BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
Vũ Thị Hiệp
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CHO
QUY HOẠCH BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG TẠI XÃ
ÂN TÌNH, HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, năm 2009
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
Vũ Thị Hiệp
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CHO
QUY HOẠCH BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG TẠI XÃ
ÂN TÌNH, HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
Xã là đơn vị hành chính nhỏ nhất trong hệ thống các đơn vị hành chính ở
nước ta, cấp xã có vị trí rất quan trọng trong việc ổn định xã hội và phát triển
kinh tế trên địa bàn nông thôn nói chung và vùng miền núi có đồng bào dân
tộc thiểu số sinh sống nói riêng, có thể nói xã là cánh tay nối dài của chính
quyền cấp huyện do đó cần hiểu rõ thêm vị trí của cấp xã trong việc quy
họach bảo vệ phát triển rừng tại địa phương. Trong phát triển kinh tế xã hội
của nông thôn, miền núi nước ta, quy họach bảo vệ và phát triển rừng cấp xã
có sự tham gia của người dân giữ một vị trí hết sức quan trọng nhằm giúp
người dân có kế họach bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng một cách hợp lý, đạt
hiệu quả cao trên nguyên tắc bền vững, bảo đảm hài hịa giữa lợi ích kinh tế
với lợi ích xã hội và mơi trường sinh thái.
Tuy nhiên hiện nay quy họach bảo vệ và phát triển rừng cấp xã đang còn
nhiều vấn đề như hạn chế về quan điểm quy họach, phương pháp tiến hành
2
lập quy họach, hệ thống chính sách phức tạp, khơng thống nhất và khó áp
dụng cho từng địa phương, sự phân định ranh giới, tiêu chuẩn phân chia các
lọai rừng và đất rừng chưa cụ thể gây khó khăn cho công tác quy họach. Quy
họach bảo vệ phát triển rừng cấp xã chưa có sự thống nhất về mặt quan điểm
và phần lớn các quy họach dựa trên bản đồ hiện trạng và dựa trên sự phân
định ranh giới ba lọai rừng và phân bố đất đai mà chưa áp dụng phương pháp
đánh giá tiềm năng đất đai, nhu cầu và khả năng của thị trường.
Hơn nữa việc quy họach bảo vệ và phát triển rừng phần lớn đang được
thực hiện dựa vào phương pháp từ trên xuống do vậy hạn chế sự tham gia của
người dân. Phương pháp quy họach thường xem nhẹ mối quan hệ tổng hòa
giữa các yếu tố liên quan vì vậy thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn khi đề ra
định hướng, chiến lược phát triển cũng như các giải pháp kinh tế, xã hội và kỹ
thuật trong quá trình quy họach bảo vệ và phát triển rừng
hướng dẫn QHSD đất hỗ trợ cho quy hoạch cơ sở hạ tầng cho trồng rừng [51].
Năm 1966 Hội đất học của Mỹ Và Hội nông học Mỹ cho ra đời chuyên khảo
về hướng dẫn điều tra đất, đánh giá khả năng của đất và ứng dụng trong
QHSD đất. Tại Mỹ, bang Wiscosin đã ra đạo luật sử dụng đất đai vào năm
1929, tiếp theo là xây dựng kế hoạch sử dụng đất đầu tiên cho vùng Oneide
của Wiscovin. Kế hoạch này đã xác định các diện tích cho sử dụng lâm
nghiệp, nơng nghiệp và nghỉ ngơi giải trí [50]. Hạn chế của quy hoạch này là
tạo việc khai thác rừng quảng canh, khơng kiểm sốt lửa rừng và chống xói
mịn.
Năm 1985 một nhóm chun gia tư vấn quốc tế về QHSD đất được tổ
chức FAO thành lập nhằm xây dựng một quy trình QHSD đất. Theo Purnell
năm 1988, mục tiêu của QHSD đất đựợc các chuyên gia xác định là “Thiết
lập các kế hoạch thực tiễn có khả năng sử dụng tốt nhất các loại đất đai nhằm
đạt được các mục tiêu khác nhau để tăng sản xuất quốc gia, cải thiện đời
sống, bảo vệ môi trường, đạt các lợi ích xã hội và giải trí”. 4 câu hỏi nền tảng
của quy hoạch đất đai là: Các vấn đề nào đang tồn tại và mục tiêu quy hoạch
là gì? Có các phương án sử dụng đất nào? Phương án nào là tốt nhất? Có thể
vận dụng vào thực tế như thế nào?.
