Tài liệu Một số đề xuất về quan điểm và phương pháp định giá Ngân hàng thương mại Nhà nước trong quá trình cổ phần hoá - Pdf 84

Một số đề xuất về quan điểm và phương pháp định giá Ngân hàng
thương mại Nhà nước trong quá trình cổ phần hoá
TS. Nguyễn Đại Lai
I. Bàn về quan điểm cổ phần hoá (CPH) Ngân hàng thương mại Nhà nước (NHTMNN)
Cổ phần hoá NHTMNN ở nước ta lúc này cần đặt trong xu thế vận động tất yếu của một
nền kinh tế thị trường, hội nhập và có sự định hướng của Nhà nước với các nội dung chủ yếu
là: Nhà nước dẫn dắt thị trường, thị trường điều tiết các Doanh nghiệp, các loại hình doanh
nghiệp là nền tảng căn bản của nền kinh tế và mục tiêu cuối cùng của nền kinh tế là đáp ứng
ngày càng cao nhu cầu ngày càng văn minh, hiện đại của đời sống vật chất và tinh thần của
các tầng lớp nhân dân. Các xu hướng phân chia sở hữu trong nền kinh tế thị trường suy cho
cùng sẽ chỉ còn 2 nhóm chính là Sở hữu xã hội - Theo cách gọi của C.Mac (bao gồm sở hữu
Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu hỗn hợp mà đặc trưng là sở hữu cổ phần) và nhóm thứ 2 là
sở hữu tư nhân (mà hiện nay ở nước ta đang chia ra thành 3 loại: cá thể, tiểu chủ, tư nhân). Mô
hình Nhà nước "dẫn dắt" thị trường bao gồm hai nội dung: i) Nhà nước nhận thức qui luật kinh
tế thị trường và thông lệ quốc tế để xây dựng và hoàn thiện môi trường Pháp lý, hoạch định
chiến lược vĩ mô và tổ chức kiểm tra, giám sát, bảo đảm cho mọi hoạt động sản xuất, kinh
doanh tuân thủ đúng Pháp luật trên cơ sở đó hoàn thiện thể chế Nhà nước pháp quyền; ii)
Thành phần kinh tế Nhà nước gồm một số rất ít loại DN mà Nhà nước sở hữu 100% vốn và
những DN mà Nhà nước có cổ phần chi phối sẽ đóng vai trò dẫn dắt, mở đường cho các thành
phần kinh tế khác theo hướng DN Nhà nước chỉ đầu tư vào những lĩnh vực huyết mạch thuộc
kết cấu hạ tầng, DN sản xuất ra tư liệu sản xuất quan trọng hoặc an ninh quốc phòng. Trong số
những DNCP đặc biệt mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị
trường hiện nay đều có các NHTM lớn.
Cổ phần hoá NHTMNN được bàn đến trong bài viết này là quá trình chuyển hoá cơ cấu sở
hữu tài sản và quyền chủ động điều hành hoạt động kinh doanh của NH từ đơn sở hữu sang đa
sở hữu và không đồng nghĩa với việc Nhà nước "bán" quyền sở hữu về tài sản, vốn liếng, danh
tiếng... hiện có của mình cho các chủ sở hữu khác để thu tiền về làm việc khác (đối với DNNN
khác quá trình này có thể là quá trình bán bớt từng phần hoặc thậm chí bán toàn phần mà Nhà
nước không cần có cổ phần trong DN cổ phần mới), mà là quá trình Nhà nước chuyển và góp
toàn bộ "cơ nghiệp" của NHTMNN trước khi CPH vào một cấu trúc Ngân hàng thương mại mới
với mục tiêu cần đạt được là: qui mô vốn lớn hơn, công nghệ hiện đại hơn, phương thức quản

ràng M được kỳ vọng sẽ là: lớn lên khi x nhỏ xuống và ngược lại M giảm khi x tăng.
