Đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ giai đoạn 2003-2008.Thực trạng và giải pháp - Pdf 81

LỜI MỞ ĐẦU
Giao thông đường bộ là một bộ phận quan trong của giao thông vận tải nói
riêng và của hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nói chung, nó có vai trò rất
quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, đóng góp to lớn vào nhu cầu đi lại của
nhân dân, nâng cao giao lưu với các vùng, xoá đi khoảng cách về địa lý, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý phát huy lợi thế của từng vùng, từng địa
phương, từng ngành, xoá đói giảm nghèo, củng cố an ninh quốc phòng…Tuy nhiên
hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ giao thông đường bộ của nước ta trong thời
gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế làm cản trở nhiều tới mục tiêu phát triển chung
của đất nước, làm giảm khả năng thu hút vốn đầu tư vào nền kinh tế đặc biệt là các
nguốn vốn nước ngoài và giảm tốc độ công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước, cản
trở tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và trên thế giới.
Để có thể phát huy được tối đa vai trò của mình thì yêu cầu đặt ra là trong
thời gian tới là cần phải phát triển ngành giao thông đường bộ nói riêng và giao
thông vận tải nói chung cần phải đi trước một bước, điều này đã được nhà nước rất
quan tâm và tạo nhiều điều kiện để phát triển.Trong thời gian qua vốn ngân sách
nhà nước dành cho phát triển giao thông đường bộ luôn chiếm tỷ trọng cao so với
những ngành khác, nguồn vốn ngân sách nhà nước cũng đã phát huy được những
hiệu quả nhất định và vẫn luôn là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất trong
đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đường bộ tuy nhiên công tác sử dụng vốn ngân
sách nhà nước trong thời gian qua cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế cần phải khắc
phục nhằm tránh lãng phí nguồn vốn ngân sách trong điều kiện nước ta còn là nước
đang phát triển và còn rất nhiều mục tiêu cần thực hiện và ngân sách nhà nước cũng
tương đối hạn hẹp.
Để giải quyết vấn đề trên, sau một thời gian được thực tập và nghiên cứu tại
phòng đầu tư trung ương-Vụ đầu tư-Bộ tài chính và được sự tư vấn, hướng dẫn của
các cô chú trong Vụ cùng với giáo viên hướng dẫn em đã quyết định chọn đề tài:
“Đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường bộ giai đoạn 2003-2008.Thực trạng và
giải pháp”.
Kết cấu của đề tài như sau:
Chương I: Những vấn đề chung về đầu tư phát triển hạ tầng giao thông

+CSHT kỹ thuật bao gồm các công trình và phương tiện vật chất phục vụ
cho sản suất và đời sống sinh hoạt của xã hội như các con đường, hệ thống điện,
bưu chính viễn thông,…
+CSHT xã hội là các công trình và phương tiện để duy trì và phát triển các
nguồn lực như các cơ sở giáo dục đào tạo, các cơ sở khám chữa bệnh, và các cơ sở
đảm bảo đời sống và nâng cao tinh thần của nhân dân như hệ thống công viên, các
công trình đảm bảo an ninh xã hội.
+CSHT môi trường bao gồm các công trình phục vụ cho bảo vệ môi trường
sinh thái của đất nước cũng như môi trường sống của con người như các công trình
xử lý nước thải, rác thải…
*Khái niệm GTĐB: GTĐB là một bộ phận của CSHT kỹ thuật bao gồm toàn
bộ hệ thống cầu đường phục vụ cho nhu cầu đi lại của người dân cũng như nhu cầu
giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội giữa những người dân trong cùng một vùng hay
giữa vùng này với vùng khác hoặc giữa nước này với nước khác.
1.1.2. Đặc điểm đầu tư hạ tầng phát triển giao thông đường bộ.
GTĐB là các kết quả của các dự án đầu tư phát triển nên nó mang đặc điểm
của hoạt động đầu tư phát triển là :
-GTĐB là các công trình xây dựng nên nó có vốn đầu tư lớn, thời gian thu
hồi vốn dài và thường thông qua các hoạt động kinh tế khác để có thể thu hồi
vốn.Do đó vốn đầu tư chủ yếu để phát triển GTĐB ở Việt Nam là từ nguồn vốn
NSNN.
-Thời kì đầu tư kéo dài: thời kì đầu tư được tính từ khi khởi công thực hiện
dự án cho đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động, nhiều công trình có thời
gian kéo dài hàng chục năm.
- Thời gian vận hành kết quả đầu tư kéo dài: thời gian này được tính từ khi
công trình đi vào hoạt động cho đến khi hết hạn sử dụng và đào thải công trình.
-Các thành quả của hoạt động đầu tư thường phát huy tác dụng ở ngay tại
nơi nó được xây dựng .
- Vì đầu tư phát triển GTĐB đòi hỏi cần có vốn đầu tư lớn cùng với thời kì
đầu tư kéo dài nên nó thường có độ rủi ro cao trong đó có nguyên nhân chủ quan là

