Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
****************
TRẦN THỊ DUYÊN NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MỘT SỐ
BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG RỪNG THÂM CANH
ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƢỢNG GỖ KEO LAI
Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Huy Sơn
THÁI NGUYÊN, 2008
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn
toàn trung thực và chưa sử dụng cho bảo vệ một học vị nào. Các thông tin, tài
liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả Trần Thị Duyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn, tác giả đã được sự
quan tâm, tạo điều kiện của lãnh đạo Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Thái Nguyên,
cán bộ phòng Kế hoạch, phòng Kỹ thuật Chi cục Lâm nghiệp, cán bộ Khoa
sau đại học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Nhân dịp này, tác giả
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
1.1.1. Những nghiên cứu về cây Keo lai (Acacia hybrids) 4
1.1.2. Ảnh hưởng của giống đến năng suất rừng trồng thâm canh 6
1.1.3. Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến khả năng sinh trưởng, phát
triển của rừng trồng. 6
1.1.4. Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và chất lượng rừng trồng . 8
1.1.5. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng và chất
lượng rừng trồng 9
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 10
1.2.1. Đặc điểm cây Keo lai (A. Hybrids) 10
1.2.2. Các nghiên cứu về trồng rừng thâm canh và thâm canh rừng trồng 11
1.2.3. Tính chất gỗ và một số sản phẩm từ gỗ rừng trồng Keo lai 19
Chƣơng 2. MỤC TIÊU, ,NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1. Mục tiêu nghiên cứu 22
2.1.1. Mục tiêu chung 22
2.1.2. Mục tiêu cụ thể 22
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
2.2. Đối tƣợng và giới hạn phạm vi nghiên cứu 22
2.2.1. Đối tượng: 22
2.2.2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 23
2.3. Nội dung nghiên cứu: 23
2.3.1. Ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng của rừng trồng
Keo lai 23
2.3.2. Ảnh hưởng của bón phân đến sinh trưởng rừng trồng Keo lai 23
2.3.3. Ảnh hưởng của thời điểm trồng rừng và kỹ thuật thâm canh đến sinh
trưởng của rừng trồng Keo lai 24
2.3.4. Ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật thâm canh rừng trồng
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu, chữ
viết tắt
Nội dung ký hiệu, chữ viết tắt
Bộ NN&PTNT
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
G
Tổng tiết diện ngang
D
1.3m
Đường kính ở vị trí 1.3m
H
vn
Chiều cao vút ngọn
D
T
Đường kính tán
RCFTI
Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng
F
Độ dày tầng đất cấp I > 100cm, kết von đá lẫn ở tầng A và
B < 50%
2
Độ dày tầng đất cấp II : 50 - 100cm, kết von đá lẫn < 50%
3
Độ dày tầng đất cấp III < 50cm, kết von đá lẫn > 40%
