Biện pháp quản lý dạy học nhằm nâng cao kết quả học thực hành nghề tại Trường Trung cấp nghề Tuyên Quang - Pdf 82

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lĩnh vực đào tạo nghề ở nước ta đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt coi
trọng, nhất là trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn đẩy nhanh Công nghiệp hoá - Hiện
đại hoá (CNH - HĐH) đất nước. Sự nghiệp CNH - HĐH đòi hỏi một lực lượng lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, tiếp cận được với khoa học công nghệ
hiện đại. Chiến lược Giáo dục - đào tạo của Đảng và Nhà nước được đề ra theo
hướng mở rộng qui mô, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, tạo điều kiện thuận lợi
đáp ứng thiết thực cho hoạt động dạy nghề và học nghề của nhân dân.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII
xác định: Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng
đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Đồng thời nghị
quyết Trung ương 2 khoá VIII đã phân tích sâu sắc việc xác định những quan điểm,
định hướng, đề ra các mục tiêu và các giải pháp chiến lược nhằm phát triển công tác
đào tạo nghề trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010 đã cụ thể hoá mục tiêu
phát triển đối với dạy nghề trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH là: Đặc biệt quan
tâm nâng cao chất lượng dạy nghề gắn với nâng cao ý thức kỷ luật lao động và tác
phong lao động hiện đại. Gắn đào tạo nghề với nhu cầu sử dụng, việc làm trong quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế; chú trọng đào tạo công nhân kỹ thuật, kỹ thuật
viên, nhân viên nghiệp vụ trình độ cao; Luật giáo dục (2005) đã quy định đào tạo
nghề phải được thực hiện ở ba cấp trình độ: Sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao
đẳng nghề; tạo sự cạnh tranh trên thị trường trong nước, khu vực và quốc tế. Luật
dạy nghề (2006) đã qui định chi tiết về các hoạt động dạy nghề.
Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XIV chỉ rõ:
Thực hiện có hiệu quả đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục ở tất
cả các cấp học, bậc học, cân đối giữa phát triển giáo dục phổ thông và giáo dục
nghề nghiệp; Tiếp tục thực hiện chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban bí

kết quả học thực hành nghề tại Trường Trung cấp nghề Tuyên Quang". Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản lý dạy học thực hành
nghề, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại Trường Trung cấp nghề Tuyên
Quang.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Vấn đề tổ chức dạy học thực hành nghề tại trường Trung cấp nghề Tuyên
Quang.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động quản lý dạy học thực hành tại Trường Trung cấp nghề Tuyên
Quang.
4. Giả thuyết khoa học
Trong công tác đao tạo nghề, chất lượng tay nghề của người tốt nghiệp phụ
thuộc vào nhiều yếu tố. Trong các yếu tố liên quan, các biện pháp quản lý hoạt động
dạy học thực hành nghề có tầm quan trọng đặc biệt. Do vậy, nếu hoàn thiện các biện
pháp quản lý hoạt động thực hành, có sự kiểm soát tốt khâu này, sẽ góp phần nâng
cao chất lượng đào tạo nghề, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến công tác dạy thực hành ở
trường dạy nghề.
5.2. Khảo sát đánh giá thực trạng công tác dạy học tại Trường Trung cấp
nghề Tuyên Quang.
5.3. Đề xuất một số biện pháp nâng cao kết quả học thực hành tại Trường
Trung cấp nghề Tuyên Quang.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Quản lý
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Từ khi xã hội loài người xuất hiện, con người đã có nhu cầu lao động tập thể
hình thành nên cộng đồng và xã hội, trong lao động có sự phân công, hợp tác lao
động. Chính sự phân công, hợp tác lao động này nhằm đạt hiệu quả nhiều hơn, năng
suất cao hơn trong công việc. Điều này đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều
hành, kiểm tra... tức là phải có người đứng đầu. Hoạt động quản lý được nảy sinh từ
nhu cầu đó. C.Mác viết: “Bất kỳ lao động nào có tính xã hội chung và trực tiếp,
được thực hiện với quy mô tương đối lớn đều ít nhiều cần đến sự quản lý... Một
nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc
trưởng” [4; 29, 30].
Như vậy, có thể nói hoạt động quản lý là tất yếu nảy sinh khi con người lao động
tập thể và tồn tại ở mọi loại hình tổ chức, mọi xã hội. Do đó, khái niệm quản lý được
nhiều tác giả đưa ra theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Chẳng hạn:
- Theo “Từ điển tiếng Việt”: “Quản lý là tổ chức và điều hành các hoạt động
theo những yêu cầu nhất định” [29; 789].
- Theo Harol Koontz: “Quản lý là hoạt động thiết yếu bảo đảm sự nỗ lực của
các cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức” [13; 31].
- Theo Aunapu F.F: “Quản lý là một hệ thống XHCN, là một khoa học và là
một nghệ thuật tác động vào một hệ thống xã hội, chủ yếu là quản lý con người
nhằm đạt được những mục tiêu xác định. Hệ thống đó vừa động, vừa ổn định bao

gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu
chung.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

12
1.1.2. Chức năng của hoạt động quản lý
Từ khái niệm trên, để chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm
thực hiện một mục tiêu nhất định trên cơ sở thực hiện các chức năng quản lý, đó là:
lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra.
Lập kế hoạch: Là chức năng cơ bản nhất trong số các chức năng quản lý
nhằm xác định rõ mục đích, mục tiêu đối với thành tựu tương lai của tổ chức và
những quy định, biện pháp, cách thức để đưa tổ chức đạt được những mục tiêu đó.
Nói cách khác, lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu, hệ thống các hoạt
động và các điều kiện đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đó.
Tổ chức: Là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành
viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức và xây dựng chức năng, nhiệm vụ quyền
hạn của từng bộ phận sao cho nhờ cấu trúc đó chủ thể quản lý tác động lên đối
tượng quản lý một cách có hiệu quả nhằm thực hiện được mục tiêu của kế hoạch.
Nói về sức mạnh của tổ chức, V.I.Lênin đã chỉ rõ: " Liệu một trăm có mạnh hơn
một nghìn không ? Có chứ ! Khi một trăm được tổ chức lại, tổ chức sẽ nhân sức
mạnh lên mười lần”.
Lãnh đạo: Khi kế hoạch đã được thiết lập, cơ cấu bộ máy đã được hình thành,
nhân sự đã được tuyển dụng và sắp xếp thì phải có người đứng ra lãnh đạo và dẫn dắt
tổ chức. Chỉ đạo là quá trình tác động đến con người để họ hoàn thành những nhiệm
vụ được phân công, đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Kiểm tra: Là một chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý. Lãnh đạo mà

-Theo nghiờn cu ca cỏc nh khoa hc, nhng nguyờn nhõn tht bi, phỏ
sn... ca cỏc doanh nghip, c quan, n v sn xut... thỡ nguyờn nhõn thuc v
qun lý chim 55%. Chớnh vỡ vy, khi t chc li b mỏy thỡ bin phỏp thay th
ngi qun lý thiu kh nng bng ngi qun lý cú nng lc v kh nng lónh o
tt l bin phỏp c s dng nhiu nht.
- Ngy nay, trong 5 nhõn t phỏt trin nn kinh t l: Ti nguyờn, vn, cụng
ngh, lao ng v cht xỏm qun lý thỡ cht xỏm qun lý c coi l yu t quan
Lập kế
hoạch