Không nên coi việc CPH NHTMNN đơn thuần như một "chiến dịch" phát hành chứng khoán
để gọi thêm vốn thay cho phần cấp thêm vốn của Nhà nước, mà CPH phải được coi như một
cuộc cách mạng thực sự - Vừa tăng qui mô vốn, vừa cơ cấu lại hoạt động quản trị kinh doanh
nhờ sự bổ sung những nhân tố quản lý và nhân tố công nghệ mới. Theo đó, cần phải áp dụng
ngay các thông lệ quốc tế trong việc phát hành đồng thời cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu phổ
thông, hoặc trước tiên phải phát hành cổ phiếu phổ thông trên thị trường chứng khoán. Việc ưu
tiên quyền mua cổ phiếu cho cán bộ, nhân viên của NHTMNN khi CPH cần có qui chế riêng (ví
dụ qui định số lượng được mua theo thâm niên công tác tại NH, tỷ lệ giảm giá so với giá thị
trường, quyền được hoán đổi giữa hai loại cổ phiếu và việc định đoạt nó v.v) sau khi tôn trọng
mọi nguyên tắc đấu giá cổ phiếu trên thị trường.
Cần tính toán một tỷ lệ hợp lý ngay từ đầu cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia
mua cổ phiếu trên thị trường. Tính hợp lý tốt nhất cho tỷ lệ này là đủ để bổ sung nhân tố quản
trị và công nghệ mới trong NH nhưng không vượt mức tỷ lệ khống chế chung cho nhóm nhân tố
này. Việc lựa chọn nhà đầu tư nước ngoài nào là do Hội Đồng CPH căn cứ vào uy tín cụ thể,
xác thực của các nhà đầu tư đó để quyết định.
Đối với các nhà đầu tư trong nước cũng không nên phân biệt thể nhân hay pháp nhân, miễn
là đủ năng lực hành vi, năng lực pháp lý và nằm trong tổng tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu ở mức chi
phối nào đó theo qui định của Hội Đồng CPH...
Tuy nhiên, về mặt sách lược vẫn cần và có thể có những qui định để khuyến khích trong
việc chọn và gọi vốn đối với một số cổ đông chiến lược ở trong và ngoài nước.
II. Một số vấn đề về định giá trị NHTMNN trước khi CPH:
Nhìn một cách tổng quát thì giá của một DN nói chung, của một NHTMNN nói riêng bao gồm
4 nhóm sau đây:
1. Giá trị còn lại của vốn tự có tính đến ngày định giá: Gồm giá trị còn lại của TSCĐ, quyền
sử dụng đất, thiết bị không thuộc nhóm TSCĐ, Vốn tự có đầu tư vào các tổ chức liên doanh,
liên kết hay các tài sản tài chính và VTC bằng tiền khác...
2. Chênh lệch ròng của tổng các khoản phải thu so với tổng các khoản phải trả (gồm cả các
rủi ro liên quan)...
3. Các quĩ chưa chia, chưa chi (nếu có).

Tháng 5/2001, Tập đoàn tài chính Citigroup của Mỹ đã tuyên bố mua tập đoàn Ngân hàng
lớn nhất Mexico Banacci với giá khổng lồ: 12,5 tỷ USD. Đây là cuộc mua bán lớn nhất trong lịch
sử tại thị trường các nước mới nổi như Mêxico. Citigroup là Tập đoàn tài chính lớn của Mỹ là
chủ sở hữu của Ngân hàng thương mại khổng lồ Citibank. Việc sáp nhập Ngân hàng Banamex
thuộc Tập đoàn Banacci của Mêxico vào chi nhánh Ngân hàng Citibank của Mỹ tại Mêxico cũng
có thể củng cố vị thế trên thị trường tài chính của chính "ngân hàng bị bán" là Banamex sau khi
bị mất thế cạnh tranh bởi sự kiện năm 2000 Tập đoàn BBAA của Tây Ban Nha đã mua Ngân
hàng Bancomer vốn là đối thủ chính của Ngân hàng Banamex tại Mêxico. Mặt khác, cuộc sáp
nhập này theo tính toán của Chủ tịch Tập đoàn Citigroup ông Sandy Weill thì hàng năm Tập
đoàn sẽ giảm được ít nhất 200 triệu USD cho chi phí chuyển giao công nghệ và nhất là chi phí
huy động vốn thấp hơn.