điểm địa hình, phong tục tập quán của từng vùng từng địa phương, trình độ phát
triển kinh tế của mỗi nơi và quan trọng nhất là chính sách phát triển của nhà nước…
Do đó đầu tư phát triển GTĐB mang tính vùng và địa phương nhằm đảm bảo cho
mỗi vũng và địa phương phát huy được thế mạnh của mình và đóng góp lớn vào sự
phát triển chung của cả nước.Vì vậy trong kế hoạch đầu tư phát triển GTĐB không
chỉ chủ yếu đến mục tiêu phát triển chung của cả nước mà phải chú ý cả đến điều
kiện, đặc điểm tự nhiên cũng như kinh tế xã hội của mỗi vùng lãnh thổ.
*Đầu tư phát triển GTĐB mang tính xã hội hoá cao và có nhiều đặc điểm giống với
hàng hoá công cộng:
Các công trình GTĐB là những hàng hoá công cộng vì mục đích sử dụng
của nó là để phục vụ cả chức năng sản xuất và đời sống; là tổng hoà mục đích của
nhiều ngành, nhiều người, nhiều địa phương và của toàn xã hội. Điều này cho thấy
đầu tư phát triển GTĐB cần phải giải quyết cả mục tiêu phát triển kinh tế và cả mục
tiêu cộng đồng mang tính chất phúc lợi xã hội. Điều này là rất quan trọng đặc biệt là
đối với các nước đang phát triển như Việt Nam trong điều kiện NSNN của hạn hẹn
cùng với đó là thu nhập của người dân vẫn còn thấp nên không thế đáp ứng hết nhu
cầu đầu tư phát triển GTĐB.
1.2.Vai trò của đầu tư phát triền giao thông đường bộ.
Việt Nam là quốc gia nằm ở cực đông nam của bán đảo Đông Dương có
diện tích khoảng 330.991 km2 nằm trải dài từ bắc tới nam với chiều dài khoảng
1650 km do đó hệ thống đường bộ có một vị trí rất quan trọng.Giao thông vận tải
bằng đường bộ là loại hình vận tải có chi phí thấp, thuận lợi đặc biệt trong nền kinh
tế thị trường, nhu cầu lưu thông hàng hoá và đi lại của con người là rất lớn.Xây
dựng hạ tầng GTĐB tạo tiền đề cho nền kinh tế phát triển, giao lưu văn hoá, hội
nhập quốc tế và bảo vệ an ninh quốc gia.
1.2.1. Đẩy mạnh phát triển kinh tế.
Những đóng góp tích cực của hệ thống giao thông đường bộ vào sự phát
triển kinh tế là rất rõ ràng và được thế hiện ở các vai trò sau:
-GTĐB góp phần thu hút đầu tư trong nước cũng như đầu tư nước ngoài, rút
ngắn được khoảng cách địa lý giữa các tỉnh thành trong cả nước do đó làm chuyển

đóng góp vào sự phát triển của đất nước.
Hệ thống đường bộ phát triển sẽ nảy sinh các ngành nghề mới, các cơ sở sản
xuất mới phát triển từ đó tạo cơ hội việc làm và sự phát triển không đồng đều giữa
các vùng cũng được giảm, hạn chế sự di cư bất hợp pháp từ nông thôn ra thành thị,
hạn chế được sự phân hoá giàu nghèo và từ đó giảm được các tệ nạn xã hội góp
phần tích cực vào bảo vệ môi trường sinh thái.
1.2.3. Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Mục tiêu quan trọng của bất kì một doanh nghiệp nào khi hoạt động cũng
đều là lợi nhuận.Có nhiều cách để doanh nghiệp áp dụng để có được lợi nhuận tối
đa và một trong những cách đó là giảm chi phí một cách tối thiểu.Hạ tầng GTĐB sẽ
đóng góp đáng kể vào việc giảm chi phí của doanh nghiệp đặc biệt là các doanh
nghiệp có chi phí vận tải chiếm một tỷ trọng lớn.Khi hạ tầng GTĐB phát triển thì
các doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được chi phí nhiên liệu, chi phí vận chuyển hàng hoá
tới nơi tiêu thụ, chi phí nhập nguyên liệu; ngoài ra doanh nghiệp cũng có thể tiết
kiệm được một số chi phí khác như chi phí quản lý và bảo quản hàng hoá, chi phí
lưu trữ hàng tồn kho…Nhờ đó mà doanh nghiệp có thể hạ giá thành sản phẩm và
nâng cao cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.Hệ thống GTĐB phát triển
cũng sẽ giúp các doanh nghiệp giao hàng đúng nơi và đúng thời gian từ đó tạo được
uy tín cho doanh nghiệp, trong kinh doanh thì điều này là rất quan trọng.Mặt khác
khi giao thông đường bộ phát triển thì sản phẩm dễ dãng đến tay người tiêu dùng do
đó hàng hóa sẽ được tiêu thụ nhanh hơn, điều này sẽ rút ngắn thời gian quay vòng
vốn và làm tăng hiệu quả sử dụng vốn cũng như tăng hiệu quả sản xuất của các
doanh nghiệp.
1.2.4.Bảo đảm an ninh quốc phòng.
Hệ thống GTĐB đóng góp tích cực vào việc giữ gìn trật tự an ninh xã hội,
và bảo vệ quốc phòng.Với hạ tầng GTĐB hiện đại sẽ giảm thiểu đuợc tình trạng ùn
tắc đường đang xảy ra trong thời gian qua đặc biệt là ở các thành phố lớn, giảm tai
nạn giao thông, giữ gìn trật tự xã hội. Đây là một trong những vấn đề mà đảng và
chính phủ đang rất quan tâm.
Hơn nữa, hệ thống GTĐB phát triển sẽ góp phần bảo vệ biên giới của đất

