ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------- ---------
PHẠM THỊ NGA LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
TÌM HIỂU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI, SINH TRƯỞNG
PHÁT TRIỂN CỦA CÂY LIM XẸT (Peltophorum tonkinensis
A.Chev) TÁI SINH TỰ NHIÊN TẠI PHÂN KHU PHỤC HỒI
SINH THÁI VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 626062
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Ngô Quang Đê
Thái Nguyên, năm 2009
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
lượng của rừng nếu không tác động có kỹ thuật sẽ không có những cải tiến
đáng kể…
6
.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
Do đó việc bảo vệ và phát triển vốn rừng là nhiệm vụ quan trọng trước
mắt và lâu dài, đòi hỏi chúng ta phải biết lựa chọn những giải pháp tác động
có tính hiệu quả cao. Vì vậy, thực hiện công việc này bằng các giải pháp lâm
sinh như "khoanh nuôi xú c tiế n tá i sinh kế t hợ p trồ ng bổ sung là mộ t giả i
pháp lợi dụ ng triệ t để khả năng tá i sinh , diễ n thế tự nhiên để phụ c hồ i rừ ng
thông qua cá c biệ n phá p bả o vệ , biệ n phá p kỹ thuậ t lâm sinh và trồ ng bổ
sung cầ n thiế t"
2
trên cơ sở sinh vật học - sinh thái học lại càng cấp thiết.
Làm giàu rừng là kỹ thuật bổ sung, nâng cao số lượng cây có giá trị
kinh tế bằng tái sinh nhân tạo hay xúc tiến tái sinh tự nhiên thường được áp
dụng cho các lâm phần có giá trị kinh tế thấp. Thực tế trong những năm qua
đã có nhiều loài cây bản địa có giá trị kinh tế cao được đưa vào trồng và làm
giàu rừng như: Re, Lát xoan, Muồng đen, Quế, Sao đen … đã trồng thành
công ở một số nơi.
Theo kết quả điều tra tại V-ên Quèc Gia Tam Đảo, hầu hết rừng ở đây
phong phú về tổ thành, nghèo kiệt về trữ lượng và chất lượng, nhiều cây có
giá trị kinh tế thấp, mật độ tầng cây cao thưa, phân bố không đều. Tuy nhiên
mật độ cây tái sinh lại chiếm tỷ lệ cao và có một số loài có giá trị kinh tế cao
như: Lim xẹt, Re … Đây là cơ sở để đề xuất các biện pháp tác động như tái
sinh nhân tạo và xúc tiến tái sinh tự nhiên để làm giàu rừng. Vấn đề đặt ra là
phải lựa chọn, xác định loài cây phù hợp cũng như việc xây dựng các biện
của rừng mưa. Tổ thành loài cây mẹ ở tầng trên và tổ thành loài cây tái sinh
ở tầng dưới thường khác nhau rất nhiều, mặt khác tổ thành loài cây của rừng
mưa lại biến đổi từ nơi này đến nơi khác. Vì vậy tổ thành loài cây của rừng
mưa đều không cố định trong không gian và thời gian, không có một tổ hợp
của loài cây nào có thể đạt thế “cân bằng sinh thái” với hoàn cảnh một cách
vĩnh viễn và ổn định. Ngay ở cùng một địa điểm và cùng một thời gian nhất
định tổ hợp các loài cây sẽ được thay thế, không phải bằng tổ hợp có thành
phần như cũ mà bằng một tổ hợp có thành phần khác hẳn. Từ những lý luận
trên, đã dẫn A.Ôbrêvin đi đến lý luận bức khảm tái sinh (còn gọi là lý luận
tuần hoàn tái sinh). Theo lý luận này có thể coi một diện tích rừng mưa rộng
lớn là một bức khảm mà mỗi đơn vị của bản ghép hình đó là một tổ hợp hình
thành bởi những loài cây ưu thế khác nhau. Mặc dù, xét trên diện tích nhỏ, tổ
hợp loài cây tái sinh không mang tính kế thừa, nhưng nếu xét trên phạm vi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
rộng lớn hơn thì các tổ thành loài cây sẽ kế thừa nhau ít nhiều theo phương
thức tuần hoàn. Ôbrêvin đã có công lao khái quát hóa các hiện tượng tái sinh
ở rừng nhiệt đới Châu Phi để đúc kết nên lý luận bức khảm tái sinh, nhưng
phần lý giải các hiện tượng đó còn hạn chế. Ông coi hiện tượng đó là “ thuần
túy ngẫu nhiên”, không thể phán đoán trước được vì còn phụ thuộc vào quá
nhiều nguyên nhân phức tạp. Ông không giải thích được do tác nhân nào, do
cơ chế nào đã dẫn đến việc hình thành các tổ hợp loài cây tái sinh khác nhau.
