Luật và kinh tế học cho chính sách công - Pdf 82

Bài nghiên cứu tình huống này thuộc bản quyền của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright (FETP). FETP là
chương trình hợp tác giữa Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và Trường Quản lý Nhà nước John F.
Kennedy thuộc Đại học Harvard, được tài trợ chủ yếu bởi Vụ Giáo dục và Văn hóa thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.
Chương trình giảng dạy được thực hiện nhờ có sự tài trợ của tổ chứ
c The Atlantic Philanthropies. Tài liệu này chỉ dành
cho mục đích giảng dạy và thảo luận trên lớp.

Bài nghiên cứu tình huống này do các tác giả Bùi Văn, Nguyễn Ngọc Bích, Lâm Quỳnh Anh và Eli Mazur biên soạn .
Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright

Luật và kinh tế học cho chính sách công
nông nghiệp chế biến vào năm 2006.
1
Khi không còn các thuế nhập khẩu và các biện
pháp hạn chế định lượng này nữa, hàng nhập khẩu sẽ tràn ngập thị trường nội địa của Việt
Nam và các doanh nghiệp không có tính cạnh tranh sẽ thất bại.

Không giống như nhiều quốc gia thiếu tài nguyên và vốn nhân lực, Việt Nam có khả năng
được hưởng lợi rất lớn lao từ sự hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, để tận d
ụng cơ hội
này, Việt Nam phải giải quyết vấn đề khu vực tư nhân nhỏ thật đáng kinh ngạc của mình.
Mặc dù khu vực tư nhân của Việt Nam có khả năng cạnh tranh và hiệu quả về sản xuất
hơn khu vực nhà nước, nhưng tiền tiết kiệm nội địa của việt Nam đang được chuyển vào
các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả và các dự án đầ
u tư công được quan niệm một
cách yếu kém. Kết quả là, khu vực nhà nước đang tăng trưởng và hấp thu một tỷ lệ phần
trăm lớn hơn trong vốn có sẵn của Việt Nam. Việc tiếp cận vốn là một rào cản quan trọng
đối với sự mở rộng khu vực tư nhân ở Việt Nam. Một dấu hiệu chỉ báo sự hạn chế này là
khu vực tư
nhân của Việt nam chỉ tạo ra được 12 công ty có số vốn vượt quá 33 triệu đô
la. Vì Việt Nam chuẩn bị cạnh tranh trên vũ đài quốc tế, nên đây là một vấn đề khó khăn.

Một nhóm lỗi lạc được triệu tập vào ngày 15 tháng 1 năm 2005 tại Chương trình Giảng
dạy Kinh tế Fulbright ở Thành phố Hồ Chí Minh. Nhóm này sẽ tìm hiểu tại sao khu vực
tư nhân đã không tạo ra được các công ty lớn có khả
năng cạnh tranh quốc tế.

Xin vui lòng đọc kỹ lưỡng các nội dung của tài liệu sau đây. Phần I cung cấp một phân
tích ngắn gọn về vai trò của khu vực tư nhân trong tăng trưởng kinh tế bền vững. Phần II
gồm có một nghiên cứu tình huống với nhan đề “Tình trạng Lưỡng nan của ông Nam”.
Sau khi đọc các nội dung này, anh/chị hãy chuẩn bị một bài trình bày ngắn gọn với các

Các doanh nghiệp trong nước là những tổ chức quan trọng có tính quyết định đối với phát
triển kinh tế. Mặc dù đầu tư trực tiếp nước ngoài (“FDI”) là một công cụ để chuyển giao

1
Để có một danh sách tổng hợp các yêu cầu về cắt giảm thuế quan của Việt Nam theo AFTA, hãy xem
/>. Đối với phần trình bày
tổng quát về các nghĩa vụ theo AFTA, hãy xem Tương tự, đến năm
2007, các nghĩa vụ theo BTA sẽ cho phép các công ty Hoa Kỳ thiết lập các nhà máy ở Việt Nam để sản
xuất hàng công nghiệp chế tạo cho thị trường nội địa.
The Fulbright Economics Teaching Program Case Study Series, Vietnam’s Private Sector Growth
Eli Mazur, Bùi Văn và các đồng sự Biên dịch: Xinh Xinh