Kiểm tra

Lãnh đạo

Tổ chức
Hỡnh 1.1: Mi quan h ca cỏc chc nng trong quỏ trỡnh qun lý
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
trọng hàng đầu có vai trò quyết định sự tăng trưởng và phát triển của một tổ chức
kinh tế hay của đất nước.
- Quản lý là một nghệ thuật: Người quản lý phải phối hợp các nhân tố tài
nguyên, vốn, công nghệ, lao động và chất xám quản lý thành sức mạnh tổng hợp,
hạn chế mâu thuẫn tới mức thấp nhất, tranh thủ những mặt thuận lợi hướng tới mục
tiêu. Sắp xếp các nguồn lực của tổ chức, xử lý linh hoạt, sáng tạo các tình huống
trong hoạt động của tổ chức.
- Quản lý có tính khoa học: Trên cơ sở tích luỹ kiến thức, đúc kết kinh
nghiệm thực tế, khái quát hoá những tri thức đó thành những nguyên tắc, phương
pháp và kỹ năng quản lý cần thiết.
- Quản lý có tính công nghệ: Trong xã hội hiện đại, việc nghiên cứu, áp dụng

đến giảng dạy, giám sát, đánh giá, kiểm tra, cho điểm cùng các quy trình đánh giá
khác, các chính sách liên quan đến chuẩn mực và cấp bằng mà nhà trường đào tạo.
Quản lý đào tạo nghề là sự vận động của một hệ thống do nhiều yếu tố tạo
thành. Các yếu tố này được gọi là các yếu tố của quá trình đào tạo, mỗi yếu tố có
tính chất, đặc điểm riêng, giữa chúng có mối quan hệ qua lại với nhau. Các yếu tố
đó có quan hệ trực tiếp đến hoạt động cải biến nhân cách, bao gồm: Mục tiêu đào
tạo; nội dung đào tạo; phương pháp đào tạo; lực lượng đào tạo (đại diện là người
thầy); đối tượng đào tạo (đại diện là học trò); hình thức tổ chức đào tạo; điều kiện
đào tạo; môi trường đào tạo; quy chế đào tạo; bộ máy tổ chức đào tạo. Trong quá
trình đào tạo nghề, các yếu tố trên vận động, tương tác lẫn nhau, làm nảy sinh
những tình huống có vấn đề đòi hỏi được giải quyết kịp thời. Vì vậy, quản lý đào
tạo nghề chính là quá trình xử lý tình huống có vấn đề trong quá trình đào tạo để
nhà trường phát triển.
1.2.1 Mục tiêu quản lý đào tạo nghề
Mục tiêu quản lý là trạng thái được xác định trong tương lai của đối tượng
quản lý hay một số yếu tố cấu thành của nó. Nói một cách khác, mục tiêu quản lý là
những kết quả mà chủ thể quản lý dự kiến sẽ đạt do quá trình vận động của đối
tượng quản lý dưới sự điều khiển của chủ thể quản lý.
Như trên đã xác định, đối tượng của quản lý quá trình đào tạo là hoạt động
của thầy, hoạt động học của trò... quá trình đào tạo là một hệ thống bao gồm nhiều
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
yếu tố cùng vận động trong mối quan hệ mật thiết với nhau. Mục tiêu quản lý đào
tạo nghề là làm thế nào để đảm bảo thực hiện một cách đầy đủ các kế hoạch đào tạo
và các nội dung chương trình giảng dạy đúng tiến độ quy định với chất lượng cao.
1.2.2. Nguyên tắc quản lý đào tạo nghề
Quản lý đào tạo phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc giáo dục nói chung và
áp dụng các nguyên tắc đó vào quản lý đào tạo ở phạm vi trong một nhà trường.
Các nguyên tắc cơ bản cần thực hiện là: Thống nhất quản lý về chính trị; tập trung