Vì vậy lý luận của ông còn ít sức thuyết phục, chưa giúp ích được cho thực
tiễn sản xuất, đề xuất các biện pháp điều khiển tái sinh theo những mục tiêu
kinh doanh đã đề ra.
19
Theo những kết quả quan sát của David và P.W Risa (1933),
Bear (1946), Sun (1960), Rôlê (1969) ở rừng nhiệt đới Nam Mỹ lại khác hẳn
Theo ông, có một nhóm nhân tố sinh thái trong nhóm khí hậu đã
khống chế và điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng,
đó là nhân tố ánh sáng. Nếu các điều kiện khác của môi trường như đất rừng,
nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh
không có những biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn
trong không gian và thời gian như A.Ôbrêvin đã nhận định và diễn thế theo
phương thức tái sinh không có quy luật “nhân quả” giữa sinh vật và hoàn
cảnh. Vì lẽ trên P.W Risa đã nói rất có lý: “Lý luận tuần hoàn tái sinh đã ứng
dụng rộng rãi được đến mức độ nào, vấn đề này hiện nay phải tạm gác lại
chưa giải quyết được”.
19
Vì vậy, muốn nghiên cứu đặc điểm và quy luật tái sinh cần phải gắn
liền với từng loại hình rừng cụ thể. Vấn đề này đòi hỏi chúng ta phải có
nhiều công trình nghiên cứu hơn nữa để đúc kết thành lý luận và đóng góp
thiết thực cho thực tiễn sản xuất.
Trần Ngũ Phương (1970) khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới mưa
mùa lá rộng thường xanh đã có nhận xét “rừng tự nhiên dưới tác động của
con người khai thác hoặc làm nương rẫy, lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết quả
cuối cùng là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc. Nếu chúng ta để thảm thực
vật hoang dã tự nó phát triển lại thì sau một thời gian dài trảng cây bụi, trảng
cỏ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình tái sinh
tự nhiên và cuối cùng rừng có thể phục hồi dưới dạng gần giống trạng thái
rừng ban đầu”
16
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
Trong cuốn sổ tay kỹ thuật hạt giống và gieo ươm một số loài cây
trồng rừng, NXB Hà Nội, 1995 đã đưa ra một số kết luận về kỹ thuật thu hái
hạt giống, cách chế biến, bảo quản, xử lý và kỹ thuật gieo ươm hạt giống.
Như vậy cho đến nay các công trình nghiên cứu về cây bản địa đặc
biệt là cây Lim xẹt chưa nhiều và chưa tương xứng với giá trị của nó. Tuy
nhiên những công trình đã nghiên cứu sẽ là cơ sở quan trọng để xác định nội
dung nghiên cứu của đề tài này.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
CHƢƠNG II
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
Tầng thứ ( tầng cây gỗ, tầng cây bụi thảm tươi).
Tương quan giữa H
VN
-D
1.3
và D
t
-D
1.3
của cây Lim xẹt.
2.4.3. Đặc điểm tái sinh tự nhiên của Lim xẹt.
Cấu trúc tổ thành và mật độ tái sinh..
Phân bố cây tái sinh theo cấp chiều cao.
Chất lượng cây tái sinh.
Số lượng cây tái sinh theo nguồn gốc.