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
DANH MỤC CÁC BẢNG TT
bảng
Nội dung
Trang
3.1
Kết quả phân tích đất tại xã Khe Mo
39
4.1
Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của rừng trồng Keo
lai 3 tuổi và 5 tuổi ở Khe Mo-Đồng Hỷ
44
4.2
Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của rừng trồng
Keo lai sau 5 năm tuổi ở Đồng Hỷ - Thái Nguyên (trồng
năm 2002, thu thập số liệu năm 2007)
51
4.3
Ảnh hưởng của thời điểm trồng rừng và kỹ thuật thâm canh
đến sinh trưởng, năng suất của rừng trồng Keo lai ở Đồng
So sánh chất lượng bột giấy từ Keo lai 5 năm tuổi tẩy trắng
theo qui trình ECF với qui trình C-EOP-H đối chứng
78
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
DANH MỤC CÁC HÌNH
TT
hình
Nội dung
Trang
4.1.1
Biểu đồ sinh trưởng D
1.3
của các công thức mật độ Keo lai
tuổi 3 và tuổi 5
47
4.1.2
Biểu đồ sinh trưởng Hvn của các công thức mật độ Keo lai
tuổi 3 và tuổi 5
47
4.1.3
Biểu đồ tăng trưởng về trữ lượng M(m
3
/ha) của các công
thức mật độ Keo lai tuổi 3 và tuổi 5
47
4.1.4
Ảnh chụp Keo lai 5 năm tuổi trồng ở công thức mật độ
62
4.3.3
Biểu đồ trữ lượng gỗ cây đứng các công thức thí nghiệm
thời điểm và kỹ thuật trồng rừng tại Khe Mo - Đồng Hỷ -
Thái Nguyên
61
4.3.4
Ảnh chụp Keo lai 5 tuổi Trồng thâm canh giữa mùa mưa
63
4.3.5
Ảnh chụp Keo lai 5 tuổi trồng bán thâm canh giữa mùa
mưa (Đối chứng thời vụ trồng)
63
4.4.1
Ảnh chụp phẫu diện lấy mẫu đất phân tích (đất trồng
Keo lai sau 5 năm ở Đồng Hỷ - Thái Nguyên)
67
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tính đến 31 tháng 12 năm 2007, tổng diện tích rừng toàn quốc gần
12,840 triệu ha, trong đó có gần 10,284 triệu ha rừng tự nhiên và hơn 2,553
triệu ha rừng trồng, độ che phủ của rừng đã tăng lên 38,2% (Bộ NN&PTNT,
2008)[2]. Tuy diện tích rừng và độ che phủ của rừng đã tăng lên đáng kể
nhưng chất lượng rừng vẫn còn rất thấp. Hầu hết diện tích rừng tự nhiên là
rừng trung bình và rừng nghèo, không còn khả năng đáp ứng được nhu cầu
sản xuất hiện nay. Đặc biệt là rừng trồng trong những năm vừa qua năng suất
đã nâng lên gần 20m
3
Một trong những loài cây nguyên liệu có khả năng sinh trưởng nhanh
được đề cập đến đó là cây Keo lai (Acacia hybrids). Cây Keo lai là 1 trong 48
loài cây trồng chính để trồng rừng sản xuất đã được Bộ Nông nghiệp và
PTNT công nhận tại Quyết định số 16/2005/QĐ-BNN ngày 15/03/2005. Keo
lai không chỉ là giống có ưu thế sinh trưởng nhanh, biên độ sinh thái rộng, có
khả năng thích ứng với nhiều loại đất mà còn có khả năng cải tạo đất, cải
thiện môi trường sinh thái. Gỗ Keo lai được sử dụng làm ván sàn, ván dăm,
trụ mỏ và đặc biệt hơn cả là được sử dụng nhiều trong công nghiệp giấy. Keo
lai có khối lượng gỗ lấy ra lớn gấp 2-3 lần Keo tai tượng và Keo lá tràm, hàm
lượng xenluylô trong gỗ cao, lượng lignin thấp, do đó có hiệu suất bột giấy
lớn, chất lượng bột giấy tốt.