4
Khi xây dựng khung đánh giá đất đai, lần đầu tiên tổ chức FAO năm
1976 đã đề xuất cấu trúc khung QHSD đất với 10 điểm chính [42]. Trong đó
phân loại đánh giá và đề xuất các kiểu và dạng sử dụng đất được xét như là
các bước chính trong q trình quy hoạch.
Trên cơ sở đó nhiều nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu các phương
pháp quy hoạch lâm nghiệp cấp địa phương và phương pháp QHLN cấp địa
phương có thể được khái quát bằng 2 cách tiếp cận chủ yếu: tiếp cận từ trên
xuống (Top-down Approach) và tiếp cận từ dưới lên (Bottom-up Approach).
nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất cấp địa phương. Luning năm 1990,
lần đầu tiên nghiên cứu kết hợp đánh giá đất đai với phân tích hệ thống canh
tác cho QHSD đất [49]. Năm 1994 một nhóm chuyên gia tư vấn của FAO đã
cơng bố quy trình kết hợp đánh giá đất đai với phân tích hệ thống canh tác
cho QHSD đất. Phương pháp này có tên gọi là LEFSA [48], nó có hạn chế là
địi hỏi hệ thống thơng tin phân tích lớn, khó áp dụng cho quy hoạch địa
phương. Theo Erwin năm 1999, phân tích hệ thống canh tác là cơng cụ cho
phân tích các trở ngại trong hệ thống nơng trại hộ gia đình để xác định mục
tiêu quy hoạch, xác định các kiểu sử dụng đất hiện tại và phương án sử dụng
đất mới, đánh giá các phương án sử dụng đất khác nhau nhằm mục đích lựa
chọn phương án tốt nhất [41].
1.2 Việt Nam
Đảng và Nhà nước ta từ lâu đã có những chủ trương, chính sách cụ thể
cho việc quy hoạch phát triển lâm nghiệp cấp xã, cụ thể như:
Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu
“Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật,
đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ
chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài” (Điều 18) [8]. Luật đất
đai năm 1993 quy định rõ 6 loại đất với 5 quyền sử dụng tuỳ theo từng loại
đất và mục đích sử dụng mà được giao cho tổ chức, cá nhân quản lý và sử
dụng. Luật đất đai nêu rõ trong điều 13 là quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử
dụng đất đai là một trong 7 nội dung quản lý nhà nước đối với đất đai [21].
Luật Đất đai là cơ sở pháp lý cơ bản nhất cho QHLN.
Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 phân định rõ 3 loại rừng làm cơ
sở cho QHLN [22]. Theo biên bản hội thảo quốc gia về “Quy hoạch sử dụng
đất và giao đất lâm nghiệp” năm 1997 nhiều ý kiến cho rằng cần nghiên cứu
tính thống nhất giữa 2 luật: Luật đất đai và Luật bảo vệ và phát triển rừng
6
Vào đầu thập kỷ 90, các vấn đề QHLN cấp vi mô được nhiều tác giả đề
cập và nghiên cứu. Các nghiên cứu của Reichenberg (1992) [24] và các nhà
7
nghiên cứu trong nước đều cho rằng Việt Nam chưa có QHSD đất, quy hoạch
QHLN cấp vi mơ được xây dựng trên cơ sở xem xét mọi khía cạnh của tất cả
các ngành trong tương lai, vì vậy việc tiến hành QHLN còn thiếu cơ sở thực
hiện.
Năm 1990 Tổng cục quản lý ruộng đất có ban hành bản hướng dẫn
QHSD đất vi mô theo thông tư số 106/ĐKTĐ [25]. Nhiều tỉnh thực hiện quy
hoạch vi mô theo hướng dẫn này. Tuy nhiên, khi triển khai gặp những khó
khăn về phương pháp chưa thống nhất. Dù sao quy hoạch vi mô cũng là tiền
đề để thay đổi cách nhìn về quy hoạch cấp xã trong những năm tiếp theo. Khi
khảo sát 5 tỉnh Trung tâm miền núi phía bắc Việt Nam Reichenberg năm 1992
cho rằng quy hoạch vi mô ở Việt Nam nên được nghiên cứu để phát triển khái
niệm quy hoạch cấp xã trên 4 khía cạnh sau [24]:
- Phủ toàn bộ đất đai trong xã, nghĩa là quy hoạch lâm nông nghiệp dựa
trên quy hoạch sử dụng đất trên tồn bộ diện tích hành chính trong xã.