2.4.4. Ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh đến số lượng của cây Lim xẹt tái
sinh.
Ảnh hưởng của độ cao so với mặt nước biển
Ảnh hưởng của đất đai.
Ảnh hưởng của cây mẹ.
Ảnh hưởng của độ tàn che.
Ảnh hưởng của cây bụi, thảm tươi.
2.4.5. Đề xuất các biện pháp bảo vệ tái sinh tự nhiên.
2.5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
2.5.1. Phƣơng pháp luận.
Thực tế đã chứng minh, việc lựa chọn các phương pháp nghiên cứu là
một yếu tố hết sức quan trọng góp phần làm tăng tính khả thi và hiệu quả của
công việc. Vì vậy tùy theo từng đối tượng nghiên cứu mà ta có thể áp dụng
hòa giữa quần thể và cá thể để làm lý luận cho mình.
2.5.2. Phƣơng pháp xác định vị trí nghiên cứu.
Căn cứ vào thảm thực vật và địa hình đề tài nghiên cứu chia làm 3 khu:
Khu vực 1: Trạng thái II
A
.
Khu vực 2: Trạng thái II
B
.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
Khu vực 3: Trạng thái Ic.
2.5.3. Phƣơng pháp thu thập và xử lý số liệu:
2.5.3.1. Lập ô tiêu chuẩn và dung lƣợng mẫu.
a) Điều tra sơ bộ :
Tiến hành nghiên cứu bản đồ hiện trạng rừng, tìm hiểu các trạng thái
rừng. Sau đó sơ thám, quan sát các hiện trạng rừng, tìm hiểu khái quát về sự
phân bố của Lim xẹt, tìm hiểu sơ bộ về tài nguyên thực vật rừng, đất đai, khí
hậu … của khu vực nghiên cứu để nắm được địa điểm, diện tích, khối lượng
công việc phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch và thời gian điều tra ngoại
nghiệp.
b)Điều tra tỉ mỉ:
- Lập OTC: Lập ô tiêu chuẩn điển hình để nghiên cứu đặc điểm cấu trúc
rừng có Lim xẹt tái sinh phân bố. Ô tiêu chuẩn phải bố trí tại các vị trí có
tính đại diện cao ở 3 khu vực nghiên cứu. Địa hình trong ô phải tương đối
đồng nhất, các loài cây phân bố tương đối đều, cây sinh trưởng bình thường.
Các ô tiêu chuẩn không đi qua các khe, qua đỉnh hoặc có đường mòn hay
đường ô tô chạy qua.
+ Phương pháp lập ô tiêu chuẩn (OTC): Sử dụng địa bàn, thước dây, sơn
đỏ và dao, cuốc …
) nên
không có cây con tái sinh xuất hiện xung quanh gốc cây mẹ nên đề tài chỉ
nghiên cứu tái sinh xung quanh gốc cây mẹ ở khu vực 1, 2 là trạng thái II
A
và II
B
. Mỗi khu vực điều tra tái sinh xung quanh 4 gốc cây mẹ với số ODB là
4 x 3 x 8 = 96 ODB.
2.5.3.2. Nội dung thu thập số liệu:
Nội dung thu thập số liệu cho từng nội dung cụ thể như sau:
a)Tìm hiểu một số hình thái của cây Lim xẹt:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Đề tài sử dụng phương pháp quan sát thực địa, thu thập các thông tin
từ các cán bộ lâm nghiệp có kinh nghiệm trong vùng nghiên cứu, đồng thời
kết hợp với tra cứu những tài liệu nghiên cứu trước đây nhằm xác định được
các nội dung sau:
- Đặc điểm hình thái: Thân cây, tán cây, vỏ cây, cành cây, lá cây, rễ cây và
hoa quả của cây Lim xẹt …
- Đặc điểm hậu vật: Mùa ra lá, mùa ra hoa kết quả …
b) Điều tra một số nhân tố sinh thái nơi cây Lim xẹt tái sinh tự nhiên:
- Đặc điểm nhân tố khí hậu: Tiến hành thu thập tài liệu khí tượng của trạm
khí tượng thủy văn của VQG- huyện Tam Đảo.