ra. Để thực hiện được mục tiêu đã được trình bày ở trên, người học cần lĩnh hội một
hệ thống mục tiêu đào tạo.
Nội dung chương trình đào tạo cần được cụ thể hoá trong kế hoạch đào tạo,
chương trình giảng dạy và các tài liệu dạy học.
- Quản lý mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo: Quản lý mục tiêu, nội
dung chương trình đào tạo là quản lý việc xây dựng mục tiêu nội dung đào tạo, kế
hoạch đào tạo và nội dung chương trình giảng dạy, quản lý quá trình dạy học thực
tế của giáo viên, học sinh sao cho kế hoạch nội dung chương trình giảng dạy được
thực hiện đầy đủ đúng thời gian và nội dung quán triệt được các yêu cầu về mục
tiêu đào tạo.
b. Quản lý giáo viên và hoạt động của giáo viên
Quản lý giáo viên và quản lý việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy của đội ngũ
giáo viên, của từng giảng viên gồm:
Quản lý về cơ cấu, số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên, đánh giá các ưu
khuyết điểm, sự tiến bộ về các mặt chính trị tư tưởng, phẩm chất đạo đức, năng lực
chuyên môn của từng giáo viên.
Quản lý bồi dưỡng, đào tạo phát triển đội ngũ giáo viên…
Theo dõi chỉ đạo việc hoàn thiện các hồ sơ, sổ sách chuyên môn nghiệp vụ.
Theo dõi đôn đốc việc thực hiện kế hoạch và chương trình giảng dạy theo
thời khoá biểu.
Theo dõi đôn đốc việc thực hiện, đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ
giảng dạy, giáo dục của toàn thể đội ngũ giáo viên và của từng giáo viên.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
Theo dõi đôn đốc việc thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện việc học tập,
bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và phương pháp sư phạm của đội ngũ
giáo viên và của từng giáo viên.
Đánh giá các ưu, khuyết điểm sự tiến bộ các mặt về chính trị tư tưởng phẩm
chất đạo đức, năng lực chuyên môn của từng giáo viên.

Hệ thống các tri thức khoa học và công nghệ trong nội dung đào tạo nghề
nghiệp bao gồm các loại sau: Các tri thức về sự vật hiện tượng; Các tri thức về lý
luận; các tri thức về các quá trình công nghệ gia công, chế biến, xử lý để tạo ra các
sản phẩm vật chất hoặc tinh thần; các tri thức khác liên quan về môi trường lao
động; các tri thức hiểu biết về con người.
1.3.2 Kĩ năng
Từ điển tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, xuất bản năm 2002 định nghĩa: “Kỹ
năng là khả năng vận dụng những tri thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó
vào thực tế”.
Theo PGS.TS Trần Viết Sự: Tìm hiểu từ góc độ tâm lí học về dạy thực hành
sản xuất trong giáo dục nghề nghiệp. Thuật ngữ kĩ năng được hiểu là: ”Khả năng
của con người thực hiện công việc một cách có hiệu quả trong một thời gian thích
hợp, trong các điều kiện nhất định và dựa vào các tri thức, các kĩ xảo đã có”.(24-
172).
- Kĩ năng được hình thành trên cơ sở kiến thức và qua quá trình luyện tập.
- Kĩ năng chung cần cho mọi hoạt động nghề nghiệp bao gồm: Kĩ năng tổ
chức đạt kế hoạch lao động; Kĩ năng tự phân tích và kiểm tra hành động; kĩ năng tự
điều chỉnh hành động.
- Kĩ năng riêng biệt thường chỉ ở một số người và trong một số hoạt động
nhất định nào đó. Ví dụ kĩ năng hội hoạ ở người họa sĩ.
- Sự hình thành kĩ năng theo những qui luật nhất định. Một cách tương đối
người ta xác định 5 giai đoạn hình thành kĩ năng như sau:
+ Giai đoạn hình thành kĩ năng sơ bộ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

20
+ Giai đoạn hoạt động chưa khéo léo.
+ Giai đoạn hình thành các kĩ năng đơn lẻ chung cho các hoạt động.
+ Giai đoạn kĩ năng được phát triển cao.
+ Giai đoạn phát triển kĩ năng sáng tạo trong hoạt động.