- Phối hợp các kế hoạch và các hoạt động giữa các cơ quan nhà nước,
nghĩa là khi quy hoạch phải đề cập đến quy hoạch của các ngành do cơ quan
quản lý nhà nước quản lý.
- Quy hoạch sử dụng đất phục vụ cho giao đất và cấp giấy chứng nhận để
sử dụng đất tốt hơn, tạo điều kiện cho cộng đồng tiến hành quy hoạch phát
triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi, cơ sở hạ tầng.
- Chuẩn bị và phê duyệt quy hoạch đất theo đúng luật định.
Trong đầu những năm 90, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ra đời năm
1991, Luật Đất đai sửa đổi năm 1993 và đặc biệt là các Nghị định 02 năm
1994, Nghị định 01 năm 1995, Nghị định 64 năm 1993 là cơ sở tiền đề cho
cấp xã được thực hiện tại xã Tử Nê huyện Tân Lạc và xã Hang Kia, Pà Cị
huyện Mai Châu tỉnh Hồ Bình do Dự án đổi mới chiến lược phát triển lâm
nghiệp từ năm 1993. Theo Nguyễn Văn Tuấn năm 1996, QHSD đất được coi
là một nội dung chính và được thực hiện trước khi giao đất trên cơ sở tôn
trọng tập quán nương rẫy cố định, lấy xã làm đơn vị để lập kế hoạch và giao
đất, có sự tham gia tích cực của người dân, già làng, trưởng bản, chính quyền
xã [34]. Bản đánh giá về trường hợp Tử Nê cho thấy cần phải có một kế
hoạch sử dụng đất chi tiết hơn hiện nay thì mới đáp ứng được yêu cầu, tránh
được các mâu thuẫn của cộng đồng phát sinh sau quy hoạch. Đề nghị ở đây là
điều chỉnh và thời sự hoá kế hoạch là hết sức cần thiết.
9
Chương trình phát triển nơng thơn miền núi giai đoạn 1996-2000 trên
phạm vi 5 tỉnh: Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Phú Thọ đã tiến
hành thử nghiệm QHLN cấp xã trên cơ sở xây dựng kế hoạch phát triển cấp
thơn và hộ gia đình. Theo Bùi Đình Tối và Nguyễn Văn Nam năm 1998, tỉnh
Lào Cai đã xây dựng mơ hình sử dụng PRA để tiến hành QHSD đất, tỉnh Hà
Giang đã xây dựng quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất 3 cấp: xã, thôn và
hộ gia đình. Đến năm 1998 trên tồn vùng dự án có 78 thơn bản được quy
hoạch sử dụng đất theo phương pháp cùng tham gia. Phương pháp QHSD đất
dựa trên PRA căn cứ vào nhu cầu và nguyện vọng của người sử dụng đất, với
cách tiếp cận từ dưới lên tạo ra kế hoạch có tính khả thi cao hơn [4], [10]. Tuy
nhiên, phương pháp trên cũng bộc lộ một số mâu thuẫn giữa nhu cầu của cộng
đồng và định hướng của nhà nước và các kế hoạch của tỉnh, huyện. Vấn đề
này cũng xuất hiện và được phê phán trong trường hợp ở Yên Châu tỉnh Sơn
La. Vấn đề nghiên cứu ở đây là có một phương pháp quy hoạch địa phương
sao cho kết hợp hài hoà giữa ưu tiên của chính phủ và nhu cầu của cộng đồng
. Vũ Văn Mễ và Desloges năm 1996 đã thử nghiệm phương pháp QHSD đất
Kinh nghiệm này đang được đúc rút cho giai đoạn tiếp theo của dự án được
triển khai trên 4 xã mới.
Từ những căn cứ trên cho thấy xã có một vai trị, vị trí và chức năng
rất lớn đối với cơng tác quy họach phát triển lâm nghiệp.
Do vị trí đặc thù của xã so với các cấp hành chính cao hơn, nên luận án
tiến sĩ của tác giả Nguyễn Bá Ngãi[17] đã đưa nêu: Trong quy họach phát
triển lâm nông nghiệp cấp xã có 3 chức năng cơ bản sau đây:
+ Thể hiện định hướng và chiến lược phát triển của Đảng và Nhà nước
thông qua việc coi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, quy họach
phát triển lâm nông nghiệp cấp trên là những căn cứ cho quy họach phát triển
quy họach lâm nông nghiệp cấp xã;
+ Phát huy quyền dân chủ của người dân địa phương thơng qua sự tham
gia của họ vào q trình quy họach và đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của
cộng đồng.