2
cơng nghệ, nhưng doanh nghiệp trong nước là chìa khóa của sự tăng trưởng có tính cơng
bằng và bền vững. So sánh với các dự án FDI, các doanh nghiệp trong nước tạo ra nhiều
cơng ăn việc làm hơn, dàn trải đầu tư một cách cơng bằng hơn giữa các khu vực địa lý, và
tạo ra một hạ tầng cơ sở nhân lực doanh nhân địa phương. Ở Việt Nam, FDI quan trọng
chỉ giới hạn trong phạm vi 15 tỉnh, nhưng doanh nghiệp trong n
ước hoạt động trong tồn
bộ 61 tỉnh.
2
Hơn nữa, lợi nhuận từ FDI tất nhiên là được chuyển về quốc gia của nhà đầu
tư, trong khi lợi nhuận của doanh nghiệp trong nước được tái đầu tư ở Việt Nam. Khơng
giống như các dự án FDI huy động vốn từ tiền tiết kiệm nước ngồi, các doanh nghiệp
của Việt Nam phải tiếp cận tiền đầu tư trong nước để tăng trưởng. Trên khắp thế giớ
i,
xấp xỉ 80% tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia đang phát triển được thúc đẩy bởi đầu tư tư
nhân trong nước (xin xem Hình 1).
Eli Mazur, Bùi Văn và các đồng sự Biên dịch: Xinh Xinh

3
thu thuế.
3
Trên khắp thế giới, và đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển, tăng trưởng
của đầu tư tư nhân trong các doanh nghiệp trong nước tương quan mạnh với việc nâng
cao mức sống (xem Hình 2).

Tuy nhiên, một xa lộ chế định giữa tiền tiết kiệm nội địa và các doanh nghiệp địa phương
phải tồn tại để tạo ra mối quan hệ cộng sinh giữa doanh nghiệp và chính phủ. Nhữ
ng
người tiết kiệm đơn lẻ cần sự bảo đảm đáng tin cậy rằng tiền tiết kiệm của họ sẽ không bị
các nhà quản lý công ty lãng phí, và các doanh nghiệp sẽ chỉ tăng trưởng và trở thành
những đối tác quan trọng trong phát triển kinh tế khi họ tiếp cận đựơc vốn đầu tư, và phần
nào tin tưởng rằng họ sẽ hoạt động dưới luật lệ
ổn định và công bằng.

B. Tăng trưởng của Doanh nghiệp: Tiết kiệm Nội địa và Đầu tư

Các doanh nghiệp cần tiền để mua sắm thiết bị mới, tiếp thu công nghệ mới, và mở rộng
sản xuất. Tiền này có thể là thu nhập giữ lại, tín dụng hay vốn sở hữu chủ. Khi các doanh
nghiệp sản xuất hiệu quả và sử dụng hết thu nhập giữ lại, họ ph
ải tiếp cận vốn từ bên

chịu rủi ro không hợp lý. Cuối cùng, tất cả những bên có liên quan phải dự kiế
n các chi phí
của việc cưỡng chế thực thi các hợp đồng của họ ở tòa án, hay ở các diễn đàn khác, nếu
quan hệ của họ đổ vỡ.