triển kinh tế-xã hội của đất nước.
-Nguồn vốn trong nước bao gồm nguồn bốn từ NSNN,nguồn vốn tín dụng
đầu tư phát triển của nhà nước, và nguồn vốn của dân cư và tư nhân…
-Nguồn vốn từ nước ngoài bao gồm các nguồn vốn như vốn đầu tư trực
tiếp(FDI), vốn đầu tư gián tiếp(ODA)…
Trong các nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài thì nguồn vốn
nước ngoài đóng vai trò là cú hích cho sự phát triển của một quốc gia đang phát
triển như Việt Nam .
*Khái niệm vốn NSNN:
NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước đã được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực
hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.
Theo điều 7 của luật ngân sách nhà nước: Quỹ ngân sách nhà nước là toàn
bộ các khoản tiền của nhà nước, kể cả tiền vay có trên tài khoản của ngân sách nhà
nước các cấp.Do khả năng huy động vốn ngân sách có hạn, trong khi nhu cầu vốn
đầu tư hàng năm lại rất lớn nên vốn đầu tư NSNN ở nước ta trong những năm qua
được cân đối từ nguồn tích luỹ của ngân sách và các khoản vay trong nước và nước
ngoài.
Vốn NSNN bao gồm vốn trong nước( vốn tích luỹ của NSNN, nguồn vốn
tín dụng của nhà nước) và vốn nước ngoài(vay nợ, viện trợ).Số tiền này sẽ được
thanh toán trực tiếp cho việc thực hiện các dự án, các chương trình mục tiêu quốc
gia theo kế hoạch chi đầu tư phát triển được duyệt hàng năm.
-Vốn trong nước bao gồm:
+Vốn tích luỹ của NSNN: đây là phần chênh lệch giữa các khoản thu( không
kể vay nợ) với chi tiêu dùng thường xuyên của NSNN. Đối với vốn tích luỹ NSNN
cần áp dụng các chính sách huy động và tiết kiệm triệt để và có hiệu quả như vừa
tăng thu NSNN, vừa tiết kiệm các khoản chi tiêu dùng của NSNN.
+Nguồn vốn tín dụng của nhà nước: được huy động thông qua phát hành trái
phiếu chính phủ và các hình thức vay nợ qua kho bạc nhà nước.
-Vốn nước ngoài là các nguồn vốn đầu tư gián tiếp từ nước ngoài, thông qua

