Phong cách thơ Phạm Tiến Duật - Pdf 83

Đại học thái nguyên
TRNG I HC S PHM

Nguyễn Thị Thung
Phong cách
thơ Phạm Tiến Duật Luận văn thạc sĩ văn học

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34 Thái Nguyên - 2008

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Sự nghiệp văn chương của Phạm Tiến Duật khởi từ tuyến đường
mòn vận tải Trường Sơn 559, con đường huyền thoại mang tên Hồ Chí
Minh trong cuộc chiến tranh chống Mỹ của dân tộc. Thơ Phạm Tiến Duật
"đã lưu lại trong lịch sử dân tộc dấu mốc sáng tạo của thơ trữ tình Việt
Nam trên hành trình đi tìm cái đẹp từ trong các sự kiện và in đậm chất sử
thi của một thế kỷ đầy biến động".
Là một gương mặt độc đáo của văn học Việt Nam 1945 - 1975, Phạm
Tiến Duật đã góp phần sáng tạo một thứ ngôn ngữ thơ thô nhám, gân guốc và
được đánh giá là một tác giả tiêu biểu của nền thơ chống Mỹ.
Phạm Tiến Duật cũng là một trong những nhà thơ Việt Nam được chọn
lọc đưa vào giảng dạy ở nhà trường phổ thông. Nhiều bài thơ nổi tiếng của
nhà thơ Trường Sơn đã để lại như: Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Nhớ,
Lửa đèn, Gửi em cô thanh niên xung phong... có lẽ sẽ còn in đậm trong ký ức
lịch sử; bồi đắp cho thế hệ sau lòng yêu nước và tự hào dân tộc.
Thơ Phạm Tiến Duật làm chúng ta như sống lại không khí của những năm
tháng hào hùng, gian khổ nhưng hết sức lạc quan của cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước. Thơ ông gieo vào lòng người đọc niềm tin tưởng ở những phẩm
chất tốt đẹp, vững bền của con người Việt Nam trước những thử thách lịch sử.
Đó là những lý do mà chúng tôi chọn đề tài Phong cách thơ Phạm Tiến
Duật để nghiên cứu. Luận văn muốn khẳng định những giá trị thẩm mỹ cao cả

sự quan tâm đặc biệt từ nhiều phía".
Dưới quan điểm văn nghệ phục vụ chính trị như vậy, nhà nghiên cứu văn
học Nguyễn Ngọc Thiện với bài viết Chỗ mạnh và chỗ yếu trong thơ Phạm
Tiến Duật (in trên Tạp chí Văn học, số 4, 1974) đã khẳng định: "hồn thơ Phạm
Tiến Duật phóng khoáng, rộng mở, cái đẹp của cuộc sống chiến đấu đi vào thơ
ông tự nhiên và rất thật". Ông cho rằng, thơ Phạm Tiến Duật "là tiếng nói khoẻ
khoắn, đôn hậu, bắt nguồn trực tiếp từ cuộc sống chiến đấu sôi nổi mà hào
hùng của dân tộc". Bên cạnh đó, Nguyễn Ngọc Thiện cũng phê phán một số bài

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
thơ như Qua một mảnh trời thành phố Vinh, Vòng trắng...mà trong điều kiện
chiến tranh được coi là có tư tưởng lệch lạc làm yếu sức mạnh của cộng đồng.
Và từ góc nhìn vận động và phát triển của thơ ca dân tộc, nhà thơ, nhà
phê bình Vũ Quần Phương trong bài Một đóng góp của dòng thơ quân đội
vào nền thơ Việt Nam (trong Tạp chí Văn học, số 6, 1979) đã chỉ ra sự kế thừa
những kinh nghiệm của thơ ca dân gian trong thơ Phạm Tiến Duật. Theo Vũ
Quần Phương, điều đó khiến cho thơ Phạm Tiến Duật "đầy rẫy những chi tiết
đời sống đánh Mỹ chính xác, cụ thể như hiện vật trong bảo tàng...". Năm năm
sau, năm 1985, Vũ Quần Phương phát triển bài viết thành bài nghiên cứu tác
giả Phạm Tiến Duật trong cuốn Nhà thơ Việt Nam hiện đại (Nxb Khoa học
Xã hội, Hà Nội, 1985), với tư cách là một nhà thơ trẻ tiêu biểu của nền thơ trữ
tình cách mạng.
Năm 1986, Đỗ Trung Lai cũng có một bài viết rất công phu với nhan đề
Một chặng đường thơ Phạm Tiến Duật (Tạp chí Văn học, số 4, 1986) đã đánh
giá, tổng kết giai đoạn sáng tác trong chiến tranh của Phạm Tiến Duật. Nhà
văn đã khẳng định vai trò của thực tiễn chiến tranh đối với sáng tác của Phạm
Tiến Duật.
Một công trình nghiên cứu tương đối toàn diện về thơ Phạm Tiến Duật

