Trang 1
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU
CÁ TRA CỦA ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
SANG THỊ TRƯỜNG EU
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU CÁ TRA Ở ĐỒNG
BẰNG SÔNG CỬU LONG
1.1.1 Lý thuyết trọng thương
Chủ nghĩa Trọng thương được hình thành ở Châu Âu vào thế kỷ XVI và
phát triển đến giữa thế kỷ 18 (thời kỳ tiền TBCN). Những nội dung chính
9 Đề cao vai trò của tiền tệ, coi tiền tệ là tiêu chuẩn cơ bản của của
cải. Nhà nước nào càng nhiều tiền thì càng giàu có.
9 Họ đặc biệt coi trọng các hoạt động thương mại, mà trước hết là
ngoại thương. CNTT cho rằng chỉ có hoạt động Ngoại thương mới là nguồn gốc
thực sự của của cải vì nó làm tăng thêm khối lượng tiền tệ. Theo chủ nghĩa trọng
thương, khi tham gia vào thương mại quốc tế, muốn có nhiều tiền thì phải thực hiện
xuất siêu, phải đạt được thặng dư mậu dịch. Để đạt được thặng dư mậu dịch bằng
cách:
9 Tăng số lượng hàng hóa xuất khẩu
9 Xuất khẩu hàng hóa có giá trị cao ưu tiên hơn hàng hóa có giá trị
thấp. Thế kỷ XVI chứng kiến sự khuyến khích xuất khẩu len ở Anh. Đến thế kỷ
XVII, Thomas Mun, làm việc cho Công ty Đông Ấn, cho rằng nên khuyến khích
xuất khẩu các sản phẩm chế biến vì chúng tạo ra giá trị cao, cấm xuất khẩu hàng sơ
chế.
9 Chủ nghĩa trọng thương không khuyến khích xuất khẩu nguyên liệu
mà sử dụng nguyên liệu để sản xuất trong nước rồi đem xuất khẩu thành phẩm.
9 Nhập khẩu: ưu tiên nhập khẩu nguyên liệu so với thành phẩm. Hạn
chế hoặc cấm nhập khẩu thành phẩm, nhất là hàng xa xỉ. NK vàng và bạc được chú
trọng
9 Khác với chủ nghĩa trọng thương cho rằng lợi nhuận là do lường
gạt và trao đổi không ngang giá, theo A. Smith, trao đổi phải ngang giá. Nếu một
bên thấy họ rơi vào thế bất lợi, họ sẽ không tham gia vào thương mại quốc tế.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cá tra khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long sang thị trường Eu
Trang 3
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
9 Smith phê phán sự phi lý của lý thuyết trọng thương và chứng minh
rằng mậu dịch sẽ giúp cả hai bên gia tăng gia sản, qua việc thực thi một nguyên tắc
cơ bản là nguyên tắc phân công.
9 Cơ sở mậu dịch giữa các quốc gia là căn cứ vào lợi thế tuyệt đối
của các nước.
9 Lợi thế tuyệt đối của một quốc gia về một sản phẩm nghĩa là quốc
gia đó sản xuất ra sản phẩm đó với các chi phí thấp hơn các nước khác.
9 Nguồn gốc của lợi thế tuyệt đối:
•
Lợi thế tự nhiên: tài nguyên, điều kiện khí hậu, đất đai.
Ðiều kiện tự nhiên có thể đóng vai trò quyết định trong việc sản xuất có hiệu quả rất
nhiều sản phẩm như nông sản (cà phê, chè, cao su, dừa, lúa gạo, v.v..) và các loại
khoáng sản (kim cương, dầu mỏ, quặng nhôm, v.v..)
•
Lợi thế do nỗ lực: kỹ thuật và sự lành nghề.
Sản xuất các thành phẩm: nông sản chế biến, sản phẩm chế tạo phần lớn phụ thuộc
vào lợi thế do nỗ lực thường là kỹ thuật chế biến và kỹ năng sản xuất.
1.1.3 Học thuyết lợi thế so sánh của D.Ricardo về thương mại quốc tế
9 Thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo (Anh, 1772-1823). D.
Ricardo đã chứng minh được thương mại quốc tế có thể mang lại lợi ích cho các
bên tham gia, ngay cả khi một bên có ưu thế sản xuất rẻ hơn bên kia trong tất cả các
mặt hàng
Lợi thế cạnh tranh của ngành hàng cụ thể của một quốc gia là sự khác biệt
về lợi thế cạnh tranh mang tính vượt trội của các nhóm chiến lược trong ngành hàng
đó so với các nhóm chiến lược trong ngành hàng tương ứng của những quốc gia
khác trên thế giới. Và do đó, năng lực cạnh tranh của ngành hàng biểu hiện qua
năng lực cạnh tranh của các nhóm chiến lược trong ngành
Nhóm chiến lược là một tập hợp những công ty áp dụng chiến lược sản xuất
kinh doanh tương tự nhau. Mỗi ngành hàng có thể bao gồm một hay nhiều nhóm
chiến lược. Dấu hiệu căn bản phân biệt các nhóm chiến lược là giá và bề rộng của
dòng sản phẩm (thể hiện qua qui cách chất lượng và chủng loại sản phẩm)
Môi trường cạnh tranh của ngành là môi trường kinh tế quốc tế, bao gồm:
môi trường thương mại, môi trường sản xuất và môi trường tài chính trong mối liên
kết toàn cầu. Trong môi trường cạnh tranh quốc tế, các ngành hàng luôn đối diện
với rất nhiều thời cơ và thách thức. Phản ứng trước thời cơ và thách thức đó của tất
cả các doanh nghiệp trong các nhóm chiến lược sẽ tất yếu dẫn đến sự xuất hiện của
những cty đa quốc gia và cty xuyên quốc gia.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cá tra khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long sang thị trường Eu
Trang 5
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đánh giá lợi thế cạnh tranh của ngành phải dựa vào 3 nhóm yếu tố cơ bản
như: năng lực cạnh tranh của các nhóm chiến lược trong ngành (biểu hiện qua sự
khác biệt về giá cả sản phẩm và bề rộng dòng sản phẩm), cấu trúc và lợi thế theo qui
mô của ngành (mặt bằng công nghệ chung của ngành cao hay thấp, hệ thống cơ sở
hạ tầng kỹ thuật của ngành đã phát triển đến chừng mực nào, các ngành liên kết và
bổ trợ có đầy đủ và đồng bộ hay không…), nhóm yếu tố về chính sách (vai trò, vị trí
của ngành trong chiến lược phát triển kinh tế quốc gia, ngành được qui hoạch ra
sao, có phải là ngành kinh tế mũi nhọn, chính sách của chính phủ đối với ngành là
khuyến khích hay hạn chế phát triển..)
Trong thực tế, lợi thế cạnh tranh của ngành được đánh giá trên cả hai mặt
Khai thác tối đa tiềm năng thiên nhiên, lợi thế của vùng cực nam tổ quốc,
sử dụng tối ưu, lâu bền tài nguyên thiên nhiên, phù hợp với sự phát triển các ngành
kinh tế xã hội của vùng một cách hợp lý.
Chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi cũng như điều chỉnh cơ cấu kinh tế
nông nghiệp nông thôn, thu hút đầu tư, góp phần giải quyết việc làm cho người lao
động, nâng cao thu nhập.
Đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm tiêu dùng cho nhân dân, giảm gánh
nặng cho ngành khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên vốn đang ngày càng cạn kiệt,
bảo vệ môi trường sinh thái.
1.3 TÌM HIỂU SƠ LƯỢC VỀ LIÊN MINH EU
Liên minh EU là một tổ chức liên chính phủ của các nước
châu Âu. Từ 6
thành viên ban đầu, hiện nay có 27
quốc gia thành viên. Liên minh được thành lập
với tên gọi hiện nay theo Hiệp ước về Liên minh châu Âu năm
1992, thường gọi là
Hiệp ước Maastricht. Tuy nhiên, nhiều phương diện của Liên minh châu Âu đã có
từ trước, kể từ
thập niên 1950, thông qua một loạt các tổ chức tiền thân. Liên minh
châu Âu (EU) có trụ sở đặt tại thủ đô
Brussels của Bỉ.
Sau đây là danh sách 27 quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu xếp
theo năm gia nhập.
1957:
Bỉ, Đức, Italy, Luxembourg, Pháp, Hà Lan
1973:
Đan Mạch, Ireland, Anh
1981:
Hy Lạp
1986: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha
Đvt: Kg/người/năm
2007
Austria
11
Belgium/Luxembourg
22
Bulgaria
5
Cyprus
25
Czech Republic
10
Denmark
24
Estonia
14
Finland
34
France
32
Germany
15
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cá tra khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long sang thị trường Eu
Trang 8
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Greece
26
EU-27 22
Nguồn: fao, 2007
Mức tiêu thụ thủy sản tính trên đầu người/ năm là 22 kg, như vậy khối sẽ
tiêu thụ hết khoảng 11 triệu tấn thủy sản/năm. Các nước Trung và Đông Âu tiêu thụ
khoảng 15 kg và các nước thuộc Tây Bắc Âu từ 15-30 kg, trong khi đó các nước
Nam Âu đạt từ 40-60 kg.
Tiêu thụ thủy sản có sự khác biệt lớn giữa các thành viên EU 5 thị trường
lớn nhất ở EU chiếm khoảng hơn 70% tiêu thụ thủy sản năm 2007.
Tây Ban Nha, đặc biệt là Bồ Đào Nha có sức tiêu thụ thủy sản bình quân
đầu người cao.
Tiêu thụ bình quân đầu người Ý, Anh thuộc dạng trung bình EU.
Các nước trung tâm EU không có truyền thống ăn thủy sản do hầu hết các
nước này không có đường bờ biển . Do đó họ không có quen với mùi vị thủy sản.
Các nước thuộc vùng địa trung hải (Ý, Tây Ban Nha, Malta,…) và các nước
Bắc Âu ( Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch) là thị trường tiêu thụ thủy sản chính.
Người tiêu dùng EU tiêu thụ nhiều loại thủy sản khác nhau và truyền thống
ẩm thực thủy sản giữa các nước cũng khác nhau. Để thỏa mãn tất cả các nhu cầu
này chắc chắn việc tìm kiếm nguồn thủy sản sẽ ngày càng trở nên khó khăn hơn.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cá tra khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long sang thị trường Eu
Trang 9
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Thêm vào đó các nước công nghiệp hóa ngày càng đưa ra nhiều biện pháp
nhằm giảm áp lực đối với nghề khai thác thủy sản, một trong những nguyên nhân
chính gây cạn kiệt nguồn lợi. Chỉ một phần nhu cầu tiêu thụ của EU được ngành
nuôi trồng thủy sản đáp ứng.
Các nước thành viên EU đã thể hiện rõ nhất xu hướng này như sản lượng
thủy sản đánh bắt sụt giảm. Nguồn thủy sản nhằm duy trì khả năng cung cấp đã đặt
ra nhu cầu đối với tăng nhập khẩu.
Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cá tra khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long sang thị trường Eu
Trang 10
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Mỹ
231,859 215,657 267,378 254,938 256,677 275,328
Achentina
202,950 231,335 191,039 173,009 251,242 231,923
Thái Lan
147,933 168,189 159,139 177,916 214,733 227,193
Việt Nam
32,037 45,936 66,882 105,831 194,862 256,204
Marốc
175,923 169,189 152,939 180,162 191,748 180,276
Êcuađo
76,759 98,813 106,173 136,731 157,210 175,154
Ấn Độ
95,407 109,418 109,343 123,286 142,759 146,609
Nga
209,995 172,211 146,540 126,212 133,732 102,664
Chilê
93,434 94,906 103,073 122,392 128,973 135,024
Greenland
94,191 100,494 106,112 113,517 117,606 112,716
Đảo Faroe
139,667 143,637 126,037 119,571 102,362 94,347
Các nước
khác
1,391,370 1,482,106 1,426,712 1,458,528 1,400,350 1,396,737
Tổng nhập từ
Cá hồi 299,351 306,654 325,005 341,798 405,278
Mực và bạch tuộc 273,791 281,340 301,150 282,667 271,158
Vẹm 115,241 111,481 137,553 200,119 184,349
Khác 2,035,903 2,008,618 2,028,082 2,152,486 2,140,139
Nhập từ nước thứ ba 4,326,988 4,326,171 4,530,063 4,912,654 5,027232
Nguồn: Golbal trade atlas
Nhóm sản phẩm thủy sản nhập khẩu quan trọng tính theo khối lượng mà
EU nhập khẩu là: cá fillet đông lạnh, chủ yếu từ cá minh thái, cá tra và cá tuyết. EU
tăng nhanh nhập khẩu cá tra từ Việt Nam, đưa Việt Namtrở thành nhà cung cấp cá
fillet đông lạnh lớn thứ 2 cho EU.
Nhóm thủy sản quan trọng thứ hai là tôm đông lạnh và các sản phẩm tôm,
các nhà cung cấp chính là Greenland, Ecuado, Ấn Độ, Trung Quốc, Brazin và
Achentina.
Nhóm thứ ba là cá ngừ và cá ngừ vay vằn với các nhà cung cấp chính là
Ecuado, Thái Lan.
Nhóm thứ tư là cá hồi nuôi chủ yếu do Na Uy cung cấp.
Nhu cầu đối với sản phẩm chế biến có bảo quản như surimi, tôm nước ấm,
tôm nước lạnh, trứng cá cũng tăng đều.
Qua bảng số liệu trên ta có nhận thấy rằng Eu nhập khẩu và tiêu thụ rất đa
dạng các loài thủy sản cả thủy sản nước ngọt lẫn thủy sản nước mặn. Việt Nam có
nhiều điều kiện thuận lợi trong xuất khẩu cá fillet nước ngọt, tôm, mực, bạch tuộc
vào thị trường này. Cụ thể về mặt hàng cá nước ngọt: -------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cá tra khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long sang thị trường Eu
Trang 12
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Bảng 1.4 Tình hình nhập khẩu cá nước ngọt của EU
EU năm 2007. Trong đó năm 2007 Việt Nam xuất khẩu 123,212 tấn cá tra vào thị
trường. Như vậy cá tra chiếm khoảng 22% thị trường cá nước ngọt EU và khoảng
2,5% thị trường thủy sản EU.
Ở đây chúng ta cũng cần chú ý rằng Trung Quốc và Thái Lan cũng có một
số vùng có điều kiện thuận lợi nuôi trồng cá nước ngọt như Việt Nam. Trong đó nổi
lên cá rô phi, cá tra là hai loài cá nước ngọt mà hai nước này đang nuôi trồng và
xuất khẩu với sản lượng không ngừng gia tăng mỗi năm.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cá tra khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long sang thị trường Eu
Trang 13
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
1.4.4 Phân nhóm thị trường thủy sản EU
Thị trường thủy sản châu Âu được phân chia thành 3 vùng chính: Bắc Âu
bao gồm Anh, các nước vùng Xcăngđinavơ và Hà Lan; Trung Âu bao gồm Ðức,
Áo, Ba Lan, Cộng hoà Séc; và các nước vùng Ðịa Trung Hải. Ở khu vực Bắc Âu,
người tiêu dùng thích các loài thủy sản nước lạnh như cá trích, cá ngừ, cá tuyết, cá
hồi trong khi đó cá melúc, mực, bạch tuộc và nhiều loài giáp xác khác được ưa
chuộng hơn cả ở khu vực Ðịa Trung Hải.
Phân đoạn thị trường khác là theo dạng sản phẩm như phương thức bảo
quản sản phẩm tươi hoặc ướp lạnh, đông lạnh; hoặc chế biến sẵn và dạng sản phẩm
được chế biến như nguyên con, phi lê, cắt miếng, sơ chế, ăn liền.
Ðộ tuổi của người tiêu dùng cũng là một yếu tố quan trọng trong hành vi
mua bán các sản phẩm thủy sản. Ở nhiều nước châu Âu, những người ở độ tuổi trên
50 tiêu thụ thủy sản nhiều nhất. Nhóm người này cũng mua nhiều sản phẩm tươi và
nguyên con hơn so với nhóm người trẻ tuổi hơn.
Hệ thống phân phối thủy sản EU tập trung vào các trung tâm bán lẻ, siêu thị
và nhà nhập khẩu. Họ thường không mua hoặc sở hữu hàng hóa. Hầu hết các đại lý
làm vì hoa hồng được người bán trao cho họ. Có 2 loại đại lý : Đại lý đại diện cho
người mua và đại lý đại diện cho người bán, đại lý này rất cần am hiểu xu hướng thị
trường , giá cả hiện tại và người tiêu dùng.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cá tra khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long sang thị trường Eu
Trang 15
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Hình 1.1: Hệ thống phân phối thủy sản của EU
Đổi tàu đánh bắt
EU
Cty đánh bắt
nước ngoài
Bán đấu giá
Nhà sản xuất và
xuất khẩu
nước ngoài
Cty nhập khẩu –
Đại lý
Công nghiệp chế biến
Bán lẻ và dịch vụ ăn uống
Nguồn: EROSTAT
Nhà xuất khẩu thủy sản nhìn chung sẽ phân phối cho nhà nhập khẩu
EU, những nhà trung gian này đã thiết lập mối quan hệ lâu đời với khách hàng của
họ và họ biết tốt hơn về yêu cầu của thị trường nội địa và người tiêu dùng cuối
cùng. Họ cung cấp trực tiếp đến chuỗi các siêu thị, nhà sản xuất công nghiệp hoặc
những xí nghiệp chế biến thành phẩm ngoài ra họ cũng có tài chính để làm các
chiến dịch quảng cáo. Tuy nhiên, những nhà xuất khẩu có kinh nghiệm và chuyên
nghiệp ở các nước đang phát triển ( trong đó có việt nam) có thể làm việc trực tiếp
Sản phẩm bán nhạy cảm; và
Sản phẩm không nhạy cảm.
Nhìn chung, thuế suất thấp sẽ được áp dụng cho những sản phẩm không sản
xuất tại EU. Thuế suất cao hơn phải áp dụng cho các sản phẩm như cá tuyết, cá
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cá tra khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long sang thị trường Eu
Trang 17
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
trích, cá thu, cá bơn, cá bơn hoa, cá pollack Alaska và surimi. Thuế suất đối với sản
phẩm này cũng phụ thuộc vào mùa và giai đoạn chế biến.
Hạn ngạch:
Đối với các sản phẩm cá nhập khẩu không có hạn ngạch, tuy nhiên
đối với một số loại sản phẩm, một số loại thuế được áp dụng tình cờ trong năm.
Khoản thuế tình cờ xác định khối lượng sản phẩm có thể được nhập khẩu với thuế
suất đặc biệt nếu giá trị hải quan tối thiểu bằng giá tham khảo. Trong thời điểm mà
tổng nhập khẩu sản phẩm trên toàn EU vượt quá nhu cần thì thuế suất chung sẽ
được thiết lập lại. Các loại thuế tình cờ được EU áp dụng mỗi năm cho các sản
phẩm như cá chình, cá trích, cá đỏ, pollack Alaska, cá tuyết, cá efin, cá meluc, các
loại cá sardine được bảo tồn, các loại cá ngừ, cá thu được bảo tồn.
Hệ thống giá tham khảo
EU ban hành các giá tham khảo cho một số các sản phẩm cá có lựa chọn
nhằm điều chỉnh giá thực. Giá tham khảo không có giá trị bắt buộc và các quốc gia
thứ 3 được phép nhập khẩu dưới giá tham khảo. Giá tham khảo có thể hoạt động
như một hình thức bảo vệ thị trường EU, nếu nó được Ủy ban Châu Âu coi là cần
thiết. Khi khối lượng cá lớn nhập khẩu thấp hơn giá tham khảo, EU sẽ đặt ra các
mức giá tham khảo như một mức giá nhập khẩu tối thiểu. Tuy nhiên do bị ràng buộc
bởi WTO, hệ thống giá này được sử dụng rất giới hạn.
Giấy phép nhập khẩu
Không có giấy phép nhập khẩu đối với các sản phẩm cá khi nhập khẩu vào
đóng gói, vận chuyển, phân phối và kinh doanh thực phẩm. Các công ty buộc phải
hiểu về các nguy cơ xảy ra trong tất cả các giai đoạn sản xuất thực phẩm, từ nuôi
trồng, chế biến, sản xuất và phân phối, cho tới khi tiêu dùng. Điều này bao gồm vĩ
sinh học (sâu bọ), vi sinh học (vi trùng, vi khuẩn, mấm mốc), các chất độc hại (các
hóa chất với thuốc trừ sâu), hoặc các rủi ro vật lý khác (gỗ, kim loại, thủy tinh, nhựa
và vải). Quy định HACCP cũng quan trọng đối với các nhà xuất khẩu cá từ các
quốc gia đang phát triển do trách nhiệm tuân thủ theo hệ thống được kéo dài xuyên
suốt quá trình sản xuất. Đối với cá, các khía cạnh cần quan tâm là nhiệt độ và các
vật ký sinh. Đối với tiêu chuẩn an toàn cho người sử dụng: Ký mã hiệu trở nên quan
trọng trong việc lưu thông hàng hóa trên thị trường EU. Các sản phẩm có liên quan
tới sức khoẻ của người tiêu dùng phải có ký mã hiệu theo qui định của EU. Ví dụ
những lô hàng xuất vào EU phải có mã lô trên bao bì để thuận tiện cho truy xuất
nguồn gốc của lô hàng đó
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cá tra khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long sang thị trường Eu
Trang 19
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Đối với tiêu chuẩn bảo vệ môi trường: Thị trường EU yêu cầu hàng hóa có
liên quan đến môi trường phải dán nhãn theo qui định (nhãn sinh thái, nhãn tái sinh)
và có chứng chỉ được quốc tế công nhận. Ví dụ, tiêu chuẩn GAP (Good agricultural
Practice) và các nhãn hiệu sinh thái (Ecolabels) đang ngày càng được phổ biến,
chứng tỏ các cấp độ khác nhau về môi trường tốt. Ngoài ra, các công ty phải tuân
thủ hệ thống quản lý môi trường (các tiêu chuẩn ISO14000) và các bộ luật mang
tính xã hội về đạo đức. Tiêu chuẩn The Social Accountability 8000 sẽ càng trở nên
quan trọng trong những năm tới.
Đối với tiêu chuẩn về lao động: Uỷ ban Châu Âu (EC) đình chỉ hoạt động
của các xí nghiệp sản xuất nội địa ngay khi phát hiện ra những xí nghiệp này sử
dụng lao động cưỡng bức và cấm nhập khẩu những hàng hóa mà quá trình sản xuất
sử dụng bất kỳ một hình thức lao động cưỡng bức nào như lao động tù nhân, lao
đang phát triển được hưởng GSP. Bởi vậy, yếu tố có tính quyết định là hàng của các
nước này có thâm nhập được vào thị trường EU hay không chính là hàng hóa đó có
vượt qua được rào cản kỹ thuật của EU hay không?
Kết luận rút ra khi nghiên cứu về thị trường thủy sản EU:
- EU nhập khẩu thủy sản lớn nhất Việt Nam.
- Nhu cầu thủy sản của người tiêu dùng EU cao và có xu hướng tăng.
- EU không đặt ra nhiều rào cản về bảo hộ mậu dịch mà họ sử dụng rào cản
kỹ thuật, đòi hỏi đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm gắt gao.
- Rất nhiều đối thủ cạnh tranh trên thị trường này.
- Nhập khẩu thủy sản của EU không ngừng tăng trong các năm qua do các
nước thành viên EU đưa ra nhiều biện pháp nhằm giảm khai thác thủy sản do nguồn
lợi thủy sản của EU đang cạn kiệt dần.
1.5 KINH NGHIỆM NUÔI TRỒNG VÀ XUẤT KHẨU CÁ MỘT SỐ NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI VÀO EU:
Ấn Độ và Thái Lan là hai nước xuất khẩu cá nước ngọt lớn vào Eu. Nghiên
cứu kinh nghiệm nuôi trồng của họ để rút ra những bài học quí báo cho Việt Nam.
Tùy theo bối cảnh phát triển cụ thể của đất nước, các quốc gia khác nhau có
thể áp dụng các biện pháp và các ưu tiên khác nhau. Mặc dù có những điểm khác
biệt, nhưng mọi nỗ lực của các quốc gia đều hướng tới phát triển khoa học công
nghệ, giảm thiểu các tác động tiêu cực về môi trường, kinh tế xã hội, nâng cao hiệu
quả kinh tế và khả năng cạnh tranh của ngành nuôi cá, vừa để đáp ứng các yêu cầu
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cá tra khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long sang thị trường Eu
Trang 21
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
của người tiêu dùng và tăng cường mở rộng thị trường tiêu thụ, vừa bảo vệ được
môi trường và không có tác động tiêu cực đến kinh tế và xã hội. Có thể khái quát
tóm tắt các nỗ lực định hướng phát triển nuôi cá bền vững ở các quốc gia châu Á
như Ấn Độ, Bănglađét, Thái Lan và Việt Nam như sau:
Bài học 2: Áp dụng các quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm
(CoC), thực tiễn quản lý tốt (BMP), thực tiễn nuôi trồng cá tốt (GAP)
Việc thông qua quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm năm 1995 phản ảnh
mối quan tâm của các quốc gia đối với phát triển thủy sản bền vững. Năm 1998,
Chính phủ Thái Lan đã phê chuẩn và thử nghiệm áp dụng Quy tắc Nuôi trồng Thủy
sản có trách nhiệm của tổ chức FAO (CoC). Chính phủ Ấn Độ cũng đã ban hành
những chính sách, đạo luật điều chỉnh hoạt động cung cấp giống, cấm sử dụng
kháng sinh, thúc đẩy các hình thức thực hành quản lý tốt (BMP) và quản lý nuôi
trồng tốt (GAP. Ở Thái Lan, việc áp dụng chương trình CoC trong sản xuất giống
cho kết quả khả quan vì giá cá giống theo chương trình CoC tuy cao hơn so với giá
cá giống khác, nhưng người dân được đảm bảo về chất lượng cá giống. Đối với khu
vực nuôi cá thương phẩm, người tiêu dùng vẫn chưa nhận thức được sự khác biệt
giữa cá nuôi theo các hình thức CoC, BMP hoặc GAP với cá nuôi theo các hình
thức quản lý thông thường khác. Mặc dù vậy, các mối quan tâm về an toàn vệ sinh
thực phẩm của chính phủ và người tiêu dùng cũng đã dần có tác dụng nâng giá các
sản phẩm cá áp dụng theo các quy trình trên. Việc áp dụng các quy trình CoC,
BMP, GAP phản ảnh quan tâm của bên sản xuất đến các vấn đề tác động môi
trường, tác động kinh tế xã hội của nghề cá. Hiện nay CoC, BMP và GAP vẫn chưa
được phổ biến rộng rãi vì nó xuất phát từ các quan điểm cải tiến kỹ thuật công nghệ,
chưa gắn với các tín hiệu của thị trường. Với người sản xuất áp dụng BMP, GAP
hoặc CoC nghĩa là phải tăng thêm chi phí sản xuất, do đó họ chỉ thực sự áp dụng
khi có yêu cầu bắt buộc từ phía thị trường hoặc yêu cầu của Chính phủ. Các quốc
gia đều có hệ thống khuôn khổ pháp luật, quy tắc điều chỉnh hoạt động thủy sản,
trong đó có nuôi cá. Việc áp dụng CoC, BMP thực chất là bước điều chỉnh hệ thống
luật pháp, quy tắc quản lý để phù hợp với quy tắc nghề cá có trách nhiệm. Quy tắc
CoC là văn bản có tính chất gợi ý, vì vậy tiến độ áp dụng chậm. Trong những năm
gần đây, vấn đề chất lượng sản phẩm đã trở thành rào cản chủ yếu đối với sản xuất
ở các nước Châu Á. Rất nhiều lô hàng xuất khẩu đã bị trả lại hoặc bị tiêu huỷ gây
thiệt hại lớn cho ngành nuôi cá ở các nước nhập khẩu. Chính phủ các nước sản xuất
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
đảm bảo phát triển nuôi cá bền vững, nhưng quan điểm của GAA là cần phải có một
bên thứ 3 đứng ra làm nhiệm vụ chứng nhận. Chứng nhận chất lượng sản phẩm
(SoQ) là một con dao hai lưỡi, nếu làm tốt nó sẽ giúp cho ngành nuôi cá ở các nước
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cá tra khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long sang thị trường Eu
Trang 24
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
phát triển duy trì và tiếp cận với thị trường, nhưng nếu triển khai không tốt sẽ gia
tăng chi phí sản xuất và thậm chí loại bỏ những người sản xuất quy mô nhỏ ở các
nước nghèo ra khỏi ngành kinh tế này.
Bài học 4: Duy trì và ổn định nguồn cung cấp nguyên liệu cho
chế biến hàng xuất khẩu
Có thể nói trong định hướng phát triển nuôi cá bề vững, các vấn đề
khoa học công nghệ thường được ưu tiên giải quyết trước. Trong khi các nước đi
sau xem phát triển khoa học công nghệ là ưu tiên thì những nước đi trước như Thái
Lan đã giải quyết phần lớn các vần đề kỹ thuật, đã tập trung vào vấn đề quản lý,
tăng cường sự tham gia của các bên liên quan và cộng đồng vào quản lý nuôi cá.
Nhờ làm tốt công tác qui hoạch, diện tích nuôi cá của Thái Lan đã được con số
khống chế ở mức ổn định trong 5 năm qua.
Bài học 5: Sự can thiệp của chính phủ
Đây cũng là một đặc trưng để định hướng phát triển nuôi cá bền vững. Can
thiệp của Chính phủ vào phát triển nuôi cá được triển khai theo từng mức độ khác
nhau, tuỳ thuộc vào cơ cấu tổ chức thể chế của quốc gia và mức độ của vấn đề đang
được chính phủ quan tâm.
Ví dụ, năm 1996, toà án tối cao, Chính Phủ Thái Lan đã có một quyết định
khá cực đoan là cấm phát triển nuôi cá thâm canh trên diện rộng nhằm phản ứng lại
các tác động về môi trường và kinh tế xã hội do nuôi cá thâm canh quy mô lớn gây
ra. Chính phủ các nước nhập khẩu cũng can thiệp vào ngành nuôi cá trên phương
diện an toàn thực phẩm.
Bài học 6: Kiểm soát chặt chẽ về chất lượng và an toàn vệ sinh
thực phẩm của các nhà máy chế biến
Mọi hoạt động liên quan đến thủy sản ở Thái Lan đều chịu sự quản lý của
tổng cục nghề cá (DOF). DOF luôn duy trì sự kiểm soát chặt chẻ các nhà máy chế
biến. Thái Lan hiện nay có 218 nhà máy đông lạnh. Tất cả các nhà máy đều áp dụng
chương trình HACCP và được kiểm tra thường xuyên nhằm đảm bảo chất lượng sản
phẩm, an toàn thực phẩm và tuân thủ tiêu chuẩn của DOF. Với 22 phòng thí
nghiệm, DOF cung cấp dịch vụ phân tích và chứng nhận y tế cho sản phẩm xuất
nhập khẩu. DOF cũng tiến hành các chương trình giám sát dư lượng thuốc, chất gây
ô nhiễm môi trường, độc tố sinh học và mầm bệnh. Do đó việc cần kiểm soát chặt
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu cá tra khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long sang thị trường Eu