chức nhận thức cho sinh viên và giúp họ học tập tốt.
- Mục đích của dạy: Điều khiển hoạt động học của học sinh.
- Chức năng của dạy: Dạy có chức năng kép, truyền đạt thông tin dạy và điều
khiển hoạt động học.
- Nội dung của dạy: Theo chương trình quy định.
- Phương pháp của dạy: Theo phương pháp nhà trường.
Hoạt động học:
- Học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học,
dưới sự điều khiển sư phạm của thầy.
Học là hoạt động có đối tượng, trong đó người học là chủ thể, khái niệm
khoa học là đối tượng để chiếm lĩnh.
Học về bản chất là sự tiếp thu, xử lý thông tin chủ yếu bằng các thao tác trí
tuệ dựa vào vốn sinh học và vốn đạt được của cá nhân, từ đó có được tri thức, kỹ
năng thái độ.
Mục đích của học: Chiếm lĩnh khái niệm khoa học có nghĩa là phải nắm
vững nghĩa, đào sâu ý chứa trong khái niệm, tái tạo khái niệm cho bản thân, thao tác
với nó, sử dụng nó như công cụ phương pháp để chiếm lĩnh khái niệm khác hoặc
đào sâu mở rộng thêm chính khái niệm đó ở trình độ lý thuyết cao hơn, biến nó từ
kho tàng văn hoá xã hội thành học vấn riêng của bản thân. Nếu chiếm lĩnh thành
công thì sẽ dẫn tới đồng thời ba mục đích bộ phận: Trí dục (nắm vững khái niệm),
phát triển (tư duy khái niệm), giáo dục (thái độ đạo đức).
Ba mục đích bộ phận này gắn bó hữu cơ với nhau, thâm nhập vào nhau, quy
định lẫn nhau, và tạo ra một hệ toàn vẹn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

22
- Chức năng của học: học có 2 chức năng thống nhất với nhau, lĩnh hội (tiếp
thu thông tin của thầy) và tự điều khiển quá trình chiếm lĩnh khái niệm khoa học
của mình (tự giác, tích cực, tự lực).
- Nội dung của học: Là toàn bộ hệ thống khái niệm của môn học, cấu trúc

ra từ học sinh hoặc từ các sản phẩm học tập của chúng. Nhờ những tín hiệu ngược
thầy đánh giá được kết quả học tập của học sinh một cách khách quan, uốn nắn
những lệch lạc, giúp đỡ học sinh vượt qua khó khăn. Mặt khác, nhờ tín hiệu ngược
ngoài thầy còn có thể phát hiện được thực trạng hoạt động của mình để tự đánh giá
kết quả giảng dạy của mình. Nhờ tín hiệu ngược trong học sinh, sinh viên có thể
phát hiện, tự đánh giá và tự điều chỉnh hoạt động của mình.
Hoạt động dạy và hoạt động học luôn gắn bó với nhau không tách rời nhau,
thống nhất biện chứng với nhau, tạo thành một hoạt động chung. Dạy điều khiển
học, học tuân thủ dạy. Dạy tốt dẫn đến việc học tốt, để học tốt thì phải dạy tốt. Vì
vậy phải thi đua hai tốt: “Dạy tốt, học tốt”.
1.4.2. Quản lý hoạt động dạy học ở trường trung cấp nghề
Đặc điểm hoạt động dạy học ở Trường Trung cấp nghề:
Hoạt động dạy học ở Trường Trung cấp nghề có những đặc điểm chung như
hoạt động dạy học ở các trường khác, tuy nhiên nó có những điểm khác biệt đặc
trưng do mục tiêu đào tạo của nhà trường đó là đào tạo đội ngũ công nhân với
nguyên lý và phương châm rèn luyện kỹ năng nghề là chính.
Điều 2 luật giáo dục đã nêu rõ: Mục tiêu giáo dục là đào tạo ra những con
người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức và nghề nghiệp trung
thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; Hình thành và bồi dưỡng
nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ
quốc”. Tính chất nền giáo dục là “nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục Xã hội
chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng”. Nguyên lý giáo dục là “Học đi đôi với hành,
giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà
trường kết hợp với gia đình, giáo dục xã hội”. “Nội dung giáo dục phải đảm bảo
tính cơ bản, toàn diện, hiện đại và có hệ thống…Phương pháp giáo dục phải phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học…”
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