hơn ở nhiều công trình như các công trình xây dựng giao thông nông thôn… Hiệu
quả sử dụng vốn là rất khó đo lường trực tiếp và thường được đo lường thông qua
hiệu quả của các ngành kinh tế khác.
1.3.3.Vai trò của vốn ngân sách trong phát triển giao thông đường bộ
Trong bất cứ một ngành nghề hay một lĩnh vực nào thì vốn NSNN cũng đều
đóng một vai trò rất quan trọng đặc biệt là trong lĩnh vực đầu tư phát triển hạ tầng
GTĐB là lĩnh vực đòi hỏi một lượng vốn rất lớn do đó đây là lĩnh vực mà tư nhân
rất hạn chế tham gia đầu tư.Vì vậy nguồn vốn nhà nước càng có một vi trí đặc biệt
trong lĩnh vực đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB:
Trước hết, vốn NSNN đóng vai trò nền tảng, quyết định đến sự hình thành
hệ thống hạ tầng GTĐB. Đây là nhiệm vụ nền tảng của bất cứ quốc gia nào xuất
phát từ nhiệm vụ và vai trò của nhà nước trong việc cung cấp hàng hoá công cộng.
4.Các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triền giao thông đường bộ từ NSNN.Hơn
nước chỉ có nhà nước mới có đầy đủ về mặt pháp lý và vốn để có thể đảm đương
vai trò chính trong lĩnh vực này.
Thứ hai, vốn đầu tư từ NSNN đóng vai trò chủ đạo để thu hút các nguồn vốn
khác thực hiện đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB bao gồm cả vốn đầu tư trong nước
và ngoài nước.Chỉ khi có nguồn vốn nhà nước tham gia vào trong các dự án mới tạo
được niềm tin tối đa cho các nhà đầu tư để từ đó họ bỏ vốn ra để đầu tư đặc biệt với
nguồn vốn nước ngoài,có thể rõ vai trò quan trọng của vốn NSNN trong việc thu hút
vốn ODA khi mà vốn NSNN là một nguồn vốn đối ứng quan trọng trong công tác
chuẩn bị đầu tư, đền bù giải phóng mặt bằng…
Thứ ba, NSNN đóng vai trò điều phối trong việc hình thành hệ thống hạ
tầng giao thông đường bộ một cách hợp lý và đạt hiệu quả cao nhất.NSNN sẽ tập
trung đầu tư vào các dự án trọng điểm tạo điều kiện giao lưu giữa các vùng và thúc
đẩy kinh tế- xã hội phát triển.
Thứ tư, vốn NSNN khi đầu tư vào phát triển hạ tầng GTĐB sẽ là công cụ
kích cầu rất hiệu quả,bằng chứng là các công trình GTĐB ảnh hưởng trực tiếp đến
các ngành sản xuất khác như sắt, thép…từ đó tăng đóng góp vào GDP và tạo thêm
việc làm cho xã hội, nâng cao thu nhập cho một bộ phận người lao động.

-Sự ổn định về chính trị và pháp luật sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế phát
triển để từ đó làm tăng thu NSNN, đây được coi là nguồn thu quan trọng để nhà
nước có thể yên tâm bỏ vốn đầu tư vào hệ thống hạ tầng GTĐB. Đối với các nhà
đầu tư nước ngoài thì yếu tố này lại càng quan trọng, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ
chỉ bỏ vốn ra hỗ trợ nếu như họ cảm thấy họ có thể thu lại được hiệu quả từ các
nguồn vốn đó.
-Một cơ chế huy động và sử dụng vốn ngân sách hoàn chỉnh cũng như hoàn
thiện cơ chế đầu thầu, quản lý hiệu quả sử dụng vốn cũng sẽ tạo điều kiện tốt cho sự
phát triển của hạ tầng GTĐB.Hơn nữa việc quản lý tốt sẽ tạo tiền đề cho nhà nước
đầu tư vào các dự án trọng điểm thích hợp với mỗi thời kì phát triển của đất nước
cũng như các địa phương cũng có thể tự chủ khai thác nguồn vốn NSNN cho sự
phát triển hạ tầng GTĐB của địa phương mình.
1.4.4.Các chính sách của nhà nước và trình độ quản lý.
Các chính sách quản lý được thể hiện ở cả ở tầm vĩ mô và vi mô đều có ảnh
hưởng đến công tác huy động và sử dụng vốn cho đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB:
-Ở tầm vĩ mô thì đó là sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các cơ quan
trung ương từ khâu thu NSNN, kế hoạch phân bổ vốn đến khâu quản lý và sử dụng
vốn nhằm giảm thiểu được tình trạng thất thoát lãng phí.
-Ở tầm vi mô thì đó là trình độ quản lý của các ban quản lý của mỗi dự án
nhằm đạt được hiệu quả sử dụng vốn cao nhất.
Nội dung của quy chế, quy trình quản lý đầu tư gồm có:
-Những chỉ tiêu kinh tế-kĩ thuật của dự án đầu tư sao cho hạ thấp được chi
phí đầu tư nhưng không ảnh hưởng đến chất lượng của dự án đâu tư.
-Thực hiện thẩm định dự án đầu tư, và lựa chọn các phương án khả thi để
phê duyệt.
-Xây dựng cơ chế đấu thầu, chọn thầu…nhằm tránh thất thoát nguồn vốn.
-Quản lý các nguồn vốn đầu tư,xây dựng quy trình và quản lý cấp phát,
thanh toán, quyết toán vốn đầu tư.
-Quy định về các thủ tục hành chính trong quản lý đầu tư như giấy cấp đất,
hợp đồng xây dựng…