- Điều tra nhân tố đất đai: Tham khảo tài liệu nghiên cứu về đất của VQG
Tam Đảo kết hợp đào phẫu diện để điều tra.
c) Điều tra đặc điểm tái sinh tự nhiên của cây Lim xẹt.
* Điều tra đặc điểm tái sinh của lâm phần:
Cây tái sinh được điều tra trong các ODB, gồm các cây có đường kính
<6 cm. Các chỉ tiêu xác định là:
STT Tên loài cây Hvn Nguồn gốc Chất lượng sinh
trưởng
1 Hạt Chồi Tốt TB Xấu
2
3
…
Tổng:
*Điều tra sinh trưởng của cây mẹ (Lim xẹt):
Chọn cây mẹ có đủ tiêu chuẩn D
T
≥ 8m, cây sinh trưởng bình thường,
không sâu bệnh, không cụt ngọn làm tâm. Xác định: Hvn, D
1.3
, Hdc, D
T
,
phẩm chất. Kết quả điều tra được ghi vào bảng 2.2
Bảng 2.2:Bảng điều tra sinh trƣởng của cây mẹ (Lim xẹt)
Số ODB có loài Lim xẹt xuất
hiện
Tổng số ODB đo đếm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
STT H
VN
H
DC
D
≥ 6cm.
Xác định tên loài cây, Hvn, D
1.3
, Hdc phẩm chất cây. Công cụ đo
đường kính là thước kẹp kính, đo chiều cao vút ngọn va chiều cao dưới cành
là thước Blune - leiss kết hợp với sào đo cao. Kết quả điều tra được ghi vào
bảng 2.4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Bảng 2.4:Bảng điều tra tổ thành loài cây cao
STT Tên loài cây H
VN
H
DC
Chất lượng sinh
trưởng
1 Tốt TB Xấu
2
3
….
Tổng:
*Điều tra độ tàn che rừng:
* Điều tra cây bụi, thảm tươi:
- Cây bụi là cây thân gỗ thuộc tầng thấp.Chỉ tiêu xác định là: Tên loài cây,
số lượng, Phẩm chất, Hvn được đo bằng thước mét, độ che phủ bình quân
chúng các loài được tính theo tỷ lệ phần trăm bằng phương pháp ước lượng.
- Thảm tươi là lớp cây cỏ phủ trên bề mặt đất rừng. Chỉ tiêu điều tra: Tên
2.5.3.3. Phƣơng pháp xử lý số liệu:
Việc chỉnh lý số liệu, lập các dãy phân bố thực nghiệm, tính toán các đặc trưng
mẫu được xử lý đồng bộ trên máy vi tính theo chương trình ứng dụng phần mềm “Xử
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
lý thống kê kết quả nghiêm cứu thực nghiệm trong Nông - lâm nghiệp trên máy vi tính
của GS.TS Nguyễn Hải Tuất và TS Ngô Kim Khôi. Phần mềm “SPSS 13.0”.
a)Kiểm tra sự thuần nhất của các giá trị quan sát:
Tiêu chuẩn phi tham số
2
của Kruskal Wallis để kiểm tra sự thuần
nhất:
H =
)1(
12
nn
L
ni
i
i
n
R
2
- 3(n+1) (2-3)
Trong đó:
n =
2
thuyet
thuyetqsat
f
ff
( 2-4)
Trong đó:
f
thuyet
là tần số lý thuyết
f
thuyet
=
TS
xTT
biai
( 2-5)
f
qsat
là tần số quan sát
T
ai
là tổng hàng thứ i.
T
bi
là tổng cột thứ i
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
TS là tổng số.
Trong đó: K
i
là tỷ lệ tổ thành của loài thứ i.
M
i
là số cây của loài thứ i.
N là tổng số cây điều tra.
c, Xác định tƣơng quan giữa H
VN
- D
1.3
, D
t
- D
1.3
.
