Câu hỏi ôn tập môn triết - Pdf 83

Câu 1: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, từ đó rút ra ý nghĩa
phương pháp luận?
Để phân tích được mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức thì trước tiên ta phải hiểu
và phát biểu được khái niệm về vật chất và ý thức
*Vật chất:
Theo LêNin “ Vật chất là 1 phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại
cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh lại và
tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
*Ý thức :
Là một dạng vật chất đặc biệt có tổ chức cao là bộ óc con người. Bộ óc người là cơ quan vật
chất của ý thức còn ý thức là chức năng của bộ óc con người vì vậy không thể tách rời ý thức ra
khỏi bộ óc. Ý thức có 2 nguồn gốc chính: nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội
- Nguồn gốc tự nhiên:
• Óc người là cơ quan vật chất của ý thức là kết quả quá trình tiến hóa lâu dài của vật chất.
• Sự tiến hóa của các hình thức phản ánh phụ thuộc vào những cấp độ phát triển khác nhau
của vật chất. Phản ánh tâm lý ở động vật cấp cao và sự chuyển hóa của phản ánh tâm lý thành
phản ánh ý thức của con người.
- Nguồn gốc xã hội : ý thức hình thành thông qua quá trình lao động, ngôn ngữ và những
quan hệ xã hội của loài người.
* Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:
- Vật chất và ý thức quan hệ qua lại và chuyển hóa lẫn nhau :Vật chất có trước ý thức có sau,
vật chất quyết định ý thức, vật chất là nguồn gốc, là tiền đề cho sự ra đời, tồn tại và phát triển
của ý thức. Hay nói cách khác vật chất thế nào thì ý thức như thế ấy, vật chất thay đổi đến đâu
thì ý thức thay đổi đến đó.
- Ý thức là do vật chất sinh ra nhưng 1 khi ý thức ra đời nó có tác dụng tích cực trở lại với vật
chất sinh ra nó theo 2 trường hợp:
+ Nếu ý thức tiến bộ: phản ánh phù hợp với thực tế thì có tác dụng thúc đẩy xã hội phát triển.
+ Nếu ý thức lạc hậu: phản ánh không phù hợp với quy luật khách quan thì có tác dụng kìm
hãm xã hội phát triển.
- Ý thức thuần túy: ý thức này dù tiến bộ hay lạc hậu thì bản thân chúng cũng không làm thay
đổi điều kiện hiện thực mà ý thức đó phải thông qua hành động thực tiễn của con người thì mới

- Cơ sở của lý luận là những tri thức kinh nghiệm thực tiễn.
- Lý luận có tính khái quát hóa, trừu tượng hóa cao.
- Lý luận có khả năng phản ánh bản chất sâu xa của sự vật hiện tượng.
* Mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và lý luận:
Đây là mối quan hệ tác động qua lại 2 chiều, thực tiễn quyết định lý luận và lý luận tác động
lên thực tiễn.
- Thực tiễn quyết định lý luận:
+ Thể hiện ở chỗ quyết định cả về nội dung, nhiệm vụ, khuynh hướng phát triển lý luận. Hay
nói cách khác, thực tiễn thế nào thì lý luận thế ấy, thực tiễn thay đổi thì sớm muộn gì lý luận
cũng thay đổi bởi vì thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, là động lực, là mục đích của nhận thức.
+ Thực tiễn là cơ sở, là động lực của nhận thức: Theo triết học DVBC thì hoạt động thực tiễn
là cơ sở động lực trực tiếp của nhận thức lý luận bởi lẽ:
• Bằng hoạt động thực tiễn, thông qua thực tiễn con người tác động vào sự vật hiện tượng
làm cho chúng bộc lộ bản chất, tính chất, trên cơ sở đó con người mới hiểu, biết được sự vật
hiện tượng nghĩa là thực tiễn cung cấp tri thức, sự hiểu biết cho con người.
• Thực tiễn đã đề ra nhu cầu nhiệm vụ, phương hướng đòi hỏi lý luận phải trả lời trên cơ sở
đó thúc đẩy lý luận phát triển.
• Thực tiễn là cơ sở để rèn luyện các giác quan của con người, trên cơ sở đó thúc đẩy nhận
thức, thúc đẩy lý luận phát triển.
• Thực tiễn là cơ sở chế tạo ra các công cụ, phương tiện hỗ trợ cho con người nhận thức có
hiệu quả hơn trên cơ sở đó thúc đẩy lý luận phát triển.
• Thực tiễn là mục đích của nhận thức: Theo triết học MLN chính thực tiễn là mục đích nhận
thức của lý luận, chỉ có lý luận phục vụ cho thực tiễn đích thực bởi lẽ: nhận thức của con người
ngay từ khi con người xuất hiện trên trái đất đã bị quy định bởi nhu cầu thực tiễn. Hơn nữa
những kết quả nhận thức của lý luận chỉ có giá trị đích thực khi đã vận dụng vào thực tiễn, nếu
lý luận mà không vì thực tiễn thì lý luận sẽ mất phương hướng hay còn gọi là lý luận suông.
Theo triết học MLN chỉ có thực tiễn mới khẳng định chân lý bác bỏ sai lầm nghĩa là thực tiễn
là tiêu chuẩn để kiểm tra sự đúng đắn về kết quả nhận thức của lý luận, bằng thực tiễn con
người có thể vật chất hoá tri thức, hiện thực hoá lý luận, trên cơ sở đó khẳng định được sự đúng
sai của lý luận.