dụng các công nghệ mới và có đạo đức nghề nghiệp…
2.Nội dung đầu tư phát triển hạ tầng giao thông đường
bộ bằng nguồn vốn NSNN.
2.1.Nội dung.
2.1.1. Đầu tư vào hạ tầng GTĐB theo chu kì của dự án.
Chu kì của một dự án đầu tư là các bước hoặc các giai đoạn mà một dự án
phải trải qua bắt đầu từ khi dự án mới chỉ là ý đồ đến khi dự án được hoàn thành
chấm dứt hoạt động.
Chu kì dự án dự án đầu tư có thể được minh họa bằng sơ đồ:
Hình 1.1: Sơ đồ chu kì dự án đầu tư.
Cũng như các dự án đầu tư phát triển thông thường thì chu kì của dự án đầu
tư phát triển hạ tầng GTĐB cũng trải qua các giai đoạn như trong sơ đồ chu kì dự
án:
-Ý đồ về dự án đầu tư: Đây là bước rất quan trọng vì là sự khởi đầu cho bất
cứ một dự án đầu tư nào đặc biệt là đối với các dự án có mục tiêu xã hội cao như
các dự án hạ tầng GTĐB,xác định ý đồ cho dự án phải được dựa trên các cơ chế
chính sách phát triển hệ thống hạ tầng giao thông vận tải của cả nước nói chung và
của hệ thống hạ tầng GTĐB nói riêng cũng như nhu cầu cấp thiết của dự án.
-Chuẩn bị đầu tư:
+Soạn thảo dự án: trên cơ sở có ý đồ đầu tư thì nhà đầu tư sẽ tiến hành lập
dự án cũng như tiến hành nghiên cứu khả thi và nghiên cứu tiền khả thi.Sau giai
đoạn này sẽ có một dự án hoàn chỉnh để trình lên cơ quan có thẩm quyền xin cấp
vốn NSNN.
+Thẩm định dự án: Sau khi dự án đã được lập hoàn chỉnh, để dự án có thể
được cấp vốn đầu tư thì cần phải tiến hành thẩm định tính khả thi của dự án vì
NSNN là có hạn không thể đầu tư dàn trải được.Mục tiêu quan trọng nhất của giai
đoạn này là phải tiến hành thẩm định khía cạnh tài chính kết hợp với thẩm định khía
cạnh xã hội của dự án, không thể xem nhẹ khía cạnh xã hội như đối với các dự án tư
nhân.
-Thực hiện đầu tư: Các dự án sau khi được tiến hành thẩm định nếu có tính

sử dụng, các công trình GTĐB đã bị hư hỏng nhiều nhưng vẫn còn có thể sử dụng
để đáp ứng nhu cầu trước mặt cùng với đó là do dự thiếu vốn đầu tư của nhà nước
nên không thể xây dựng mới trong một thời gian ngắn do đó hàng năm nhà nước
cần phải chi một lượng vốn nhất định để có thể duy trì hoạt động của hệ thống hạ
tầng GTĐB.Đây là một giải pháp tốt đối với một nước đang phát triển như Việt
Nam để có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống GTĐB nhưng vẫn tiết
kiệm được các nguồn lực, điều này là rất quan trọng trong tình trạng thiếu vốn
nhưng vẫn còn có quá nhiều mục tiều đầu tư cấp bách khác.
2.1.3. Đầu tư vào hạ tầng GTĐB theo khu vực đầu tư.
*Đầu tư vào giao thông nông thôn:
Đây là chủ trương đúng đắn của đảng và nhà nước ta nhằm xây dựng một xã
hội công bằng, văn minh, thực hiện công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước.Giao
thông đi lại chủ yếu của nông thôn là giao thông đường bộ bao gồm các con đường
bên trong các xã nối liền với các đường quốc lộ; các con đường liên huyện,liên xã,
liên thôn. Đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB nông thôn nhằm xây dựng một hệ thống
hạ tầng đường bộ liên hoàn nhằm phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp
hoá và nâng cao dân trí của khu vực nông thôn.Trên cơ sở nhà nước cùng nhân dân
cùng làm thì đây là chủ trương thích hợp của đảng trong điều kiện nước ta vẫn là
một nước nông nghiệp và chủ yếu người dân sống bằng nghề nông.
*Đầu tư vào giao thông đường bộ đô thị:
Song song với đầu tư vào phát triển vào khu vực nông thôn nhằm mục đích
xã hội là chủ yếu thì đầu tư vào hệ thống hạ tầng giao thông đô thị lại nhằm phát
triển kinh tế văn hoá ở khu vực đô thị đặc biệt là ở các thành phố lớn vì đây là
những đầu tàu trong nền kinh tế, hàng năm ở các khu vực đô thị đóng góp vào GDP
của cả nước cao hơn nhiều so với khu vực nông thôn.Hơn nữa khu vực đô thị cũng
là bộ mặt của đất nước nhằm thu hút các nguồn vốn cả trong nước lẫn ngoài
nước.Thực trạng hạ tầng giao thông đô thị của nước ta trong thời gian chưa đáp ứng
được nhu cầu phát triển là do một số nguyên nhân như tỉ lệ đất để xây dựng hạ tầng
giao thông đô thị là thấp, dân cư ở các đô thị tăng quá nhanh do sự di dân từ các
vùng khác, sự phát triển quá nhanh của các phương tiện giao thông do đời sông của