Các chi phí bất thường của việc tìm kiếm nhà cho vay và nhà đầu tư, thương lượng về các
điều khoản hợp đồng, giám sát việc thực hiện hợp đồng, và cưỡng chế thực thi hợp đồng
có thể làm cho hầu hết doanh nghiệp không th
ể tìm được đủ vốn để tăng trưởng. Trong
hàng trăm năm, “các định chế thị trường” đã phát triển để làm giảm các chi phí giao dịch
của việc ký kết hợp đồng về vốn. Các định chế thị trường này bao gồm các ngân hàng và
các thị trường vốn cổ phần, ngoài các luật có thể tiên đoán và được thiết kế tốt. Bằng
cách tạo ra một môi trường có tính minh bạch và có khả nă
ng tiên đoán được, các ngân
hàng và các thị trường vốn cổ phần khuyến khích cá nhân đầu tư tiền tiết kiệm của họ, bất
kể số tiền tiết kiệm ít đến đâu. Bởi vì các tài sản riêng lẻ được gộp chung lại, nên các
định chế tài chính tiết kiệm được các chi phí giao dịch của việc cho vay tiền. Chẳng hạn
như, những người đi vay tiềm năng tiếp cận mộ
t nhà cho vay có thể xác định được một
cách dễ dàng. Sau khi nhận đơn xin vay và cấp khoản cho vay, những nhà cho vay điều
tra và giám sát hành vi của người đi vay theo cách thức có hiệu quả về chi phí. Trong hệ
thống này, những người ký gởi tiền vào ngân hàng – đó là nguồn cung cấp quỹ tiền đem
cho vay – không cần phải giám sát hành vi người đi vay. Như thế, các định chế tài chính
có khả năng chuyển tiền tiết kiệm của xã hội vào các đầ
u tư có hiệu quả về sản xuất, giám
sát một cách hiệu quả các rủi ro này, và làm tăng thu nhập quốc gia bằng cách làm môi
giới cho những giao dịch đem lại lợi ích, mà nếu không thì các giao dịch này sẽ bị ngăn
cản bởi các chi phí giao dịch cao.

Trên khắp thế giới, đây là cách thức các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân tăng trưởng

hi li nhun d dng ny v t cụng sut sn xut.

Tht ỏng tic l, khung phỏp lý ban u ny ó khuyn khớch cỏc d ỏn FDI ln, v cỏc
d ỏn liờn doanh FDI SOE, trong khi khụng khuyn khớch phỏt trin cỏc doanh nghip
t nhõn. Theo bỏo cỏo ca Vin Qun lý Kinh t Trung ng (CIEM) nm 1998, nhng
khú khn v qun lý hnh chỏnh cn tr s tng trng ca khu vc t
nhõn Vit Nam.
5

Nhng c s kinh doanh nh tỡm cỏch thnh lp chớnh thc ó b buc phi np n xin
phộp nhiu c quan v quan chc ng ký. Kt qu l vic ng ký doanh nghip mt
t 6 thỏng n 12 thỏng, vi chi phớ trong khong t 15 triu n 150 triu ng.
6
Nhiu
doanh nghip ó khụng cú ngun lc ng ký, v cng khụng cú ngun lc m
rng. Vỡ th cho nờn, khu vc t nhõn ca Vit Nam c biu trng bi c s kinh
doanh h gia ỡnh khụng chớnh thc v khụng ng ký. Theo sau cuc Khng hong Ti
chớnh Chõu nm 1997, khi FDI chm li, iu tr nờn rừ rng mt cỏch khc nghit l
cỏc doanh nghip t nhõn trong nc ca Vit Nam
ó khụng th duy trỡ c tc tng
trng kinh t ca gia thp niờn 1990 (Xin xem Hỡnh 3).

FDI vaứ Taờng trửụỷng ụỷ Vieọt Nam (1996-1999)
9.2
5.5
4.8
1.9

* Ngung: Ngõn Hng Phỏt Trin Chõu
The Fulbright Economics Teaching Program Case Study Series, Vietnam’s Private Sector Growth
Eli Mazur, Bùi Văn và các đồng sự Biên dịch: Xinh Xinh

6

D. Luật Doanh nghiệp

Năm 2000, Luật Doanh nghiệp
7
đơn giản hóa các thủ tục hành chính đối với việc đăng ký
kinh doanh với các điều khoản sau đây, và nhiều điều khoản khác nữa*:

Điều 9: “Tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp…”