+ Là cơng cụ quản lý q trình tổ chức sản xuất lâm nông nghiệp cấp xã.
Chức năng thứ nhất và thứ hai thể hiện vị trí của quy họach phát triển
lâm nông nghiệp xã được coi là địa điểm mà ở đó kết hợp hài hịa giữa quy
họach vĩ mơ và quy họach vi mô, giữa định hướng phát triển và nhu cầu,
nguyện vọng của nhân dân, giữa lãnh đạo và quyền làm chủ, nguyên tắc tập
11
trung dân chủ trong sản xuất được thể hiện một cách đầy đủ. Như vậy quyền
lãnh đạo và quyền dân chủ trong sản xuất được xác lập ngay trong quá trình
quy họach phát triển sản xuất lâm nơng nghiệp. Chức năng thứ ba xác định
một trong những quyền quản lý Nhà nước cơ bản của cấp xã đối với sản xuất
lâm nơng nghiệp.
Trong giáo trình Quy họach sử dụng đất của Trần Hữu Viên [37] có đề
cập đến chức năng của cấp xã trong công tác QHSD đất như sau: “ Giải quyết
phương.
2.2 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nêu trên đề tài tập trung vào nghiên cứu các
nội dung chủ yếu sau:
- Nghiên cứu những cơ sở QHSD đất sản xuất lâm nghiệp, quy hoạch
bảo vệ và phát triển rừng tại địa phương.
- Phân tích q trình QHSD đất, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng
đã áp dụng tại địa phương.
- Đề xuất phương án quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tại địa
phương.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Chọn điểm nghiên cứu
Để giải quyết những nội dung trên, đề tài tiến hành chọn điểm nghiên
cứu theo những tiêu chuẩn chọn mẫu nghiên cứu mà Donovan ( 1997) đã đưa
ra.
- Chọn xã nghiên cứu: Với mục tiêu nghiên cứu những cơ sở khoa học và
thực tiễn cho quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp xã. Xã nghiên cứu phải
có đầy đủ các hoạt động sản xuất lâm nông nghiệp để phục vụ cho việc
nghiên cứu. Vì vậy đề tài chọn xã Ân Tình là một xã đáp ứng được các tiêu
chí trên.
- Chọn thơn nghiên cứu: chọn thơn có cơ cấu đất đai đặc trưng cho toàn
xã gồm: rừng tự nhiên, rừng trồng, đất trống, đồi núi trọc đồng thời thôn phải
tham gia trong vùng dự án quy hoạch. Có mật độ dân cư, trình độ dân trí, phát
13
triển kinh tế ở mức trung bình so với các thôn khác trong xã. Qua phỏng vấn
lãnh đạo xã kết hợp với phân tích những thơng tin về điều kiện dân sinh, kinh
tế, đề tài chọn thôn Thẳm Mu là thơn đáp ứng các tiêu chí trên làm đối tượng
14
Lĩnh vực trồng trọt điều tra theo các chỉ tiêu: các thông tin chung về
cây trồng; năng suất cây trồng của xã; mức độ thâm canh cây trồng ở thôn;
tổn thất cây trồng của xã; đầu tư của xã; thông tin về khuyến nơng khuyến
lâm thơn bản; tình hình giao đất nông nghiệp.
Điều tra lĩnh vực lâm nghiệp theo các chỉ tiêu: tình hình sử dụng đất
lâm nghiệp; tình hình giao đất lâm nghiệp; tình hình quản lý rừng; tình hình
đầu tư và phát triển rừng; tình hình lợi dụng rừng; tình hình bảo vệ rừng.
2.3.3.3 Sử dụng cơng cụ đánh giá nơng thơn có sự tham gia của người dân
(PRA)
Công cụ PRA được lựa chọn để điều tra bổ sung cho các nghiên cứu
chuyên đề được mô tả trong biểu 2.1
Bảng 2.1: Công cụ PRA cho điều tra tại các điểm nghiên cứu
Các công cụ
PRA áp dụng
Xây dựng sa bàn
và vẽ sơ đồ
thơn
Biểu đồ hướng
thời gian
Phân tích lịch
mùa vụ
Khảo
sát
điểm/đi lát cắt
Phân loại kinh tế
HGĐ
Phỏng vấn HGĐ
Phân loại xếp
hạng cho điểm
Phân tích tổ
chức
Thảo luận nhóm Dự kiến các hoạt Dự kiến các hoạt Dự kiến các hoạt
động và ưu tiên
động và ưu tiên động và ưu tiên
Họp dân
Nối ghép các hoạt động và dự thảo kế hoạch hành động
thôn, thống nhất kế hoạch phát triển xã.