24

25
Phương pháp dạy học chủ đạo ở các trường trung cấp phải là phát huy cao độ
tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo và năng lực tự học của học sinh Trong các
trường trung cấp nghề phương pháp dạy học vẫn lấy học sinh làm trung tâm, học
sinh có thể tham gia vào công việc tổ chức và tự tổ chức quá trình học tập và nghiên
cứu. Cạnh đó, để giúp cho việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo theo chuyên môn được
đào tạo, các phương pháp được sử dụng chủ yếu là các hình thức luyện tập theo
nguyên công, luyện thao tác, luyện tập quá trình lao động, các hệ thống luyện tập
như hệ thống luyện tập theo trình tự giản đơn - tăng tiến và hệ thống luyện tập theo
trình tự không đầy đủ với các hình thức hướng dẫn của giáo viên như toàn lớp, theo
nhóm, và cá nhân. Quá trình đào tạo kỹ thuật như vậy có thể diễn ra ở trường cũng
có thể diễn ra ở các xí nghiệp nên phương pháp dạy học cũng gắn bó với đặc điểm
từng nơi. Tuy nhiên với phương châm rèn luyện kỹ năng nghề là chính nên trong
công tác đào tạo nghề cần chú trọng phương pháp sử dụng trang thiết bị để không
xảy ra mất an toàn lao động, sử dụng đúng qui trình qui phạm, hiệu quả.
- Đặc điểm về người dạy:
Mục tiêu đào tạo của Nhà trường là đào tạo kỹ thuật viên bậc trung cấp, để
thực hiện mục tiêu đào tạo này đội ngũ giáo viên trong nhà trường vừa phải có năng
lực chuyên môn bao gồm kiến thức và năng lực thực tiễn (tay nghề), năng lực
phương pháp, năng lực quản lý, năng lực xã hội và năng lực sư phạm. Đối với giáo
viên dạy lý thuyết tối thiểu phải tốt nghiệp đại học và sau đại học, bên cạnh đó về
tay nghề các giáo viên dạy các môn cơ sở và công nghệ, chuyên môn phải có khả
năng xử lý các tình huống kỹ thuật có tay nghề cao và có kiến thức thực tiễn. Đối
với giáo viên hướng dẫn thực hành tối thiểu phải có tốt nghiệp cao đẳng, đại học
bên cạnh đó là giáo viên thực hành phải có tay nghề cao có kiến thức thực tiễn có
khả năng xử lý các tình huống kỹ thuật, có thể chỉ đạo sản xuất. Trong trường trung
cấp nghề đội ngũ giáo viên dạy thực hành sẽ có số lượng nhiều hơn đội ngũ giáo
viên lý thuyết.
Đội ngũ giáo viên được đào tạo cơ bản, vừa có trình độ chuyên môn sâu
rộng, vừa có tay nghề vừa có kinh nghiệm giảng dạy. Giáo viên ở trường trung cấp

được vào các trường đại học, cao đẳng do đó yếu tố tâm lý chán chường và chưa
chuẩn bị một cách đầy đủ về tâm lý bước vào học nghề cũng là một trở ngại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