Tại tỉnh Thái Nguyên, trong những năm qua công tác trồng rừng đã được
các cấp chính quyền và người dân quan tâm nhiều hơn, diện tích rừng trồng
tăng lên đáng kể, đặc biệt là rừng sản xuất. Theo báo cáo về diễn biến tài
nguyên rừng của tỉnh Thái Nguyên, năm 2007 toàn tỉnh có 164.355 ha rừng,
trong đó rừng tự nhiên là 100.509 ha, rừng trồng 63.846 ha, tổng trữ lượng gỗ
trên 3 triệu m
3
và có khoảng 24 triệu cây tre nứa. Hàng năm toàn tỉnh khai
thác khoảng 20.000 m
3
gỗ và 650 tấn tre nứa, lượng lâm sản này một phần
phục vụ cho nhu cầu sử dụng của người dân trong vùng, phần còn lại cung
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
cấp nguyên liệu cho Công ty ván dăm Thái Nguyên và Nhà máy giấy Bãi
Bằng. Trong những năm gần đây, tỉnh Thái Nguyên đã có chủ trương đẩy
mạnh công tác trồng rừng sản xuất và loài cây trồng chính được lựa chọn là
cây Keo lai và Keo tai tượng. Mặc dù phần lớn diện tích đất trồng rừng sản
xuất là trồng 2 loài cây trên, nhưng theo đánh giá sơ bộ của Sở Nông nghiệp
trồng, quản lý bảo vệ rừng trồng cho đến khi khai thác sử dụng. Hệ thống các
biện pháp kỹ thuật này đã được các nhà khoa học nhiều nước trên thế giới
quan tâm nghiên cứu, điển hình là một số công trình được phân chia thành các
chuyên đề sau:
1.1.1. Những nghiên cứu về cây Keo lai (Acacia hybrids)
Keo lai là tên gọi tắt của giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia
mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis). Giống Keo lai tự nhiên
này được phát hiện đầu tiên bởi Messir Herbern và Shim vào năm 1972
trong số các cây Keo tai tượng trồng ven đường ở Sook Telupid thuộc bang
Sabah, Malaysia. Năm 1976, M.Tham đã kết luận thông qua việc thụ phấn
chéo giữa Keo Tai tượng và Keo lá tràm tạo ra cây Keo lai có sức sinh
trưởng nhanh hơn giống bố mẹ. Đến tháng 7 năm 1978, kết luận trên cũng
đã được Pedley xác nhận sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu
bản thực vật ở Queensland - Australia (Lê Đình Khả, 1999) [10]. Ngoài ra,
Keo lai tự nhiên còn được phát hiện ở vùng Balamuk và Old Tonda của
Papua New Guinea (Turnbull, 1986, Gun và cộng sự, 1987, Griffin, 1988), ở
một số nơi khác tại Sabah (Rufelds, 1987) và Ulu Kukut (Darus và Rasip,
1989) của Malaysia, ở Muak-Lek thuộc tỉnh Saraburi của Thái Lan (Kijkar,
1992). Giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng với Keo lá tràm đã được phát
hiện ở cả rừng tự nhiên lẫn rừng trồng và đều có một số đặc tính vượt trội so
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
với bố mẹ, sinh trưởng nhanh, cành nhánh nhỏ, thân đơn trục với đoạn thân
dưới cành lớn (Lê Đình Khả, 2006) [12].
Nghiên cứu về hình thái cây Keo lai có thể kể đến các công trình
nghiên cứu của Rufelds (1988) [50]; Gan.E và Sim Boom Liang (1991) [42]
các tác giả đã chỉ ra rằng: Keo lai xuất hiện lá giả (Phyllode) sớm hơn Keo
tai tượng nhưng muộn hơn Keo lá tràm. Ở cây con lá giả đầu tiên của Keo lá
tràm thường xuất hiện ở lá thứ 4-5, Keo tai tượng thường xuất hiện ở lá thứ
8-9 còn ở Keo lai thì thường xuất hiện ở lá thứ 5-6. Bên cạnh đó là sự phát
/ha/năm ở giai đoạn 7 năm tuổi.
Tại Brazin, bằng con đường chọn lọc nhân tạo đã chọn được giống Bạch
đàn Eucalyptus grandis có năng suất đạt tới 55m
3
/ha/năm sau 7 năm trồng
(Welker, 1986) [50]
Tại Swaziland cũng đã chọn được giống Thông Pinus patula sau 15 năm
tuổi đạt năng suất 19m
3
/ha/năm (Pandey, 1983)[48]
Ở Zimbabwe cũng đã chọn được giống Bạch đàn Eucalyptus grandis đạt
từ 35m
3
- 40m
3
/ha/năm, giống Bạch đàn E.urophylla đạt trung bình tới
55m
3
/ha/năm, có nơi lên tới 70m
3
/ha/năm (Campinhos và Ikemori, 1988)[40]
1.1.3. Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến khả năng sinh trưởng,
phát triển của rừng trồng
Kết quả nghiên cứu của tổ chức Nông - Lương Quốc tế (FAO, 1994)
[41] ở các nước vùng nhiệt đới đã chỉ ra rằng: khả năng sinh trưởng của rừng
trồng, đặc biệt là rừng trồng cây nguyên liệu công nghiệp phụ thuộc rất rõ vào
4 nhân tố chủ yếu liên quan đến điều kiện lập địa là: Khí hậu, địa hình, loại
đất và hiện trạng thực bì.
Nghiên cứu của Laurie (1974) đã cho thấy đất đai ở vùng nhiệt đới rất
khác nhau về nguồn gốc và lịch sử phát triển, điều này được thể hiện ở sự
x
5
: Độ dốc tuyệt đối của khu trồng rừng (%);
x
11
: Độ phì của đất đã được xác định.
Cùng với đó, Julian Evans cũng đã kết luận khí hậu có ảnh hưởng khá rõ
đến năng suất rừng trồng, đặc biệt là sự ảnh hưởng của tổng lượng mưa bình
quân hàng năm, sự phân bố lượng mưa trong năm, lượng bốc hơi và nhiệt độ
không khí.
Kết quả nghiên cứu của Pandey. D (1983) [48] về loài Bạch đàn
Eucalyptus camaldulensis được trồng trên các điều kiện lập địa khác nhau
đã cho thấy: nếu trồng ở vùng nhiệt đới khô với chu kỳ kinh doanh từ 10-
20 năm thì năng suất chỉ đạt từ 5-10m
3
/ha/năm, nhưng trồng ở vùng nhiệt
đới ẩm thì năng suất có thể đạt tới 30m
3
/ha/năm. Kết quả này lại một lần
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
18
nữa khẳng định điều kiện lập địa khác nhau thì năng suất rừng trồng cũng
khác nhau.
Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy việc xác định vùng trồng và
điều kiện lập địa phù hợp với từng loài cây trồng là rất cần thiết và đây cũng
chính là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến năng suất và chất
lượng của rừng trồng.
1.1.4. Ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và chất lượng rừng trồng
Bón phân cho cây trồng lâm nghiệp là một trong những biện pháp kỹ
thuật thâm canh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng, đặc biệt là ở
Mật độ trồng rừng ban đầu cũng là một trong những biện pháp kỹ thuật
lâm sinh quan trọng có ảnh hưởng đến năng suất rừng trồng. Đối với mỗi dạng
lập địa, mỗi loài cây trồng, mỗi mục đích kinh doanh rừng đều có cách sắp xếp,
bố trí mật độ khác nhau. Về vấn đề này đã có rất nhiều các công trình nghiên
cứu với nhiều loài cây khác nhau trên các dạng lập địa khác nhau, điển hình là
các công trình nghiên cứu của Julian Evans (1992) [44] khi nghiên cứu mật độ
trồng rừng cho Bạch đàn E. deglupta ở Papua New Guinea đã bố trí 4 công
thức có mật độ trồng khác nhau (2.985 cây/ha; 1.680 cây/ha; 1.075 cây/ha; 750
cây/ha), số liệu thu được sau 5 năm trồng cho thấy đường kính bình quân của
các công thức thí nghiệm tăng theo chiều giảm của mật độ, nhưng tổng tiết diện
ngang (G) lại tăng theo chiều tăng của mật độ, điều này có nghĩa là rừng trồng
ở mật độ thấp tuy lượng tăng trưởng về đường kính cao hơn nhưng trữ lượng
gỗ cây đứng vẫn nhỏ hơn những công thức trồng ở mật độ cao. Trong một
nghiên cứu khác với thông P. caribeae ở Quensland - Australia, tác giả cũng đã
thí nghiệm với 5 công thức mật độ khác nhau (2.200 cây/ha; 1.680 cây/ha;
1.330 cây/ha; 1.075 cây/ha và 750 cây/ha), sau hơn 9 năm trồng cũng thu được
kết quả tương tự, nhưng ở các công thức trồng mật độ thấp (750 cây/ha - 1.075
cây/ha) có đường kính trung bình đạt từ 20,1 - 20,9cm, số cây đạt đường kính
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
20
(D
1.3
) > 10cm chiếm từ 84% - 86%; Ở công thức mật độ cao đường kính chỉ đạt
từ 16,6 - 17,8cm, số cây có đường kính (D
1.3
) > 10cm chỉ chiếm từ 71% - 76%.
Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy mật độ trồng ảnh hưởng khá rõ
đến chất lượng sản phẩm và chu kỳ kinh doanh, vì vậy cần phải căn cứ vào
mục tiêu kinh doanh cụ thể để xác định mật độ trồng cho thích hợp.
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
có hình thái
trung gian giữa hai loài bố mẹ và tương đối đồng nhất, đến đời F
2
Keo lai có
biểu hiện thoái hóa và phân ly khá rõ rệt, cây lai F
2
sinh trưởng kém hơn cây
lai F
1
và có biến động lớn về sinh trưởng. Do đó, để phát triển giống Keo lai
vào sản xuất thì phải dùng phương pháp nhân giống bằng hom hoặc nuôi cấy
mô từ những dòng Keo lai tốt nhất đã được công nhận là giống Quốc gia và
giống tiến bộ kỹ thuật.
1.2.2. Các nghiên cứu về trồng rừng thâm canh
Trồng rừng thâm canh là vấn đề trước đây có rất ít người quan tâm,
song do nguồn gỗ rừng tự nhiên không còn đáp ứng được nhu cầu về gỗ
ngày càng tăng của xã hội. Bên cạnh đó, diện tích đất qui hoạch cho lâm
nghiệp nói chung ngày càng giảm do phải cắt chuyển sang sử dụng vào
mục đích khác như mở rộng đất nông nghiệp, đất thổ cư, đường… Hơn
nữa, đất qui hoạch cho trồng rừng hầu hết là đất nghèo và xấu, vì thế trồng
rừng thâm canh đã trở thành xu thế tất yếu trong sản xuất lâm nghiệp hiện
nay, nhất là trồng rừng nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến bột giấy
và ván nhân tạo.
Vào những năm 1980, bên cạnh các nước có lịch sử phát triển rừng
theo hướng thâm canh như: Đức,Ý, Thụy Điển,…thì ở Việt Nam vấn đề
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
22
này cũng bắt đầu được quan tâm và đưa ra thảo luận, điển hình là các tác
giả Nguyễn Xuân Xuyên (1985), Phạm Chiến (1986), Vũ Đình Huề (1986),
Phùng Ngọc Lan (1986).
23
Trong các nghiên cứu của Đoàn Hoài Nam (2006) [24] khi đánh giá về
rừng trồng thâm canh tại một số tỉnh Thái Nguyên, Quảng Trị, Gia Lai, Bình
Dương đã chỉ ra rằng chi phí chung cho 01 ha trồng rừng thâm canh Keo lai
cao gấp đôi so với đầu tư trong chương trình trồng rừng sản xuất theo Quyết
định số 661/QĐ-TTg ngày 29 tháng 7 năm 1998 về mục tiêu, nhiệm vụ, chính
sách và tổ chức thực hiện Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và gấp 1,5 lần so
với phương thức trồng rừng bán thâm canh hoặc quảng canh. Tuy nhiên, trên
thực tế trồng rừng thâm canh đã mang lại hiệu quả cao hơn nhiều so với các
phương thức trồng rừng khác. Nếu trồng rừng bằng các loài cây mọc nhanh
theo phương thức quảng canh thì chu kỳ kinh doanh thường dài trên 10 năm
mà năng suất chỉ đạt 7 - 10m
3
/ha/năm, nhưng nếu trồng rừng thâm canh thì
sau từ 7 - 8 năm đã có thể khai thác gỗ với năng suất đạt từ 25 - 30m
3
/ha/năm.