15
+ Điều tra và lập kế hoạch lâm nghiệp
- Thảo luận nhóm nơng dân bên sơ đồ về các vấn đề hiện trạng sử dụng
đất và ranh giới các loại hình sử dụng đất, nhu cầu về sản xuất và sử dụng đất,
những khó khăn và thách thức.
- Điều tra tuyến (đi lát cắt) xác minh lại trên bản đồ, đánh giá bổ sung
về tài nguyên và khoanh vùng hệ thống canh tác. Tại mỗi điểm khảo sát tiến
hành thảo luận với cán bộ kỹ thuật của địa phương và nông dân để xác định
và khoanh vùng các kiểu sử dụng đất, phân tích các đặc điểm được thực hiện
trên phạm vi xã và đề xuất giải pháp.
- Họp dân trình bày kết quả và thống nhất kế hoạch của thôn.
2.3.3.4 Phương pháp đánh giá đất đai
Tài nguyên đất của xã được thu thập và đánh giá dựa trên bản đồ tài
nguyên đất tỷ lệ 1:10.000, kết hợp với điều tra khảo sát bổ sung trên thực địa.
2.3.3.5 Phương pháp phân 3 loại rừng và phân cấp phòng hộ
Phân chia 3 loại rừng được thực hiện theo phương pháp chia 3 loại rừng
của Bộ Lâm nghiệp (cũ). Nội dung phân 3 loại rừng là xác định ranh giới 3
chức theo các chỉ tiêu về: tổ chức cộng đồng, dịch vụ khuyến nông, bảo vệ và
quản lý rừng, dịch vụ thú y và chăn ni, tín dụng cộng đồng.
2.3.4.2 Tổng hợp và phân tích thơng tin điều tra chun đề
Thông tin thu thập được để phục vụ cho quy hoạch, bảo vệ và phát triển
rừng được tổng hợp theo phương pháp tối ưu hố mục tiêu và phân tích đa
tiêu chuẩn áp dụng cho xây dựng kế hoạch. Những bài tốn phân tích kinh tế
được sử dụng cho việc lựa chọn các phương án.
2.3.4.3 Phân tích chi phí và lợi ích (CBA)
Phương pháp CBA được vận dụng phân tích hiệu quả kinh tế các mơ
hình sản xuất, trên cơ sở đó để lựa chọn các mơ hình sử dụng đất có hiệu quả
kinh tế nhất để làm cơ sở tiến hành quy hoạch phát triển sản xuất. Các số liệu
được tập hợp và tính bằng các hàm kinh tế trong chương trình EXEL. Các chỉ
tiêu kinh tế sau đây được vận dụng trong phân tích CBA.
+ Giá trị hiện tại của thu nhập ròng (NPV)
NPV là hiệu số giữa giá trị thu nhập và chi phí thực hiện các hoạt động
sản suất sau khi đã tính chiết khấu để quy về thời điểm hiện tại. Cơng thức
tính như (2.1):
17
Bt Ct
n
NPV =
(1 i)
t 0
(1 i)
t 0
n
t
Ct
t
t 0 (1 i )
=
BPV
CPV
( 2.2)
Trong đó:
- BCR : Tỷ suất giữa thu nhập và chi phí (đồng/đồng)
- BPV : Giá trị hiện tại của thu nhập (đồng)
- CPV : Giá trị hiện tại của chi phí (đồng)
- Các ký hiệu khác được giải thích ở cơng thức (2.1)
Nếu hoạt động sản xuất nào có BCR>1 thì có hiệu quả kinh tế, BCR càng
lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao. Ngược lại, BCR
tích tự nhiên là 2232,70 ha, bao gồm 04 xóm. Vị trí tiếp giáp của xã như sau:
- Phía bắc giáp xã Lạng San, Lương Thượng;
- Phía đơng giáp xã Lương Thành, Văn Minh;
- Phía tây giáp xã Kim Hỷ;
- Phía nam giáp xã Cơn Minh.