Đề tài sử dụng phần mềm SPSS để xác định mối quan hệ giữa H
VN
-
D
1.3
, D
t
- D
1.3
... theo các hàm sau:
Hàm LIN: Y = B
0
+B
1
Hàm nào có hệ số xác định (R
2
) lớn nhất, các giá trị kiểm định chứng
tỏ sự tồn tại của R
2
và các hệ số b
0
,b
1
,b
2
,... thì hàm đó được chọn để mô tả
mối quan hệ giữa các đại lượng.
Nếu: R = 0 thì đại lượng X và Y độc lập tuyến tính.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
R = ± 1 thì 2 đại lượng X và Y có quan hệ hàm số.
0 < /R/ ≤ 0,3 thì 2 đại lượng X và y có quan hệ yếu.
0,3 < /R/ ≤ 0,5 thì 2 đại lượng X và y có quan hệ vừa.
0,5 < /R/ ≤ 0,7 thì 2 đại lượng X và y có quan hệ tương đối chặt.
0,7 < /R/ ≤ 0,9 thì 2 đại lượng X và y có quan hệ chặt.
0,9 < /R/ < 1 thì 2 đại lượng X và y có quan hệ rất chặt
Ch-¬ng III
ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1.Điều kiện tự nhiên:
Giới thiệu sơ lƣợc về Tam Đảo:
Tam Đảo là một khối núi thuộc phần cuối của dãy núi hình cánh cung
thượng nguồn sông chảy. Dãy núi này có phần đuôi hầu như chụm lại ở Tam
Đảo, còn đầu tỏa ra như những nan quạt về phía Bắc. Đến Tam Đảo dãy núi
giảm dần độ cao rồi chuyển thành các đồi gò vùng Trung Du và đồng bằng
Nguyên, Tuyên Quang. Đây là dãy núi lớn dài 80 km chạy theo hướng đông
- bắc - tây – nam.
Diện tích VQG Tam Đảo là 34.995 ha, được hoạch định từ độ cao
100m trở lên và được chia làm 3 khu rõ rệt. Cụ thể là:
- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích là 17.295 ha ở độ cao > 400m.
- Phân khu phục hồi sinh thái có diện tích là 15.398 ha ở độ cao từ 100m –
400m.
- Phân khu nghỉ mát, du lịch có diện tích là 2.302 ha.
Vùng đệm VQG Tam Đảo
Vùng đệm VQG Tam Đảo có ranh giới phía ngoài là ranh giới của các
xã tiếp giáp với VQG Tam Đảo. Cho đến nay vùng đệm vườn quốc gia Tam
Đảo gồm 23 xã thị trấn với diện tích 35.717 ha.
Huyện Tam Đảo: Diện tích đất của huyện năm 2003 là 23.573,07 ha.
Địa giới hành chính của huyện có 9 đơn vị cấp xã nằm trọn trong vùng chính
và vùng đệm phía Tây Nam VQG Tam Đảo. Cụ thể như sau:
Phía Đông giáp huyện Bình Xuyên và tỉnh Thái Nguyên.
Phía Tây giáp huyện Tam Dương và huyện Lập Thạch
Phía Nam giáp huyện Tam Dương và huyện Bình Xuyên
Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Tuyên Quang
3.1.2 Địa hình:
Vườn quốc gia Tam Đảo địa hình được chia thành 4 kiểu chính đó là:
Thung lũng giữa núi và đồng bằng ven sông suối. Độ cao dưới 100m,
độ dốc < 7
0
, phân bố dưới chân núi ven suối.
Đồi cao trung bình: Độ cao từ 100m – 400m, độ dốc từ 10
0
- 25
0
trở
Cấp IV (26
0
- 35
0
) 0 0
Cấp V (>35
0
) 48 0,3
Cộng 15.515 100,00
Huyện Tam Đảo: Địa hình tương đối đa dạng và phức tạp, vùng miền
núi và núi cao diện tích có khoảng 11.000 ha chủ yếu do VQG và lâm trường
Tam Đảo quản lý. Diện tích còn lại bao gồm các vùng núi thấp, vùng bãi do
các xã quản lý và sử dụng, với đặc điểm địa hình như trên tạo điều kiện cho
huyện Tam Đảo phát triển kinh tế nông – lâm nghiệp phong phú và đa dạng.