27
Đối tượng thứ ba là các đối tượng người học đã trưởng thành về lứa tuổi họ
đều đã trên hai mươi tuổi, đã cơ bản hoàn thiện nhân cách và sức khoẻ, lý do học
nghề của các đối tượng này do muốn chuyển đổi nghề nghiệp, do chưa có công ăn
việc làm, là nông dân do mất đất khi bị Nhà nước thu hồi làm các khu công nghiệp,
là bộ đội sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự…Đặc điểm của đối tượng này là xác
định đúng mục đích và động cơ học tập, nghiêm túc trong học tập tuy nhiên do đã
lớn tuổi nên nhận thức bắt đầu hạn chế, khả năng tiếp thu công nghệ mới có khó
khăn hơn hai đối tượng trên nhưng về cơ bản dạy nghề cho các đối tượng này thuận
lợi vì họ đã có ý thức học, thực sự muốn học nghề.
- Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên ở Trường Trung cấp nghề:
Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên thực chất là quản lý việc thực
hiện các nhiệm vụ của đội ngũ giáo viên và của từng giáo viên. Giáo viên trong các
Trường Trung cấp nghề có nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục học sinh đồng thời họ phải
học tập, rèn luyện bồi dưỡng thường xuyên nâng cao trình độ về mọi mặt nhằm
nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giảng dạy, giáo dục của mình, giáo viên
vừa là khách thể quản lý vừa là chủ thể quản lý.
Hoạt động giảng dạy là một trong hai hoạt động trọng tâm của nhà trường
đồng thời là hoạt động chuyên môn quan trọng nhất do đội ngũ giáo viên thực hiện.
Hoạt động giảng dạy đòi hỏi đầu tư phần lớn thời gian, trong hoạt động của nhà
trường. Quản lý hoạt động giảng dạy nhằm đảm bảo cho giáo viên thực hiện đúng
quy chế, đúng kế hoạch và nội dung chương trình, đảm bảo chất lượng giảng dạy
của giáo viên. Công tác giảng dạy là yếu tố quyết định chất lượng nhận thức học
sinh, quyết định chất lượng đào tạo.
Quá trình giảng dạy của giáo viên gồm các khâu:
- Chuẩn bị giảng (đề cương bài giảng, giáo án, đồ dùng phương tiện).

học sinh nói chung và của từng học sinh.
Theo dõi, thúc đẩy khuyến khích học sinh phát huy các yếu tố tích cực, khắc
phục các yếu tố tiêu cực, phấn đấu vươn lên đạt kết quả học tập, rèn luyện ngày
càng cao.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

29
1.5. Quan hệ giữa quản lý và chất lượng đào tạo
1.5.1. Chất lượng và chất lượng đào tạo
Chất lượng luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi loại hình doanh nghiệp,
các hệ thống kinh tế xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo. Đối với các doanh
nghiệp chất lượng là chìa khoá và sự đảm bảo thắng lợi trong các cuộc cạnh tranh,
chiếm lĩnh thị trường.
Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo từ cuối những thập niên 80 các trường đại
học ở Mỹ và Anh quốc đã tiên phong đi đầu trong lĩnh vực chất lượng. Hiện nay
trên thế giới sự cạnh tranh diễn ra gay gắt không chỉ trong lĩnh vực sản xuất, kinh
doanh dịch vụ mà cả trong lĩnh vực giáo dục, trong thu hút người học và cung ứng
“sản phẩm” sau đào tạo trên thị trường xuất khẩu lao động quốc tế.
Không thể có một định nghĩa chính xác về chất lượng. Tuy nhiên có một số
quan niệm có thể đưa ra xem xét:
- Theo quan niệm của tổ chức kiểm tra chất lượng châu Âu cho rằng: chất
lượng của sản phẩm là mức độ mà sản phẩm ấy đáp ứng được nhu cầu của người sử
dụng.
- Theo J.Juran (Mỹ): Chất lượng là tiềm năng thoả mãn nhu cầu của thị
trường với chi phí thấp nhất.
- Theo ISO 8402-86: Chất lượng của sản phẩm là tổng thể những đặc điểm,
những đặc trưng của sản phẩm thể hiện được sự thoả mãn nhu cầu trong những điều
kiện tiêu dùng xác định và phù hợp với công cụ, tên gọi của sản phẩm.
- Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5814-94: Chất lượng là sự tập hợp các đặc tính
của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đối tượng có khả năng thoả mãn

+ Năng lực hành nghề.
+ Khả năng thích ứng với thị trường lao động. Năng lực nghiên cứu và khả
năng phát triển nghề nghiệp của người học sau khi tốt nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status