3.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Ân Tình là xã vùng núi nên địa hình khá phức tạp, đồi núi là chủ yếu
(chiếm trên 70 % tổng diện tích tự nhiên) độ dốc lớn, độ cao từ 230m đến
930m phân bố trên toàn xã, xen kẽ giữa những dãy núi là các đồi thấp, những
cánh đồng nhỏ hẹp và các ruộng bậc thang. Do đặc điểm của địa hình nên đất
đai của Ân Tình được chia thành các loại chính như sau:
+ Đất đồi gị (đất đỏ vàng) được hình thành do sự phong hố của đá mẹ.
Loại đất này phù hợp với việc phát triển rừng, cây ăn quả và phát triển kinh tế
vườn đồi nói chung.
+ Đất ruộng (sản phẩm của dốc tụ) chiếm (tỷ lệ rất nhỏ) khoảng 3,54%
tổng diện tích tự nhiên tồn xã, các cánh đồng chạy dọc theo các con suối nhỏ
và ven đường liên xã. Do đặc điểm địa hình nên việc canh tác chịu ảnh hưởng
rất lớn của chế độ thuỷ văn nhất là vào mùa khơ.
Nhìn chung đất đai của xã Ân Tình khơng màu mỡ, hàm lượng mùn thấp,
lân dễ tiêu nghèo, độ chua trung bình, đất ruộng có tầng canh tác mỏng nên
cần có biện pháp cải tạo phù hợp như: bón phân chuồng, phân xanh ... Đất
rừng có tầng đất mặt trung bình phù hợp với việc phát triển cây lâm nghiệp và
cây ăn quả.
20
3.1.1.3 Khí hậu
Theo trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn tỉnh Bắc Kạn, xã Ân Tình
mang đặc điểm chung của khí hậu vùng miền núi phía bắc chia hai mùa rõ rệt,
21
3.1.2 Các nguồn tài nguyên
+ Tài nguyên đất
Đất đai của xã được hình thành từ đá mẹ như: Phiến thạch sét, đá mácma
axit, một số ít là đá mác ma trung tính và đá biến chất. Do đó có thể chia
thành các loại đất chủ yếu sau:
- Đất phù sa sông suối.
- Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ.
- Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa.
- Đất nâu đỏ phát triển trên đá mác ma bazơ và trung tính.
- Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến sa thạch.
- Đất đỏ vàng phát triển trên đá biến chất.
Nhìn chung phần lớn đất đai có hàm lượng mùn, lân, kali ở mức nghèo,
mùn tổng số nhỏ hơn 1,0 %. Chính vì vậy qua phân hạng thuế nơng nghiệp
đất đai của xã chủ yếu là các hạng 4, 5 và hạng 6, Khơng có hạng 1 và 2.
+ Tài ngun nước
Tồn xã có 36.00 ha sơng suối và mặt nước chuyên dùng, 3,06 ha đất mặt
nước nuôi trồng thuỷ sản. Đây là nguồn nước mặt tự nhiên quý giá phục vụ
cho một phần nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, nhưng chưa được
khai thác một các triệt để và có hiệu quả để đưa vào sản xuất và sinh hoạt.
Qua khảo sát và đánh giá sơ bộ, nguồn nước ngầm ở độ sâu trung bình từ 10 15 m, đây là nguồn tương đối sạch cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân trong xã.
+ Tài nguyên rừng
Tài nguyên rừng của Ân Tình đa dạng và phong phú, có nhiều chủng loại
cây gỗ với tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng là 1661.82 ha chiếm 74,43%
tổng diện tích đất tự nhiên. Số diện tích rừng hiện nay chủ yếu là các hộ gia
đình, cá nhân quản lý. Diện tích rừng sản xuất là 637,82 ha chủ yếu bao gồm
các loại cây bản địa. Ngồi ra cịn có 1024,00 ha rừng đặc dụng, chiếm
45,86% tổng diện tích đất tự nhiên.
Mặc dù diện tích rừng sản xuất tương đối lớn nhưng chủ yếu là rừng non
nguy cơ tăng lên, trong những năm tới nên cần có những biện pháp cụ thể để
ngăn chặn nguy cơ này, giữ độ che phủ bảo vệ môi trường.
3.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
3.2.1 Tăng trưởng kinh tế
Từ khi thực hiện đường lối đổi mới, tốc độ tăng trưởng kinh tế của xã
tăng ở mức khá, cụ thể: