LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với xu hướng phát triển chung của toàn xã hội, hoạt
động đầu tư trở thành một nhân tố không thể thiếu cho sản xuất,
cho việc gia tăng nguồn lực của nền kinh tế. Đó chính là một trong
những công cụ quan trọng nhất đảm bảo cho sự tăng trưởng và
phát triển của một quốc gia.
Kinh tế Việt Nam từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao
cấp cực kì trì trệ, luôn nằm trong vòng luẩn quẩn của sự thiếu vốn trầm
trọng,hiệu quả sử dụng vốn cực thấp, tốc độ tăng trưởng không đáng
kể.Từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, nền kinh tế dưới sự tác động của
cơ chế thị trường đã và đang tạo ra những biến động sâu sắc. Vấn đề
vốn và sử dụng vốn mọi lúc mọi nơi đều là mối quan tâm hàng đầu
không chỉ của nhà nước mà còn là của tất cả các thành phần của nền
kinh tế. Hoạt động đầu tư từ khi đổi mới đã từng bước đạt được những
kết quả đáng mừng và một tương lai đầy hứa hẹn.
Làm sao để hoạt động đầu tư của chúng ta đi đúng hướngvà đạt
được hiệu quả tốt nhất có thể? Đó là mong muốn không của chỉ riêng ai.
Để phân tích tác động của đàu tư, đứng dưới góc nhìn của từng doanh
nghiệp, theo cơ cấu tái sản xuất ,đầu tư được chia thành đầu tư theo
chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu. Nghiên cứu hai hình thức này
mang một ý nghĩa chiến lược quan trọng, giúp các doanh nghiệp tìm
được cho mình một đường đi đúng đắn. Một doanh nghiệp muốn đứng
vữngvà phát triển trên thị trường phải nhận thức được vai trò quan
trọng của mối quan hệ mật thiết giữa hai hình thức đó.
Vậy bản chất của đầu tư theo chiều rộng, đầu tư theo chiều sâu
là gì? mối quan hệ giữa hai hình thức này ra sao? Vai trò của nó trong
sự phát triển của doanh nghiệp? thực trạng của vấn đề này trong các
doanh nghiệp của chúng ta như thế nào? giải pháp gì để đầu tư theo
chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu có hiệu quả nhất? Chúng ta sẽ cùng
nghiên cứu những vấn đề đó để có được một cách nhìn sát thực và cụ
thể hơn.
tầng theo thiết kế được phê chuẩn lần đầu tiên. Các nhà cửa,cấu
trúc hạ tầng này là các TSCĐ trước đây chưa có trong bảng cân
đối TSCĐ của ngành, của doanh nghiệp.Như vậy ,lượng tài sản
vật chất đã được tăng thêm, tham gia vào quá trình sản xuất kinh
doanh, tuy vậy tính kĩ thụât của công trình, tài sản đó vẫn dựa trên
những thiết kế có sẵn, chưa được cải tạo và hiện đại hoá.
Thứ hai, đầu tư theo chiều rộng còn là hoạt động mua sắm
máy móc thiết bị để đổi mới thay thế cho những máy móc thiết bị
cũ theo một dây chuyền công nghệ đã có từ trước. Đây cũng có thể
là mua sắm từ đầu, tức lúc bắt đầu sản xuất kinh doanh, hoặc cũng
có thể là mua sắm sau một thời gian hoạt động để thay thế một
phần hoặc cả dây chuyền những máy móc thiết bị đã cũ.
2.3.Đặc điểm: Đầu tư theo chiều rộng có những đặc điểm
như sau:
• Lượng vốn sử dụng lớn và khê đọng lâu: Vốn lớn vì đầu
tư theo chiều rộng thường là để mở rộng qui mô, do đó
lượng máy móc thiết bị ,nhà cửa…thường rất lơn,đòi hỏi
một lương vốn lớn tương ứng để chi trả. Bên cạnh đó ,
4
những tài sản này có thời gian khấu hao là rất dài, do vậy
lượng vốn bỏ ra bị khê đọng lâu.
• Thời gian thực hiện đầu tư và thời gian thu hồi vốn
lâu:đầu tư theo chiều rộng là đầu tư mang tính chất lâu
dài, có khi hàng chục năm mới thu lại được vốn.
• Tính chất kĩ thuật phức tạp,độ mạo hiểm cao:một hoạt
động đầu tư theo chiều rộng thường được thực hiện ở
nhiều khâu, làm cho cơ sở vật chất cũng như qui trình
công nghệ sản xuất, do vậy để cho nó được đồng bộ đòi
hỏi những kĩ thuật phức tạp. Kĩ thuật phức tạp cộng với
thời gian thực hiện lâu khiến cho hoạt động đầu tư này
Duy trì năng lực đã có là việc thực hiện những biện pháp nhằm bù đắp
những TSCĐ đã bị oại bỏ do hao mòn toàn bộ hoặc hư hại hoàn toàn.
3.2.Nội dung:
Thứ nhất,đó là cải tạo,nâng cấp,đồng bộ hoá,hiện đại hoá dây chuyền
hiện có,thay thế dây chuyền công nghệ cũ.Hoạt động này được thực hiện sau
một quá trình sản xuất kinh doanh,khi mà thiết bị máy móc đã cũ,làm năng
suất giảm sút.Nhờ vậy mà năng suất được nâng cao,có thể gấp rất nhiều lần
qui trình sản xuất cũ,máy móc thiết bị mang hàm lượng công nghệ cao
hơn,hiệu quả hơn .
6
Thứ hai,đó còn là hoạt động phát triển nguồn nhân lực và đầu tư để tổ
chức lại bộ máy quản lí,phương pháp quản lí của doanh nghiệp.Đầu tư theo
chiều sâu mang nặng mặt “chất”,làm sao để có sản xuát có hiệu quả
hơn,năng suát cao hơn,do vậy mà đầu tư phát triển nguồn nhân lực,bộ máy
quản lí cũng là tất yếu,bởi vì chất lượng nguồn nhân lực hiệu quả của bộ
máy quản lí là một nhân tố hết sức quan trọng quyết định cho kết quả sản
xuất kinh doanh.
Thứ ba,đầu tư theo chiều sâu còn bao gồm nội dung đầu tư vào khâu
thiết yếu nhất của dây chuyền công nghệ.Không cần thay thế cả dây
chuyền mà chỉ cần hiện đại hoá những máy móc thiết yếu.
3.3.Đặc điểm:
• Trong đâù tư theo chiều sâu khối lượng vốn sử dụng ít
hơn,thời gian thực hiện ít hơn và độ mạo hiểm thấp hơn
so với đàu tư theo chiều rộng.Vì không phải đầu tư mua
sắm từ đầu mà chủ yếu là nâng cấp cải tạo,lương máy
móc thiết bị nhà xưởng ít hơn do vậy lượng vốn bỏ ra
thường ít hơn.Đồng thời vì được hiện đại hoá,đồng bộ
hoá mà sản xuất mang xác suất thành công là cao,do vậy
mà rủi ro ít hơn so với đầu tư theo chiều rộng.
• Tốc độ tăng vốn lớn hơn tốc độ tăng về lao động.Do tính
phẩm và doanh nghiệp, tạo đà cho một sự phát triển ổn định lâu dài.
Chúng gắn kết bổ sung cho nhau để cùng đưa ra các giải pháp kỹ
thuật tiên tiến phù hợp với trình độ của doanh nghiệp, với yêu cầu mà thực
tế sản xuất đặt ra, đưa doanh nghiệp đạt công súât cao nhất có thể và đem laị
lợi ích tối đa.
Doanh nghiệp phải biết được lúc nào cần đầu tư theo chiều rộng, lúc
nào cần đầu tư theo chiều sâu, lúc nào cần phải kết hợp cả hai hình thức?
Phải biết kết hợp chúng một cách khoa học hợp lí, sao cho chúng hỗ trợ lẫn
nhau cùng có hiệu quả, đem lại lợi ích vững chắc, lâu dài và cao nhất cho
doanh nghiệp.
4.2.Đầu tư theo chiều rộng là cơ sở nền tảng để đầu tư theo chiều
sâu có hiệu quả.
Mọi doanh nghiệp hình thành và hoạt động đều phải bắt đầu từ đầu tư
theo chiều rộng:xây dựng trụ sở ,nhà xưởng; mua sắm máy móc thiết bị …
Đấy là những nền tảng ban đầu không thể thiếu và cũng hết sức quan
trọng .Trong giai đoạn đầu này doanh nghiệp áp dụng đầu tư theo chiều
rộng là chủ yếu.Thường thì họ sẽ cố gắng sử dụng những máy móc dây
chuyền công nghệ mà ở thời điểm đó được xem là hiện đại, hoặc cũng có thể
là hiện đại nhất.Nếu được như thế thì doanh nghiệp sẽ có không những lợi
thế trong sản xuất kinh doanh mà còn tạo điều kiện cho sau này đầu tư theo
chiều sâu được thuận lợi.
Khi sản xuất kinh doanh có sự ổn định, cần phải đầu tư tiếp để
hoàn thiện bộ máy sản xuất để đạt được năng suất cao nhất trong
điều kiện có thể.Muốn vậy phải áp dụng khoa học tiên tiến,thay thế
9
dây chuyền công nghệ cũ, nhất là khi mà năng suất đang có chiều
hướng giảm sút và thua kém nhiều so với các doanh nghiệp khác
trong ngành.
Đến lúc này mới có thể thấy hết tầm quan trọng của việc đầu
tư theo chiều rộng ban đầu, nếu như cơ sở hạ tầng ban đầu được đầu
vấn đề,làm cho những máy móc thiết bị hiện đại cũng không phát huy
hết năng suất.Đầu tư theo chiều sâu không hiệu quả thí hoạt động sản
xuất kinh doanh có thể đi từ thua lỗ đến thất bại hoàn toàn,lúc đó
không những không kiếm được lợi nhuận cao hơn,không mơ rộng
được quy mô nữa mà có thể tất cả những gì đã đầu tư sẽ trở nên vô
hiệu quả.
PHẦN II: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ CHIỀU RỘNG VÀ CHIỀU
SÂU TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Từ giữa thập kỷ 80 trở lại trước, nền kinh tế của nước ta mang tính bao cấp,
kế hoach hóa tập trung. Nước ta chỉ chú trọng đến đầu tư phục vụ nhu cầu
hàng hóa trong nước, hàng hóa chưa phong phú đa dạng và chất lượng cũng
không được chú trọng. Vì vậy hoạt động xuất khẩu còn kém, chủ yếu chỉ
hướng nội, chưa hướng ngoại. Hiện nay, do xu thế quốc tế hóa và toàn cầu
hóa, chúng ta đã có những thay đổi về chính sách và hoạt động đầu tư đã có
nhiều biến đổi. Số lượng các doanh nghiệp ở Việt Nam tăng lên tăng lên cả
về quy mô vốn và lao động. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng. Tổng
doanh thu cả nước tăng. Tuy nhiên năng lực cạnh tranh của ta còn kém, chủ
yếu là do sự yếu kém về đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam.
11
Các ngành chỉ chú ý đến phát triển theo chiều rộng, chưa chú trọng đầu tư
phát triển chiều sâu. Những doanh nghiệp có khả năng kết hợp đầu tư cả về
chiều rộng và chiều sâu là rất ít
I/ ĐẦU TƯ THEO CHIỀU RỘNG:
Trước thời kỳ đổi mới, do tư tưởng chủ quan duy ý chí, chỉ chú trọng vào
các ngành công nghiệp nặng, ở nước ta đã diễn ra tình trạng đầu tư dàn trải,
thiếu đồng bộ vào những ngành này. Thời kỳ này hiệu quả đầu tư rất kém,
nền kinh tế lâm vào trạng thái trì trệ. Sau khi thực hiện đổi mới, với việc
thay đổi cơ chế chính sách, hoạt động đầu tư ở Việt Nam đã có sự chuyển
biến. Đầu tư ở giai đoạn nay chủ yếu là đầu tư chiều rộng, tuy nhiên hiệu
quả của loại hình này vẫn rất hạn chế.
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
5531
32702
3187
18226
10489
800
1529
5067
43996
3614
22554
16189
1636
1997
5033
55555
4112
24818
23587
3038
2304
2. Phân theo ngành kinh tế
- Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản
- Công nghiệp
- Xây dựng
- Thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng
891
10946
3894
hàng năm cũng tăng lên đối với tất cả các thành phần kinh tế.
Quy mô vốn đầu tư được thể hiện qua bảng sau:
Đơn vị: tỷ đồng
Năm Tổng số
Thành phần kinh tế
Kinh tế nhà nớc
Ngoài quốc
doanh
Kinh tế có vốn
đầu tư nước
ngoàI
2001 163,543 95,020 38,512 30,011
2002 183,800 103,300 46,500 34,000
2003 .217,585 123,000 58,125 36,460
Lượng vốn đầu tư tăng, nhưng tính bình quân lại giảm. Tại thời điểm
1/1/2003, bình quân 1 doanh nghiệp chỉ có 72 lao động và 20 tỷ đồng tiền
14
vốn, so với năm 2000 số lao động là 86 người và vốn là 23 tỷ đồng. Như vậy
xu hướng quy mô nhỏ ngày càng tăng, chủ yếu là do doanh nghiệp tư nhân
tăng nhiều, trong đó gồm phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ.Do phần
lớn doanh nghiệp có mức vốn thấp (85% doanh nghiệp có số vốn dưới 10 tỷ
đồng) nên ngay từ đầu việc trang bị kỹ thuật, công nghệ đã rất hạn chế, mức
độ trang bị tàI sản cố định cho một lao động ở mức rất thấp, bình quân 108
triệu đồng/1 lao động, trong đó cao nhất là khu vực doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoàI là 247,4 triệu đồng/1 lao động; khu vực doanh nghiệp Nhà
nước 117 triệu đồng/ 1 lao động (bằng 47% mức trang bị của doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoàI), thấp nhất là doanh nghiệp ngoàI quốc doanh 42,8
triệu đồng/1 lao động (chỉ bằng 17% của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoàI, và bằng 26,5% doanh nghiệp Nhà nước).
Trong thực tế có nhiều doanh nghiệp ở nước ta do liên kết sáp nhập đã
dụng được lợi thế so sánh. Sự phối hợp giữa các khu công nghiệp còn rất
yếu, thường phát triển riêng rẽ, đầu tư tất cả các hạng mục công trình, kể cả
xây dựng các cụm dân cư, vốn đọng trong kết cấu hạ tầng lâu và lớn, dẫn
đến đầu tư tốn kém, không hiệu quả. Nhiều khu công nghiệp xây dựng xong
nhiều năm mà chưa có khách đến thuê. Các khu công nghiệp chưa có sự sắp
xếp hợp lí về quy mô, ngành nghề, công nghệ, đặc biệt là các ngành sản xuất
tư liệu sản xuất, các ngành công nghiệp nặng, các ngành có hàm lượng khoa
học và vốn cao chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư.
Đầu tư theo chiều rộng có vai trò quan trọng trong việc phát triển sản
xuất. Tuy nhiên, các doanh nghiệp hiện nay, với quy mô vốn ít nên khó có
thể tiến hành đầu tư triệt để. Mặt khác việc đầu tư dàn trải, không có quy
16
hoạch cụ thể, không xác định đầu tư trọng tâm, trọng điểm lại dẫn đến tình
trạng lãng phí, hiệu quả đầu tư rất kém.
Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đã có những bước phát triển khá
nhanh và toàn diện. Nông nghiệp không những đảm bảo được an toàn lương
thực- thực phẩm trong nước mà còn cung cấp nông sản phục vụ cho xuất
khẩu với số lượng lớn, chất lượng ngày càng tăng. Những thành tựu to lớn
và quan trọng của nông nghiệp và nông thôn những năm qua một mặt do tác
động tích cực của cơ chế và chính sách đổi mới của Đảng, mặt khác có vai
trò quyết định là nguồn vốn đầu tư của nhà nước dành cho nông nghiệp,
nông thôn ngày càng tăng. Từ năm 1991-2000, vốn đầu tư phát triển nông
nghiệp- nông thôn ước tính đạt 65,2 nghìn tỷ đồng, tương đương 5,9 tỷ
USD, chiếm khoảng 10,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Trong những năm
gần đây đã có sự tập trung cao hơn cho đầu tư phát triển nông nghiệp- nông
thôn. Nguồn vốn ngân sách đã tăng đáng kể cho khu vực sản xuất này. Vốn
đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước dành cho nông nghiệp- nông
thôn năm 1996 đạt 2882,4 tỷ đồng, chiếm 10% tổng vốn đầu tư toàn xã hội,
đến 1998 số vốn này đã chiếm 15,3% tổng vốn đầu tư. Lượng vốn này chủ
yếu được dành cho việc xây dựng và nâng cấp các công trình thuỷ lợi để tạo
điện, trạm y tế, bệnh viện, hệ thống nước sạch…với nhiều mô hìng và mức
độ khác nhau.
Nguồn vốn nước ngoài cũng có vai trò quan trọng trong phát triển
nông nghiệp- nông thôn. Nguồn vốn này chủ yếu tập trung vào trồng và chế
biến cà phê, cao su, chè, mía đường, mì chính, gạo, chăn nuôi gia súc, gia
cầm theo phương pháp công nghiệp, đồng thời nâng cấp cơ sở hạ tầng nông
thôn.
18
Bên cạnh những thành quả đã đạt được, vẫn còn tồn tại những vấn đề
sau: Vốn đầu tư mặc dù có tăng nhưng lại tiến hành đầu tư dàn trải, phân
tán, không tập trung vào những vùng trọng điểm và các công trình quan
trọng. Hiệu quả đồng vốn còn rất thấp nhất là đối với các dự án xoá đói giảm
nghèo, tốc độ phủ xanh đất trống, đồi núi trọc còn chậm…
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đât nước, chúng ta phải
chú trong đến việc đầu tư theo chiều rộng. Tuy nhiên việc thực hiện phải
thích hợp, có xác định các ngành, lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm, nhưng
ngành mũi nhọn, để đạt được hiệu qủa đầu tư cao, đảm bảo sự tăng trưởng
kinh tế đạt được mục tiêu đã định.
II. ĐẦU TƯ THEO CHIỀU SÂU
Trong xu thế toàn cầu hoá, khoa học và công nghệ phát triển nhanh
chóng. Việc phát triển theo chiều sâu với năng suất, chất lượng và hiệu quả
cao nhằm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trở thanh chiến lược quan trọng
ở tất ca các nước.Đặc biệt đối với một nước đang phát triển như Việt Nam
hiên nay, muốn có sự bứt phá, rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển
trong khu vực và trên thế giới thì việc đầu tư theo chiều sâu càng có ý nghĩa
quyết định.Sau đây là một số thức trạng về việc đầu tư theo chiều sâu ở Việt
Nam thời gian qua.
1. CÔNG NGHỆ
Trong những năm qua, chúng ta đã tiến hành các hoạt dộng chuyển giao
công nghệ với nhiều hình thức khác nhau.Trình độ công nghệ tuy đã có sự
20
hoá-hiện đại hoá.Nếu kéo dài tình trạng này chúng ta sẽ ngày càng tụt xa
hơn và rất nhiều doanh nghiệp sẽ đứng trước nguy cơ không canh tranh nổi.
Theo một cuộc khảo sát hơn 7000 thiết bị, may móc và 3 dây chuyền sản
xuất tại 42 nhà máy thuộc các ngành công nghiệp cho thấy: 76% số máy mới
nhập thuộc thế hệ máy 1950-1960, hơn 70% số máy nhập khẩu đã hết khấu
hao, 505 số máy móc, thiết bị là đồ cũ tân tranh lại.
2. NGUỒN NHÂN LỰC:
Toàn cầu hóa là quá trình xã hội hóa ngày càng sâu sắc, sự phát triển
của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cùng với những mối quan hệ
biện chứng giữa hai yếu tố này ở quy mô toàn cầu. Quá trình toàn cầu hóa đã
thúc đẩy cuộc chạy đua phát triển nguồn nhân lực tại các quốc gia, khu vực
trên thế giới về khả năng cạnh tranh trên thị trường lao động trong nước và
thị trường lao động quốc tế.
Đối với nước ta, phát triển nguồn nhân lực để thực hiện công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước và tham gia tích cực vào phân công lao động
quốc tế, gia nhập các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới, thực hiện các Hiệp
định hợp tác kinh tế song phương đang là nhu cầu hết sức cấp bách, đòi hỏi
chất lượng nguồn nhân lực phải có những thay đổi mang tính đột phá, tăng
tốc. Lao động trí thức, có trình độ chuyên môn được coi là vốn nhân lực
đóng vai trò hàng đầu của sự phát triển kinh tế.
Nguồn nhân lực nước ta hiện nay phần lớn vẫn là lao động có trình độ
chuyên môn kỹ thuật thấp, chưa qua đào tạo (thể hiện ở bảng 1)
Bảng 1: Tỷ lệ lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật (tính đến 1/7/2002)
Đơn vị: % so LLLD
Lao động có chứng chỉ nghề
trở lên
CNKT có bằng trở lên
21