3.1.3. Khí hậu:
Tam Đảo nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới mưa mùa vùng núi.Qua tài
liệu tham khảo của trạm khí tượng Vĩnh Yên có thể thấy diễn biến của khí
hậu đặc trưng trong vùng được thể hiện ở bảng 3.2 và 3.3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
Bảng 3.2. Một số chỉ tiêu khí tƣợng bình quân tháng của khu vực nghiên
cứu
Bình quân
tháng
5 Số ngày mưa / năm 142,5
6 Lượng mưa cực đại trong ngày (mm) 284
7 Độ ẩm trung bình (%) 81
8 Độ ẩm cực tiểu (%) 14
9 Lượng nước bốc hơi bình quân năm (mm) 1.040,1
- Chế độ nhiệt: Căn cứ chỉ số về chế độ nhiệt của trạm quan trắc khí
tượng Vĩnh Yên nằm trong vùng Lim xẹt tái sinh phân bố có nhiệt độ trung
bình năm là 23,7
0
C; nhiệt độ tối cao bình quân là 41,5
0
C; nhiệt độ tối thấp
bình quân là 3,2
0
C.
-Chế độ ẩm: Lượng mưa của trạm quan sát khí tượng nơi loài Lim xẹt
tái sinh phân bố là 1.603,5 mm, tổng số ngày mưa là 142,5; độ ẩm tương đối
không khí 81%, độ ẩm cực tiểu 14% thường được xuất hiện vào tháng 12
năm trước và tháng 1 năm sau. Lượng mưa bốc hơi khoảng 1.040,1 mm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
3.1.4. Thủy văn:
Trong khu vực có 2 hệ thống sông chính là sông Phó Đáy ở phía Tây
và sông Công ở phía Đông. Đường phân thủy của 2 hệ thống sông trên chính
là dông núi Tam Đảo chạy từ Đèo Khế (Sơn Dương) đến Mỹ Khê (Bình
Xuyên).
Mạng lưới sông suối hai sườn Tam Đảo dồn xuống 2 sông chính như
chân rết khá dày và ngắn, có cấu trúc dốc và hẹp lòng từ đỉnh xuống chân
núi, lưu lượng nước lớn. Khi xuống tới các chân núi, suối thường chảy dọc
theo các chân thung lũng dài và hẹp trước khi đổ ra vùng đồi và vùng đồng
là 2.259 ha); còn lại là diện tích các loại đất khác.
3.1.5.2. Nhân tố đá mẹ, đất đai:
Nghiên cứu đặc điểm lý tính, hóa tính của đất dưới tán rừng tự nhiên
nơi có Lim xẹt tái sinh phân bố, đề tài chọn 3 phẫu diện đất điển hình tại 3
khu vực nghiên cứu, phẫu diện 1 được bố trí tại khu vực 1(trong ô tiêu chuẩn
1), phẫu diện 2 được bố trí tại khu vực 2 (trong ô tiêu chuẩn 3) và phẫu diện 3
được bố trí tại khu vực 3 (trong ô tiêu chuẩn số 5) do VQG Tam Đảo cung
cấp.
Kết quả phân tích được thể hiện ở bảng 3.4 và 3.5:
Bảng 3.4: Một số đặc điểm cơ bản phẫu diện đất tại 3 khu vực
STT Chỉ tiêu điều
tra
Phẫu diện 1 Phẫu diện 2 Phẫu diện 3
1 Độ cao tuyệt đối 250m 300m 156m
2 Độ dốc 18
0
21
0
16
0
3 Hướng dốc Tây nam Tây nam Tây nam
4 Đá mẹ Phiến thạch
Sét
Phiến thạch
Mica
Phiến thạch
Sét
5 Loại đất Feralit đỏ
vàng