Trong LLSX gồm người lao động với những kỹ năng, kinh nghiệm, tri thức, sức khoẻ của họ
và trong TLSX có công cụ lao động, đối tượng lao động.
Trong LLSX thì người lao động với tư cách là chủ thể sản xuất vật chất tác động vào đối
tượng lao động để tạo ra của cải vật chất, sáng tạo ra công cụ lao động. với ý nghĩa đó người
lao động được coi là nhân tố chủ yếu hàng đầu của LLSX.
Công cụ lao động là yếu tố quan trọng của LLSX chính là ý quan vật chất để nhân lên sức
mạnh con người trong quá trình lao động, đó là yếu tố quyết định đối với TLSX.
Trong thời đại ngày nay khoa học đang trở thành LLSX trực tiếp bởi lẽ những thành tựu khoa
học hiện đại được vận dụng nhanh chóng và rộng rãi vào sản xuất, tri thức khoa học là một bộ
phận quan trọng, kỹ năng người lao động khoa học đã được thẩm thấu vào trong tất cả các quá
trình sản xuất từ việc tham gia vào cải tiến công cụ lao động, vào quá trình quản lý sản xuất
cũng như hàm lượng giá trị sản xuất.
Các yếu tố cấu thành LLSX có quan hệ tác động biện chứng qua lại lẫn nhau nhưng trong đó
người lao động đóng vai trò quan trọng nhất.
* QHSX: là mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất.
Trong QHSX bao gồm 3 yếu tố cơ bản : quan hệ sở hữu đối với TLSX, quan hệ tổ chức quản
lý sản xuất và quan hệ phân phối sản phẩm lao động.
Trong 3 loại quan hệ trên có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong đó quan hệ sở hữu đối với
TLSX luôn đóng vai trò quyết định, bởi lẽ ai nắm được TLSX trong tay người đó sẽ quyết định
tổ chức quản lý sản xuất cũng như phân phối sản phẩm lao động, ngược lại quan hệ tổ chức
quản lý và phân phối sản phẩm cũng rất quan trọng đối với TLSX ( sở hữu TLSX ).
* Mối quan hệ biện chứng giữa LLSX - QHSX:
Sự tác động lẫn nhau giữa LLSX - QHSX được biểu hiện thành quy luật về sự phù hợp của
QHSX với trình độ phát triển của LLSX.
- LLSX quyết định QHSX:
+ LLSX là yếu tố độc nhất, CM nhất trong quá trình sản xuất, nó là nội dung của quá trình
sản xuất.
+ QHSX là yếu tố tương đối ổn định, nó là hình thức xã hội của quá trình sản xuất.
Trong mối quan hệ giữa LLSX và QHSX thì LLSX quyết định QHSX, điều này thể hiện ở
chỗ: LLSX phát triển thì sớm hay muộn QHSX cũng biến đổi theo cho phù hợp với trình độ

vừa thấp vừa không đồng đều giữa các vùng, các ngành kinh tế,… Chính sự đồng đều về trình
độ phát triển của LLSX ở nước ta đã quy định tính đa dạng phong phú của quan hệ sở hữu đối
với TLSX, quan hệ tổ chức quản lý sản xuất & quan hệ phân phối sản phẩm lao động.
Nói cách khác, tính không đồng đều về trình độ phát triển của LLSX đã quy định tính đa dạng
của QHSX.
Thực tiễn kinh tế xã hội ở Việt Nam đã chứng minh được điều này là hoàn toàn đúng đắn, nó
thể hiện ở chỗ giải phóng được LLSX, năng suất lao động tăng lên, kinh tế xã hội phát triển,
thu hút được nhiều nguồn lực.
Câu 7 : Đấu tranh giai cấp là gì? Hãy trình bày tính phức tạp và nội dung của cuộc đấu
tranh giai cấp ở nước ta hiện nay?
* Đấu tranh giai cấp:
- Theo triết học MLN đấu tranh giai cấp là đấu tranh giữa các giai cấp, những lực lượng xã
hội, những tầng lớp xã hội có lợi ích cơ bản đối lập, đối kháng với nhau không thể điều hoà
được.
- Lênin định nghĩa về đấu tranh giai cấp như sau: “ Đấu tranh giai cấp là đấu tranh của một bộ
phận nhân dân này chống bộ phận nhân dân khác, là cuộc đấu tranh của những người bị tước
hết quyền, bị áp bức bóc lột chống bọn có đặc quyền đặc lợi, cuộc đấu tranh của công nhân làm
thuê hay những người hữu sản hay giai cấp tư sản”
* Tính phức tạp của đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay :
- Trong bối cảnh Liên Xô Đông Âu sụp đổ, hệ thống XHCN đang bị thoái trào tạm thời,
CNTB đang tạm thời khắc phục những hạn chế và đang chiếm uy thế trên nhiều mặt quân sự,
kinh tế, chính trị, xã hội.
- Cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay không còn trực diện như thời kỳ đấu tranh giải phóng dân
tộc mà nó ẩn giấu đằng sau qua các cuộc đấu tranh về kinh tế, văn hoá, tư tưởng. Cuộc đấu
4
tranh giai cấp hiện nay không chỉ là đấu tranh bảo vệ chính quyền mà còn định hướng đi lên
CNXH.
- Một số cán bộ thoái hoá, biến chất vô tình hay hữu ý, trực tiếp hay gián tiếp đã tiếp tay cho
những nhân tố gây mất ổn định xã hội đi ngược lại với lợi ích của nhân dân.
- Mặt khác còn do những vấn đề toàn cầu đang đặt ra một cách gay gắt, nó nhường như lấn áp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status