Cuộc "kết hôn" năm 2002 giữa Ngân hàng thương mại Dresdner và Tập đoàn bảo hiểm
Allanz trong nội bộ nước Đức. Đây là một cuộc "kết hôn" mới và lớn nhất tại Đức dựa trên
nguyên tắc gộp cổ phần của hai Định chế tài chính Ngân hàng và phi Ngân hàng thành một liên
minh tài chính hỗn hợp nhằm củng cố địa vị tài lực và đặc biệt là để tận dụng tối đa lợi thế của
các bên: Tập đoàn bảo hiểm Allanz phát huy được tối đa nguồn lợi thu được từ việc mở rộng
thị trường và sử dụng hệ thống bán lẻ thông qua các nghiệp vụ kinh doanh Ngân hàng, còn
Ngân hàng Dresdner thì tập trung được nguồn lực khổng lồ vào việc kinh doanh trong lĩnh vực
đầu tư tài sản tài chính. Tập đoàn mới này hoàn toàn có đủ điều kiện và thực lực để một mặt tự
phòng vệ, một mặt vươn ra thị trường tài chính thế giới với tư cách là một Tập đoàn tài chính
xuyên quốc gia mang quốc tịch Đức.
Một số cuộc sáp nhập Ngân hàng ở Đài Loan: Cơn lốc khủng hoảng tài chính khu vực Châu
á đã thực sự ảnh hưởng tới hệ thống tài chính ngân hàng Đài Loan kể từ cuối năm 1999.
Trước tình hình cấp bách trên, Chính quyền Đài Bắc đã thông qua một số luật tạo điều kiện
thuận lợi cho việc sáp nhập giữa các ngân hàng và cho ra đời mô hình hoạt động của các Công
ty quản lý tài sản. Theo đó, Hai thương vụ sáp nhập ngân hàng lớn đã được công bố đó là: vụ
sáp nhập giữa ngân hàng hợp tác Đài Loan và ngân hàng thương mại Chinfon Bank và tiếp đến
là vụ sáp nhập tay ba giữa First commercial Bank, Pan Asia Bank và Dah An commercial Bank.
Các thương vụ sáp nhập thường diễn ra giữa một ngân hàng chịu sự quản lý của Nhà nước với
các ngân hàng nhỏ yếu kém. Theo một số nhà phân tích thì việc sáp nhập sẽ làm cho các ngân

để làm cho qui mô thị trường được mở rộng và mang tính bền vững chung ngay cả khi không
nhất thiết để đạt được điều đó thông thường phải xuất phát từ qui luật tích tụ tư bản. Các Định
chế tài chính có thể bằng cách này "tự cứu lấy mình" trước khi nhờ đến bàn tay can thiệp của
Nhà nước trong khi nguồn thu của NSNN đối với các ĐCTC mới luôn luôn có xu hướng gia tăng
trên tổng quát.
Thay cho lời kết - CPH DNNN nói chung, NHTMNN nói riêng là xu thế tất yếu của quá trình
phát triển kinh tế thị trường và hội nhập. Nó không chỉ là quá trình đa sở hữu và hữu danh hoá
quyền sở hữu, mà còn là phương thức căn bản để tích tụ, tập trung tư bản và tạo ra thị trường
tài chính hoàn hảo. Thị trường tài chính phát triển vừa là qui luật của kinh tế thị trường vì nhờ
nó mà lưu thông hàng hoá, lưu thông vốn được mở rộng nhanh chóng, song tính dễ bị tổn
thương, tính nhạy cảm và nhất là tính lan toả và ảnh hưởng lẫn nhau của thị trường tài chính
cũng là thách thức lớn đối với mọi quốc gia có nền kinh tế thị trường. Vấn đề là không thể lẩn
tránh thách thức, do đó phải chủ động nhận dạng, phân tích và ứng phó thích hợp trên cơ sở
tôn trọng và khai thác tối đa những mặt tích cực của các qui luật thị trường cũng như qui luật
toàn cầu hoá ngày nay. CPH NHTMNN ở Việt Nam chưa có tiền lệ, là việc rất phức tạp và diễn
ra trong môi trường thị trường tài chính còn sơ khai, nhưng không thể dẫm chân tại chỗ, càng
không thể chỉ đưa việc đại sự này vào "phòng thí nghiệm" để phát tín hiệu dần dần... vì chúng
ta có kinh nghiệm từ nước ngoài, có chủ trương của Đảng và Nhà nước và trên hết là trong nền
kinh tế thị trường không thể tiếp tục duy trì quá lâu qui mô và phương thức hoạt động kinh
doanh của NHTMNN như hiện nay ở môi trường kinh tế mới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status