trước vì mục tiêu phát triển chung.
-Tiêu chí thứ hai thể hiện kết quả của hoạt động đầu tư phát triển GTĐB từ
NSNN là giá trị tài sản cố định huy động tăng thêm và năng lực sản xuất cũng như
phục vụ của ngành GTĐB tăng lên do trong thời kỳ đầu tư.Tài sản cố định huy
động là các công trình hay hạng mục công trình, đối tượng xây dựng có khả năng
phát huy độc lập và đã được hoàn thành đưa vào sử dụng mà sản phẩm ở trong
ngành GTĐB là các con đường, cây cầu mới.Nhờ có những hạng mục công trình
mới được đưa vào sử dụng mà năng lực phục vụ của ngành được tăng lên và ngày
càng phục vụ tốt hơn nhu cầu của nền kinh tế và của người dân.
Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết
quả kinh tế-xã hội đã đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có
các kết quả đó trong một thời kỳ nhất định.Hiệu quả của hoạt động đầu tư được
đánh giá thông qua các chỉ tiêu đo lường hiệu quả và được xác định dựa trên từng
mục tiêu của dự án.Xuất phát từ đặc điểm của đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB là
mang tính chất công cộng và xã hội hoá cao nên việc xác định hiệu quả của hoạt
động đầu tư từ nguồn vốn NSNN trong lĩnh vực GTĐB cũng khác so với các lĩnh
vực khác.Hiệu quả của hoạt động đầu tư không mang tính rõ ràng và được dựa trên
cơ sở hiệu quả của các ngành và các lĩnh vực khác.
Trước hết đây là công trình từ nguồn vốn NSNN và mang tính phúc lợi cao
nên không thể sử dụng các chỉ tiêu tài chính như là đóng góp cho NSNN là bao
nhiêu hay thời gian thu hồi vốn nhưng không phải như thế là không có hiệu quả mà
hiệu quả của nó được xác định dựa trên sự phát triển của nền kinh tế và những đóng
góp của nó vào hiệu quả kinh tế-xã hội và mục tiêu này thường thể hiện qua các chủ
trương,chính sách và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của nhà nước như tốc độ
tăng trưởng GDP, mức độ cải thiện thu nhập của dân cư, phúc lợi xã hội…vì nhờ có
các công trình hạ tầng GTĐB mà các ngành kinh tế khác phát triển nhanh, thu hút
được nhiều nguồn vốn từ nước ngoài, đời sống về tinh thần của người dân được
nâng cao.
Hiệu quả trước hết thể hiện hệ thống chỉ tiêu về nâng cao mức sống của dân
cư như mức gia tăng sản phẩm quốc gia, mức gia tăng thu nhập, tốc độ tăng trưởng