Mỹ có vị trí và có cá tính.
Trong công trình này, chúng tôi kế thừa các ý kiến gợi ý của những
người đi trước, tập trung phân tích Phong cách thơ Phạm Tiến Duật một
cách có hệ thống, có tính thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình
tượng và phương thức nghệ thuật nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác
của Phạm Tiến Duật.
3. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN VĂN
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Như đã nói ở phần trên, đối tượng nghiên cứu của Luận văn này là tính
thống nhất của các yếu tố chỉnh thể trong tác phẩm - sự biểu hiện của tính

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
nghệ thuật thơ Phạm Tiến Duật như là một nét riêng, nét lặp lại hữu hình và
có thể tri giác được trong sáng tác của nhà thơ.
3.2. Nhiệm vụ của Luận văn
- Thứ nhất: Làm sáng tỏ nhận thức về phong cách nghệ thuật nói chung
để làm định hướng khi tìm hiểu về phong cách thơ Phạm Tiến Duật.
- Thứ hai: Thông qua toàn bộ sáng tác, phân tích hệ thống hình tượng
trữ tình, lí giải thế giới nghệ thuật và các phương thức thể hiện đem lại ấn
tượng khi đọc thơ Phạm Tiến Duật, khẳng định phong cách thơ Phạm Tiến
Duật trong nền thơ hiện đại Việt Nam.
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Trong Luận văn, chúng tôi vận dụng phương pháp thống kê, phân
tích, tổng hợp, so sánh và đối chiếu.
- Đồng thời, chúng tôi sử dụng phương pháp liên ngành như văn học
sử, ngôn ngữ học và thi pháp học.
- Luận văn cũng quán triệt quan điểm lịch sử trong suốt quá trình lí giải
về đối tượng nghiên cứu.

độc đáo trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong
trào lƣu văn học hay văn học dân tộc" [13; 207 - 208].
Trong nghĩa rộng, phong cách là nguyên tắc xuyên suốt trong việc xây
dựng hình thức nghệ thuật, đem lại cho tác phẩm tính chỉnh thể có thể cảm
nhận được một giọng điệu và một sắc thái thống nhất. Với ý nghĩa này, người
ta có thể phân biệt được phong cách lớn như phong cách thời đại, phong cách
trào lưu, phong cách dân tộc, phong cách cá nhân của tác giả.
Phong cách là quy luật thống nhất các yếu tố chỉnh thể nghệ thuật, là
một biểu hiện của tính nghệ thuật. Không phải bất cứ nhà văn nào cũng có
phong cách mà chỉ có những nhà văn có tài năng, có bản lĩnh mới có phong

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
cách độc đáo. Cái nét riêng đó thể hiện ở tác phẩm và được lặp đi lặp lại làm
ta có thể phân biệt được tác giả này với tác giả khác. Cái riêng tạo nên sự
thống nhất lặp lại ấy biểu hiện tập trung ở cách cảm nhận độc đáo về thế giới
và ở hệ thống bút pháp nghệ thuật phù hợp với cách cảm nhận của nhà văn.
Nghiên cứu về phong trào Thơ Mới (1932-1945), chúng ta thấy nguyên
tắc xuyên suốt mà các thi sĩ tập trung vào để xây dựng hình tượng nghệ thuật
là đi tìm cái đẹp, khám phá cái đẹp ở bề sâu cái tôi cá nhân. Ta luôn bắt gặp
trong Thơ Mới một cái "tôi" ở vị trí trung tâm cảm hứng, giãi bày, thổ lộ.
"Tôi" chỉ là một khách tình si. "Tôi" chỉ là một kiếp đi hoang. "Tôi" là một cô
hồn. "Tôi" là con chim đến từ núi lạ. "Tôi" là kẻ lạc loài. "Tôi" là chiếc
thuyền say ... "Tôi" trở thành nguyên tắc cắt nghĩa thế giới một cách riêng tư.
Cả tạo vật chỉ là sự phản chiếu của một cái "tôi" tự ý thức về tồn tại của mình,
thế hệ mình. Thế giới cái "tôi" mang lại những giá trị thẩm mĩ mới nhưng
thường là cô đơn, u sầu, lắm khi còn đau đớn, tuyệt vọng. Thế giới Thơ Mới
hoàn toàn đồng nhất vào cái "tôi", một cái "tôi" bao trùm tất cả.
Ở thơ trữ tình cách mạng, đặc biệt là thơ trẻ thời chống Mỹ, các nhà thơ

Thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ là một hiện tượng rất đáng chú ý của văn học
hiện đại Việt Nam, đánh dấu sự xuất hiện, trưởng thành của một thế hệ nhà
thơ và bước phát triển mới của nền thơ ca chiến tranh và cách mạng.
1.2.1. Sự xuất hiện của thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ cứu nƣớc
Từ tháng 8 năm 1964, khi đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh ra
miền Bắc, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước sang
một giai đoạn mới gay go, căng thẳng và vô cùng ác liệt. Phản ánh kịp thời và
động viên chiến đấu, sản xuất, xây dựng chủ nghĩa xã hội là một trong những
nhiệm vụ hàng đầu của nền văn học nói chung và thơ ca nói riêng trong thời
kỳ chống Mỹ. Đó không chỉ là đòi hỏi cả thời đại mà còn là sự thôi thúc bên
trong của chính các nhà thơ. Nhanh nhạy và kịp thời, nền thơ hiện đại nóng
bỏng tính thời sự, hừng hực tinh thần chiến đấu của chúng ta đã "nhập cuộc"
tham gia vào cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của toàn dân tộc. Suốt trong
những năm tháng chiến tranh, các thế hệ nhà thơ đã tiếp bước nhau dàn quân

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
trên những mặt trận với cảm hứng chủ đạo là thể hiện khát vọng độc lập tự do
và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con người Việt Nam trong thời đại
chống Mỹ.
Nền thơ chống Mỹ được hình thành từ nhiều thế hệ nhà thơ: Thế hệ nhà
thơ xuất hiện từ trước Cách mạng (Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy
Cận, Tế Hanh...), thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ chống Pháp (Chính
Hữu, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông...) và thế hệ nhà thơ ra đời trong
thời kỳ chống Mỹ. Mỗi thế hệ nhà thơ nói trên đều có thế mạnh riêng và có
những đóng góp đáng ghi nhận đối với nền thơ chống Mỹ. Chỉ trong vòng mười
năm, nền thơ chống Mỹ đã liên tiếp xuất hiện một đội ngũ những gương mặt thơ
trẻ như Thái Giang, Nguyễn Mỹ, Bằng Việt, Lê Anh Xuân, Dương Hương Ly,
Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Vũ Quần Phương, Phan Thị Thanh Nhàn,

Ở chặng đường đầu tiên này, đội ngũ những nhà thơ trẻ bước đầu được
khẳng định với sự xuất hiện của những cây bút như Bằng Việt, Xuân Quỳnh,
Lưu Quang Vũ, Lê Anh Xuân, Nguyễn Mỹ, Dương Hương Ly, Phạm Ngọc
Cảnh, Vũ Quần Phương, Lữ Huy Nguyên, Cảnh Trà, Vương Trọng...Những
nhà thơ trẻ này, lúc đầu được tập hợp và giới thiệu trong tập thơ Sức mới,
(1965, Nxb Văn học, Hà Nội). Nhà thơ Chế Lan Viên viết tựa cho tập thơ đã
biểu dương "Điều đáng yêu nhất của tập thơ này là nó nồng ấm cái hơi thở
của cuộc sống, của chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc nước ta". Nhìn chung, thơ
của các nhà thơ trẻ chặng đường này vừa trẻ trung tươi tắn, vừa bồng bột sôi
nổi. Các tác giả đều chọn lọc chất liệu cuộc sống theo hướng thi vị hoá. Cảm
xúc trong thơ họ vừa mang đậm màu sắc lí tưởng, ít nhiều còn vương dấu vết
của sách vở nhà trường. Những mô típ quen thuộc trong thơ chặng đường này
thường là những buổi chia tay, những đêm hành quân, những dự cảm vào
cuộc vv... thể hiện khát vọng ra trận của tuổi trẻ thời đại chống Mỹ.
Thơ của những nhà thơ trẻ chặng đường này rưng rưng cảm xúc, thấm
đậm chất trữ tình, chứa chan chất men say nồng của tuổi trẻ. Họ nói tới khao

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
khát của thế hệ trẻ được cầm súng trực tiếp chiến đấu bằng một cảm xúc chân
thành, trong sáng nhất:
Ôi ta thèm được cầm khẩu súng
Đi giữa đoàn quân cùng với bạn bè
Nằm chờ giặc trên quê hương anh dũng
Ta cay nồng mùi lá rụng bờ tre.
(Gửi Bến Tre - Lê Anh Xuân)
Những năm đầu của cuộc chiến tranh, thơ của các nhà thơ trẻ còn bồng
bột, mang cái nhìn lãng mạn. Hình ảnh thế hệ trẻ cầm súng chỉ thấp thoáng
trong thơ họ. Có chăng đó chỉ là hình ảnh những bước chân du kích, những

Ngọt ngào như nước dừa xiêm
Yêu dáng em đi qua cầu tre lắt lẻo
Dịu dàng như những nàng tiên.
Trong những năm cuối của chặng đường thứ nhất, thơ trẻ bắt đầu giàu
có thêm nhờ chất suy nghĩ và khả năng khái quát. Tuy nhiên, về cơ bản, sự
từng trải, sự chiêm nghiệm cá nhân, sự lắng đọng trong suy tư còn ít thấy
trong thơ của những nhà thơ trẻ chặng đường này. Không khí của cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước đã được gợi lên một phần trong thơ của các nhà thơ
trẻ nhưng hiện thực nóng bỏng của cuộc chiến đấu chưa nhiều ở các trang thơ.
Hình ảnh con người và thời đại chống Mỹ chủ yếu được nhấn mạnh ở cái
thanh tao, đường hoàng, cái thơ mộng của cuộc sống và con người trong lửa
đạn: một tiếng gà trưa, nụ cười, tiếng hát, nhịp đập bình yên của trái tim con
người làm nổi bật "cái yên trong cái động", "sự sống át cái chết", cái bình
thản tự tin của một dân tộc gan góc, bất khuất, kiên cường.
Nhìn chung, các tác giả thơ trẻ chặng đường này đều có khuynh hướng
đi tìm chất thơ trong mảng đời sống trong trẻo của chiến tranh. Nhưng thơ
chặng đường này đã tạo tiền đề hết sức quan trọng cho sự phát triển của thơ
trẻ chống Mỹ ở những chặng đường sau.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
1.2.2.2. Chặng đường thứ hai: từ 1969 đến 1972
Cùng với những tác giả xuất hiện ở chặng thứ nhất, đến chặng thứ hai
này đội ngũ thơ trẻ được bổ sung thêm nhiều cây bút tài năng khác như Phạm
Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Vương Anh, Bế Kiến Quốc, Phan Thị Thanh
Nhàn, Vương Trọng.... Chính sáng tác của những nhà thơ trẻ này đã góp phần
quan trọng đưa nền thơ chống Mỹ phát triển đến đỉnh cao, làm thay đổi bộ
mặt của cả nền thơ chống Mỹ. Ở chặng đường này, những nhà thơ trẻ đã thực
sự khẳng định được tiếng nói riêng của thế hệ mình qua những vần thơ giàu

Thơ trẻ chặng đường này vẫn tiếp tục viết về đề tài quê hương, đất
nước, nhưng với một ý thức tự giác cao hơn và tình cảm sâu nặng hơn. Sự
thống nhất cao độ giữa ý thức của nhà thơ với trách nhiệm công dân, tư cách
người chiến sĩ cầm súng đã tạo nên cho những trang thơ của những nhà thơ
trẻ một chiều sâu mới trong nhận thức và trong tình cảm. Thấm thía hơn thực
tế chiến tranh, các nhà thơ trẻ càng nhận rõ hơn trách nhiệm của mình, càng
thấy mình gắn bó sâu nặng hơn với nhân dân, với đất nước. Thơ họ chính là
tiếng lòng những con người trực tiếp cầm súng, lấy máu mình để giữ gìn, bảo
vệ non sông. Vùng làng của Phạm Tiến Duật, Mùa giống của Cảnh Trà, đặc
biệt là những trang thơ của Nguyễn Khoa Điềm đã nói lên một cách thấm thía
và đầy xúc động tình cảm thiêng liêng, sâu nặng ấy.
Thơ trẻ chống Mỹ ở chặng đường thứ hai này đã đạt tới một mức độ
nhất định chiều sâu của suy nghĩ và tầm cao của sự khái quát. Thường là từ
những chi tiết, những hình ảnh thực của chiến tranh, của đời sống chiến
trường, các nhà thơ trẻ đã soi rọi vào đó luồng ánh sáng của tư tưởng để làm
nổi bật lên ý nghĩa nhân sinh sâu sắc. Và cũng thường từ những chi tiết,
những hình ảnh cụ thể, các nhà thơ trẻ đã "quy nạp", tổng hợp, nâng lên thành
những khái quát. Từ những trái cây chín, từ một ngọn" lửa đèn, Phạm Tiến
Duật đã khái quát thành sức sống tiềm tàng, bất diệt của đất nước và con
người Việt Nam. Từ những tiếng chim kể chuyện trên đồi chốt, nhà thơ nói
tới nỗi đau một thời bị cắt chia: "Mẹ ơi đất nước cắt chia - Tiếng kêu con

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
cuốc vọng về quả tim". Từ hơi ấm ổ rơm, bằng hình ảnh "rơm vàng bọc tôi
như kén bọc tằm", tác giả nói lên một cách thấm thía, sự gắn bó máu thịt của
tình quân dân, những phẩm chất, đức tính tốt đẹp của con người Việt Nam.
1.2.2 3. Chặng đường thứ ba: từ 1973 đến 1985
Đến chặng này, thơ trẻ chống Mỹ được bổ sung thêm những nhà thơ

nhưng nhất định không bao giờ bỏ cuộc.
(Thanh Thảo)
Thế hệ chúng con ồn ào, dày dạn
Sống thì đi mà chết thì nằm
(Trần Mạnh Hảo)
Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình
nhưng tuổi 20 làm sao không tiếc?
nhưng ai cũng tiếc tuổi 20
thì còn chi Tổ quốc?
(Thanh Thảo)
Sáng tạo những vần thơ giàu chất suy nghĩ, triết lý, những hình
tượng thơ mang ý nghĩa khái quát là xu hướng chính của thơ trẻ ở chặng
đường này. Cũng chính ở chặng đường này, khuynh hướng muốn phản ánh
những mảng hiện thực lớn của chiến tranh, tổng kết cuộc chiến tranh ái
quốc vĩ đại đã xuất hiện như một đòi hỏi chính đáng của thời đại. Không
phải ngẫu nhiên mà từ sau 1975, thơ trẻ chống Mỹ xuất hiện hàng loạt
những trường ca viết về chiến tranh, thể hiện khát vọng tổng kết cuộc chiến
thông qua cách nhìn và sự trải nghiệm riêng của mỗ i nhà thơ. Những người
đi tới biển, Những ngọn sóng mặt trời của Thanh Thảo, Đường tới thành
phố của Hữu Thỉnh, Trường ca sư đoàn của Nguyễn Đức Mậu, Mặt trời
trong lòng đất, Đất nước hình tia chớp của Trần Mạnh Hảo, Con đường
của những vì sao của Nguyễn Trọng Tạo...là sự thể hiện cụ thể những khát
vọng đó. Với những đặc trưng và ưu thế của thể trường ca, trong những
trường ca tiêu biểu của chặng đường này, các nhà thơ trẻ đã kết hợp khá

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

17
nhuần nhuyễn giữa trữ tình và tự sự, đan xen phối hợp nhiều thể thơ trong
một trường ca, phác hoạ được nhiều chân dung của nhân vật trữ tình nhằm

phương diện này, có thể xem thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ là một dòng thơ giàu
có chi tiết cụ thể, sống động. Nhiều nhà thơ trẻ đã mạnh dạn đưa vào thơ
những chi tiết ngổn ngang, bề bộn của đời sống chiến trường, vừa độc đáo lại
giàu chất sử thi.
Sống giữa chiến trường, những nhà thơ trẻ đã chứng kiến tận mắt
những cảnh tượng dữ dội, ác liệt của chiến tranh nên có thể nói, họ đã ghi lại
một cách đầy đủ về quang cảnh chiến trường Trường Sơn. Có những sự thật
trần trụi tưởng chừng như vô lí ở Trường Sơn cũng được các tác giả ghi lại :
Cây lá thiếu màu xanh
Rừng hoang thừa tiếng nổ
(Trường ca sư đoàn - Nguyễn Đức Mậu)
Sống giữa chiến trường đầy gian khổ và ác liệt, các nhà thơ vẫn kể
bằng một giọng điềm tĩnh, bình thản:
Cạnh giếng nước có bom từ trường
Em không rửa ngủ ngày chân lấm
Ngày em phá nhiều bom nổ chậm
Đêm nằm mơ nói mớ vang nhà
(Gửi em cô thanh niên xung phong - Phạm Tiến Duật)
Không phải là người đứng ngoài để tưởng tượng về chiến tranh nữa,
các nhà thơ trẻ đã thực sự sống giữa chiến trường. Cái thế mạnh của người
trong cuộc này đã tạo nên những vần thơ giàu chi tiết chân thực:
- Đây Quảng Trị lần đầu ta gặp
Bom B52 cắt dọc đội hình
- Dọc triền sông súng nổ đêm ngày
- Sau trận đánh ta còn nghe súng nổ
- Bom dội từ trời sâu, đạn nổ dưới chân trời.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

19

20
cả"- "Cứ đói ròng con gái hoá con trai". Phải từng sống ở ngã ba Chân Vạc,
nơi được mệnh danh là "túi bom" của Quảng Trị, Hữu Thỉnh mới ghi được
hình ảnh:
Nồi cơm chiến trường phải đội bốn tấn bom
Hạt sống vãi cùng hạt khét
(Ngã ba Chân Vạc)
Đồng hành với cái đói là những cơn sốt rét. Thơ ca thời kỳ kháng chiến
chống Pháp, khi nói tới người lính cũng thường nhắc đến căn bệnh quái ác
này. Ấy là khi Tố Hữu ghi lại hình ảnh anh vệ quốc quân: "Giọt giọt mồ hôi
rơi - Trên má anh vàng nghệ" (Cá nước). Quang Dũng khắc hoạ hình tượng
người lính Tây Tiến: "Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc - Quân xanh màu lá
dữ oai hùm" (Tây Tiến). Chính Hữu miêu tả cụ thể cơn sốt ớn lạnh run người
của người lính: "Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh - Sốt run người vừng trán
ướt mồ hôi" (Đồng chí)..... Không dùng bút pháp lãng mạn, các nhà thơ trẻ
thời kỳ chống Mỹ dùng bút pháp hiện thực để miêu tả cụ thể chi tiết hơn căn
bệnh đặc trưng của chiến trường. Chỉ nhìn những "dấu chân qua trảng cỏ",
Thanh Thảo rưng rưng cảm động, bùi ngùi hình dung ra những người đồng
đội của mình: "Những người sốt rét đang cơn - Dấu chân bấm xuống đường
trơn có nhoè?" Hữu Thỉnh trong trường ca Đường tới thành phố nhiều lần nói
đến "cơn sốt rét rừng run bắn". Trong thơ Nguyễn Đức Mậu, căn bệnh sốt rét
cứ trở đi trở lại. Nó bám riết tuổi thanh xuân của người lính: "Nơi thuốc súng
trộn vào áo lính - Cơn sốt rét rừng đi dọc tuổi thanh xuân" (Trường ca sư
đoàn). Nhà thơ như "vật vã" cùng với người lính trong những trận sốt rét ác
liệt giữa giữa rừng sâu khi "cơn sốt rét ngấm vào tận cùng cơ thể ".
Thơ trẻ ở những chặng đầu ca ngợi sự hi sinh của những người lính,
Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân, Nấm mộ và cây trầm của Nguyễn
Đức Mậu, Khoảng trời và hố bom của Lâm Thị Mỹ Dạ hướng tới việc khẳng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

22
Đã nghe nhỏng nhảnh chim rừng tán nhau
(Tiếng chim sau trận B52 - Nguyễn Duy)
- Giữa một vùng lửa cháy bom rơi
Tất cả lộ nguyên hình trần trụi
Cây xấu hổ với màu xanh bối rối
Tự dấu mình trong lá khép lim dim
(Cây xấu hổ- Anh Ngọc)
Viết về thế hệ trẻ cầm súng, các nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ tập trung
làm nổi bật hình ảnh của những con người mang trong mình dòng máu tươi
trẻ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, trẻ trung và rất đỗi yêu đời trong hoàn
cảnh chiến đấu vô cùng gian khổ, ác liệt. Có nói đến cảnh đạn bom dữ dội,
nhưng thơ trẻ không gây cảm giác hãi hùng, ghê rợn, bởi vì thơ trẻ chỉ cốt ghi
lại chân dung của thế hệ mình. Đọc thơ của Phạm Tiến Duật, Hoàng Nhuận
Cầm, Nguyễn Duy.... người đọc sẽ thấy rất rõ điều này. Hình ảnh người lính
qua thơ của các nhà thơ trẻ không chỉ là những con người bình tĩnh, can
trường, dũng cảm mà còn là những con người có đời sống tinh thần, đời sống
nội tâm phong phú. Đời sống nội tâm ấy được thể hiện qua những tình cảm,
suy nghĩ về tình đồng đội, tình cảm với quê hương, với người mẹ và những
người thân thiết ở hậu phương. Có thể nói rằng, bằng chính máu thịt của tâm
hồn mình, các nhà thơ trẻ thời kỳ chống Mỹ đã dựng lên một cách cụ thể và
sinh động bức chân dung tinh thần của cả một thế hệ trẻ cầm súng: "cả thế hệ
dàn hàng - gánh đất nước trên vai" (Bằng Việt).
Nhạy cảm và giàu vốn sống chiến trường, mỗi nhà thơ trẻ gắn bó máu
thịt với một vùng hiện thực, một vùng thẩm mỹ riêng. Và bằng cách nhìn, cách
khai thác riêng của mình, họ đã phản ánh chân thực từng mảng hiện thực riêng
độc đáo ấy, tất cả hợp lại, tạo thành bức tranh toàn cảnh về cuộc kháng chiến
chống Mỹ. Thơ trẻ chống Mỹ thực sự trở thành một dòng thơ có sức sống trẻ

ngẫm, tự bạch, tự phân tích, tự biểu hiện, độc thoại, đối thoại với thế hệ mình,

Trích đoạn Đặc điểm ngôn ngữ thơ ca Ngôn ngữ đời thường giản dị, tự nhiên Nghệ thuật cấu tứ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status