lý tốt khâu sửa chữa thiết bị từ việc xây dựng kế hoạch
đến tổ chức thực hiện đúng qui trình, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật để rút ngắn thời
gian, đảm bảo chất lượng và tiết kiệm vật tư trong sửa chữa. Trong năm 2008 các đợt sửa
chữa lớn theo kế hoạch đều đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, chất lượng và đúng tiến độ đề ra.
1.2.3.3. Công tác vật tư, phụ tùng:
- Căn cứ vào kế hoạch sản xuất hàng tháng, quí, tiến độ và thời gian sửa chữa lớn, thiết bị,
Công ty đảm bảo đầy đủ, nguyên, nhiên liệu, vật tư, phụ tùng cho sản xuất và sửa chữa
thiết bị. Chất lượng vật tư, phụ tùng, nguyên vật liệu nhập về được kiểm tra chặt chẽ, đúng
quy trình, đảm bảo yêu cầu.
- Trong quá trình mua vật tư, phụ tùng, Công ty luôn bám sát giá cả thị trường để đảm bảo
mua được với giá cả hợp lý theo đúng quy định của nhà nước va của Công ty. Ngoài những
đơn vị và thị trường mua sắm vật tư truyền thống, để đảm bảo mua được hàng với chất
lượng tốt và với giá cả hợp lý, Công ty đã mở rộng đối tượng và thị trường mua sắm thông
qua chào giá cạnh tranh và mời thầu rộng rãI theo đúng quy định hiện hành.
1.2.3.4. Về kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm:
Trong năm 2008, công tác tiêu thụ XM gặp rất nhiều khó khăn do chịu ảnh hưởng của lạm
phát, suy thoái kinh tế thế giới và thực hiện các nhóm giải pháp để kiềm chế lạm phát nên
công tác tiêu thụ sản phẩm rất được Công ty chú trọng để đảm bảo giữ vững thương hiệu
“xi măng hoàng thạch” và hiệu quả kinh tế đạt mức tối đa.
Thực hiện việc dịch chuyển thị trường tiêu thụ xi măng từ miền Trung ra miền Bắc, Công
ty đã tăng cường công tác tiêu thụ tại miền Bắc, nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường,
đồng thời duy trì giữ vững thị phần và khách hàng truyền thống. Xi măng Hoàng Thạch
vẫn chiếm sản lượng lớn tại miền Bắc (tăng 270.600 tấn so với năm 2007) và ưu thế ở thị
trường Hà Nội, Hải Dương, Quảng Ninh, Bắc Ninh…
Tại thị trường miền Trung sản lượng xi măng gia công đạt thấp nên sản lượng tiêu thụ khu
vực này của Công ty chưa đáp ứng được kế hoạch đề ra.
Tại thị trường miền Nam, mặc dù khó khăn về công tác vận chuyển, do giá cước vận
chuyển liên tục tăng cao. Tuy nhiên thực hiện theo chỉ tiêu của Tổng Công ty CN XM VN,
Công ty đã xuất bán xi măng cho Cty CP XM Hà Tiên1, đồng thời tăng cường đưa xi măng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status