cường đầu tư các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao và thực hiện
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng của ngành công nghiệp và dịch
vụ.Xây dựng một hệ thống hạ tầng GTĐB tiêu chuẩn là rất cần thiết nhằm đảm bảo
các khu công nghiệp có thể nối liền nhau và nối liền với các khu thương mại từ đó
sản phẩm hàng hoá sẽ nhanh chóng đến tay người tiêu dùng,làm tăng tốc độ phát
triển công nghiệp và các ngành khác.
Việt Nam cũng đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại
thế giới WTO, đây cũng vừa là cơ hội nhưng cũng vừa là thách thức đối với nước
ta. Để có thể thu hút tối đa các nguồn vốn FDI phục vụ cho sự phát triển thì hệ
thống hạ tầng giao thông đường bộ đóng vai trò quyết định, nhiều nhà đầu tư nước
ngoài cho rằng hạ tầng giao thông của nước ta là một điểm bất lợi so với nhiều nước
cùng khu vực trong việc thu hút vốn.Một khi hệ thống hạ tầng GTĐB nói riêng và
hệ thống hạ tầng giao thông vận tải nói chung được hoàn thiện và hiện đại thì Việt
Nam chắc chắn là điểm đến hấp dẫn của mọi nguồn vốn đầu tư.
Cùng với tốc độ tăng trưởng GDP cao hàng năm thì đời sống của người dân
ngày càng được nâng cao đặc biệt là ở các khu vực đô thị, nếu nhiều năm trước để
sở hữu phương tiên ô tô là một món hàng xa xỉ với nhiều người thì trong những
năm gần đây số lượng ô tô được bán ra ngày càng tăng, và hứa hẹn sẽ có mức tăng
trưởng cao trong những năm tiếp theo.Để đáp ứng được nhu cầu đó càng thấy tầm
quan trọng của hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ.
Như vậy đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB là nhiệm vụ có tính chiến lược và
cấp thiết trong thời gian hiện nay và cả trong thời gian sau nữa.
1.2.Thực trạng hệ thống giao thông đường bộ.
Trong những năm qua,nhận thấy được tầm quan trọng của hệ thống hạ tầng
GTĐB, đảng và nhà nước đã dành khá nhiều ưu tiên cho đầu tư phát triển hạ tầng
GTĐB cùng với việc xây dựng các chính sách khuyến khích tư nhân và các tổ chức
nước ngoài cùng tham gia đầu tư dưới nhiều hình thức thì hệ thống hạ tầng GTĐB
của nước ta đã có những bước phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ.Hầu hết các
đường quốc lộ đã được xây mới hoặc được nâng cấp, cải tạo như đường quốc lộ
tuyến Hà Nội-Lạng Sơn, Hà Nội- Bắc Cạn…đã làm cho khoảng cách giữa các tỉnh,

có bề rộng 2 làn xe trở lên chỉ chiếm khoảng 62%.Đường bộ của nước ta chủ yếu là
đường 1 làn xe với bề mặt đường từ 3-3.5m.Hệ thống giao thông đường bộ của
nước ta vẫn còn chậm phát triển, vừa thiếu lại vừa yếu,hầu hết các con đường chưa
đạt tiêu chuẩn kĩ thuật, chưa có đường cao tốc chuẩn: một số đường cao tốc đạt tiêu
chuẩn loại Việt Nam như Nội Bài, Nam Thăng Long… nhưng chỉ tương ứng với
tiêu chuẩn B(Expressway) so với tiêu chuẩn quốc tế.Nhiều con đường vẫn chưa thể
thông xe suốt cả năm nhất là vào mùa mưa nhiều con đường không thể sử dụng
đươc.Ngoài ra số lượng đường chưa được trải mặt còn rất lớn, số đường được trải
mặt mới chỉ chiếm khoảng 19% trên tổng số chiều dài đường;ngay cả đường quốc
lộ cũng mới chỉ có 83.5% được trải mặt và được thể hiện rõ ở bảng sau:
Bảng 2.2: Phân loại chiều dài đường và mặt đường
Hệ
thống
đường
Đơn vị Đã trải mặt Đá dăm Đường đất Tổng số % trải mặt
Quốc lộ Km 14.441 600 2.254 17.295 83.5
Tỉnh lộ Km 11.657 553 9.552 21.762 53.6
Đường
huyện
Km 9.106 2.077 38.830 45.013 20.2
Đường

Km 4.041 68 2.543 6.654 60.7
Đường
đô thị
Km 2.922 52.446 76.086 131.455 2.2
Tổng số Km 42.167 55.744 124.268 222.179 19.0
Nguồn: Cục đường bộ Việt Nam
*Về đường quốc lộ:Trên quốc lộ hiện nay có khoảng hơn 3800 chiếc cầu,
với tổng chiều dài hơn 118.000 m trong đó có khoảng 920 cây cầu không an toàn