Điều này cho thấy vốn bỏ ra ban đầu được thu hồi sớm hơn, vòng quay nhanh
hơn nên hiệu quả đầu tư vốn cũng cao hơn, thời gian thu hoạch sản phẩm
được rút ngắn nên đất đai được giải phóng sớm để tiếp tục trồng rừng cho chu
kỳ sau sớm hơn (Nguyễn Huy Sơn và cộng sự, 2006) [31].
1.2.2.1. Nghiên cứu cải thiện giống
Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của trồng rừng thâm
canh. Không có giống được cải thiện theo mục đích kinh tế thì không thể đưa
năng suất rừng lên cao. Trong thực tế đã cho thấy, cây rừng nói chung nếu
chọn được giống tốt thì sản lượng gỗ có thể tăng từ 10-20%, có khi tăng tới
30% so với giống bình thường. Đối với giống lai đã được chọn lọc của các
loài cây mọc nhanh có thể tăng từ 50-100% sản lượng gỗ so với giống bố mẹ.
Vì vậy, cải thiện giống cây rừng là nhằm không ngừng nâng cao năng suất,
chất lượng gỗ và các sản phẩm mong muốn khác. Năm 1993, Bộ Lâm nghiệp
lai đầu tiên. Những tổ hợp lai này có sinh trưởng tương đối nhanh, có thân cây
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
25
thẳng, cành nhánh nhỏ, ngọn phát triển tốt, đây chính là cơ sở khoa học làm
tiền đề để phát triển gỗ nguyên liệu cho công nghiệp chế biến trong nước
cũng như xuất khẩu trong những năm tới (Lê Đình Khả, 2006) [12].
1.2.2.2. Ảnh hưởng của điều kiện lập địa đến khả năng sinh trưởng của
rừng trồng
Nghiên cứu điều kiện lập địa tức là nghiên cứu mối quan hệ giữa khả năng
sinh trưởng của thực vật rừng với các yếu tố của môi trường thông qua khí hậu,
địa hình, đất đai. Xác định lập địa nghĩa là tìm hiểu các yếu tố ngoại cảnh ảnh
hưởng và quyết định tới sự hình thành các kiểu quần thể thực vật khác nhau và
năng suất sinh trưởng của chúng (Ngô Quang Đê và cộng sự, 2001) [9]. Đề cập
đến vấn đề này, tại Việt Nam đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu, điển
hình là các công trình nghiên cứu của Đỗ Đình Sâm và cộng sự (1994) [32],
khi đánh giá tiềm năng sản xuất đất lâm nghiệp vùng Đông Nam Bộ, các tác
giả đã căn cứ vào 3 nội dung cơ bản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau đó là
đơn vị sử dụng đất, tiềm năng sản xuất của đất và độ thích hợp của cây trồng.
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng vùng Đông Nam Bộ có tiềm năng sản xuất
kinh doanh lâm nghiệp khá lớn, diện tích đất thích hợp để phát triển các loài
cây lâm nghiệp chiếm từ 70-80%, đặc biệt là các loài cây cung cấp gỗ nguyên
liệu công nghiệp như một số loài Bạch đàn và Keo.
Khi nghiên cứu phương pháp đánh giá về sản lượng rừng trồng Keo lai ở
vùng Đông Nam Bộ, Phạm Thế Dũng và Hồ Văn Phúc (2004) [6] đã chỉ ra
rằng Keo lai cho năng suất khác nhau trên các điều kiện lập địa khác nhau.
Sau 7 năm trồng, năng suất cao nhất đạt 33m
3
/ha/năm trên đất feralit đỏ vàng
nền Sa thạch ở trạm Phú Bình, sau 6 năm trồng chỉ đạt 25m
3