Điều 12.1: “Người thành lập doanh nghiệp phải lập và nộp đủ hồ sơ đăng ký
kinh doanh theo qui định của luật này tại cơ quan đăng ký kinh
doanh…”

Điều 12.2: “Cơ quan
đăng ký kinh doanh không có quyền yêu cầu… thêm các
giấy tờ, hồ sơ nào khác ngoài hồ sơ qui định tại luật này…”

Điều 12.3: “Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm giải quyết việc đăng
ký kinh doanh trong thời hạn mười lăm ngày…” và “nếu từ chối
cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thì phải thông báo bằng
văn bản cho người thành lập doanh nghiệp biết. Thông báo phải
nêu rõ lý do và các yêu cầu sửa đổi, bổ sung.”
nền kinh tế Việt Nam đã bước vào một kỷ nguyên ổn định kinh tế vĩ mô.

7

Luật Doanh nghiệp 13-1999-QH10 của Quốc hội, ban hành ngày 12 tháng sáu năm 1999.
8

Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Đánh giá bốn năm thực hiện luật Doanh nghiệp 2-5 (2004).
9
Id.
10

Id. tại 5.
11

Ngân hàng Phát triển Châu Á đã ước lượng tăng trưởng GDP với tỷ lệ thấp hơn tỷ lệ được công bố chính thức, nhưng
cao hơn tỷ lệ do IMF ước lượng. Bài viết này sử dụng các giá trị ước lượng của ADB. Tăng trưởng GDP thực trung
bình trong thời kỳ 2001-2004 là 6.7%.
12

Id. tại 6.
13

Id. tại 8.
The Fulbright Economics Teaching Program Case Study Series, Vietnam’s Private Sector Growth
Eli Mazur, Bùi Văn và các đồng sự Biên dịch: Xinh Xinh

7

E. Tài chính của khu vực tư nhân

(Tỷ đồng VN)
Tài sản cố định và Đầu
tư dài hạn trên mỗi
nhân công
(Triệu đồng VN)
Doanh nghiệp
Nhà nước
421 167 137
100% Vốn nước
ngoài
344 93 127
Công ty Cổ phần
với vốn Nhà nước
258 78 69
Liên doanh FDI
207 218 661
Công ty Cổ phần
Tư nhân
62 14 59
LLC Tư nhân
39 5 41
Hợp tác xã
39 2 27
Tư nhân
14 1 35

* Nguồn: trích dẫn có điều chỉnh từ Amanda S. Carlier, và những người khác., Tính năng động của doanh nghiệp: Sau khi đăng ký,
các doanh nghiệp tư nhân trong nước mới của Việt Nam làm ăn ra sao. Bài viết về Chính sách Phát triển Khu vực Tư nhân (2004)
Năm 2003, Tỉ số GDI của Việt Nam đạt 35,9%.
18
Rõ ràng là Việt Nam có khả năng tạo
ra đầu tư trong nước với một tốc độ có thể so sánh sánh với các nền kinh tế khác trên thế
giới.

Tuy nhiên, giống như mối quan hệ giữa mức tạo vốn (hình thành vốn) và sản lượng của
một doanh nghiệp, năng suất của GDI là một thước đo về hiệu quả và khả năng bền vững
tốt hơn GDI. Năng su

vn hn to ra mt n v tng trng. 2.48
2.77
4.8
4.93
4.87
4.96
0
0.5
1
1.5
2
2.5
3
3.5
4
4.5
5
1990 1995 2000 2001 2002 2003
Investment Requirements in Vietnam

Bt chp s liu núi trờn, khu vc t nhõn ca Vit Nam khụng phi ang tr nờn kộm
hiu qu v sn xut hn. Thay vỡ th, GDI ca Vit Nam ang c chuyn vo nhng
u t khụng cú hiu qu v sn xut. Chng hn nh, cho dự khu vc t nhõn ang tng
trng nhanh hn v to ra cỏc vic lm mi vi tc gp ba ln t

pet04/submissions/PET4-0474S.pdf.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status