đường đô thị cũng ngày càng tăng nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách.Tuy nhiên
đường đô thị của Việt Nam đang lâm vào tình trạng báo động mà ví dụ điển hình
nhất ở đây là ở 2 thành phố lớn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.Hệ thống đường
đô thị cũ chưa được nâng cấp sửa chữa nhiều, nhiều con đường được xây dựng từ
thời kháng chiến chống Pháp nên bề mặt đưòng nhỏ, lại có nhiều điểm giao cắt (như
ở thành phố Hồ Chí Minh có trên 1000 điểm, còn ở Hà Nội có trên 500 điểm).
Thực trạng trên cho thấy nâng cao đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB là một
chính sách đúng đắn của đảng và nhà nước, như thế mới có được một hệ thống hạ
tầng GTĐB hoàn chỉnh, chất lượng tốt để phục vụ mục tiêu công nghiệp hoá và
hiện đại hoá đất nước.
2.Thực trạng đầu tư phát triển hệ thống giao thông
đường bộ.
2.1.Tình hình huy động vốn NSNN đầu tư phát triển giao thông đường bộ.
Muốn đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng GTĐB thì vốn là yếu tố quyết
đinh,quá trình huy động và sử dụng vốn luôn gắn bó mật thiết với nhau đặc biệt là
đối với nguồn vốn NSNN.Lượng vốn huy động được sẽ đóng vai trò quyết định đối
với nhu cầu sử dụng vốn đầu tư và nhu cầu sử dụng vốn là căn cứ quan trọng để nhà
nước có thể phân bổ và huy động vốn cho đầu tư phát triển hạ tầng GTĐB hàng
năm.
Công tác huy động vốn cho đầu tư phát triển GTĐB được thực hiện gắn liền
với cơ chế và chính sách huy động vốn cho các hoạt động đầu tư phát triển nói
chung và phụ thuộc vào nhu cầu vốn đầu tư cũng như vào thực trạng nền kinh tế-xã
hội trong từng giai đoạn phát triển.
Đối với vốn tích lũy từ NSNN cần áp dụng chính sách huy động tiết kiệm
triệt để và sử dụng có hiệu quả bằng cách: tăng thu cho NSNN bằng nhiều nguồn
như thuế, phí sử dụng cầu đường,… cùng với tăng thu là phải sử dụng tiết kiệm đặc
biệt là trong chi tiêu dùng của ngân sách.Chỉ khi NSNN có tích luỹ thặng dư và tích
luỹ ngày càng tăng thì mới có thể nâng cao được nguồn vốn cho các hoạt động đầu
tư phát triển vốn đã rất tốn kém.
Tăng thu cho NSNN trên cơ sở quản lý chặt chẽ và khai thác hợp lý các

cân đối ngân sách trên cơ sở các mục tiêu đã được đặt ra để phân bố sao cho hợp lý.
Điều này sẽ tạo điều kiện rất tốt cho hoạt động đầu tư vào hệ thống hạ tầng giao
thông vận tải nói chung và giao thông đường bộ nói riêng vì các công trình được
thực hiện trong nhiều năm nên chủ động về vốn cũng đồng nghĩa với hiệu quả đầu
tư.
Cũng trong giai đoạn từ năm 2003 trở lại đây tốc độ tăng trưởng của nền
kinh tế Việt Nam là khá cao (giữ mức trung bình là 7.5%), so với thời kì trước là có
những tiến bộ vựơt bậc (năm 1990 tốc độ tăng tổng sản phẩm quốc nội là 5%, năm
2000 là 6.9%),cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế là các nguồn thu cho NSNN cũng
ngày một tăng đặc biệt là các nguồn từ thuế của doanh nghiệp, đây được coi là
nguồn thu chính của bất cứ ngân sách nhà nước của mọi quốc gia do đóng ngân
sách nhà nước cho hoạt động phát triển hạ tầng GTĐB cũng ngày một tăng và đáp
ứng khá tốt nhu cầu vốn đầu tư cho hệ thống GTĐB hàng năm.
Bảng 2.4: Vốn NSNN cho giao thông đường bộ.
Năm
Chỉ tiêu
Đơn vị 2003 2004 2005 2006 2007 2008
Tổng VĐT phát triển
GTĐB
Tỷ đồng
4289.3 4940.2 6153.7 6688.2 7552.7 5651.7
Tốc độ phát triển
định gốc
%
100 115 143 155 176 131
Tốc độ phát triển liên
hoàn
%
100 115 124 108 112 74
Vốn NSNN phát

Vốn tập trung NSNN 35275.8 25.3
Vốn ODA 38282.3 27.5
Vốn trái phiếu 44129.06 31.7
Vốn tín dụng nhà nước 14835.9 10.6
Vốn khác 6685.3 4.9
Nguồn: Vụ đầu tư-Bộ tài chính.
Đây được coi là xu hướng phát triển đúng đắn,không thể quá lệ thuộc vào
nguồn vốn NSNN eo hẹp, đây là bước đi mà các nước phát triển đã làm từ rất lâu và
đạt được những kết quả to lớn.
2.2. Tình hình sử dụng vốn NSNN cho phát triển giao thông đường bộ.
2.2.1.Cơ chế quản lý và sử dụng vốn NSNN cho giao thông đường bộ.
*Cơ chế quản lý:
Tham gia quản lý và sử dụng vốn NSNN cho đầu tư phát triển hạ tầng
GTĐB bao gồm các cơ quan từ trung ương tới địa phương và các ban quản lý của

Trích đoạn Tình hình sử dụng vốn NSNN cho phát triển giao thông đường bộ. Đầu tư và xây dựng mới đường bộ. Đầu tư nâng cấp và duy tu bảo dưỡng đường bộ. Đầu tư vào giao thông nông thôn. Đầu tư vào giao thông đường bộ đô thị.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status