Tài liệu Diễn tiến sau mổ trường hợp ghép thận đang theo dõi tại bệnh viện chợ Rẫy - Pdf 84

Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

* Khoa-Bộ môn Niệu BVCR
DIỄN TIẾN SAU MỔ CÁC TRƯỜNG HP GHÉP THẬN
ĐANG THEO DÕI TẠI BỆNH VIỆÂN CH RẪY
Trần Ngọc Sinh, Từ Thành Trí Dũng và cộng sự*
TÓM TẮT
Mục đích: Ghép thận là một ngành mới của Y học. Nhu cầu của bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn
cuối cần ghép thận ngày càng nhiều. Bên cạnh những bệnh nhân được ghép thận tại Việt Nam thì số
bệnh nhân ghép thận từ nước ngoài về cũng ngày càng nhiều. Do đó vấn đề theo dõi, điều trò sau ghép
thành thường quy và góp phần quan trọng trong lónh vực thận học ở nước ta hiện nay. Trong bài này,
chúng tôi báo cáo kết quả của các trường hợp ghép thận đang theo dõi tại bệnh viện Chợ Rẫy. Trong bài
này, chúng tôi báo cáo kết quả của các trường hợp ghép thận đang theo dõi tại bệnh viện Chợ Rẫy.
Phương pháp nghiên cứu: Bệnh nhân của chúng tôi chia làm 2 nhóm: nhóm được ghép tại bệnh
viện Chợ Rẫy và nhóm được ghép thận từ nơi khác và đang theo dõi tại bệnh viện Chợ Rẫy.
Kết quả: + Nhóm được ghép tại bệnh viện Chợ Rẫy: 89 lần ghép với 88 người nhận (1người ghép 2
lần). - 4 TH tử vong: 2 TH tử vong do bệnh Cytomegalovirus, 1TH tử vong do tự tử, 1 TH tử vong không rõ
nguyên nhân.. - 8 TH (9,1%): thải ghép mạn tính. + Nhóm được ghép từ nơi khác:- 171 TH được ghép
thận từ nơi khác. - Tử vong: 15 TH bao gồm: 1 TH AIDS sau ghép, 1 TH do Kaposi sarcoma, 1 TH viêm
phổi do nấm, 1 TH viêm phổi, 1 TH bệnh CMV có tổn thương phổi, 1 TH thải ghép mạn, 1 TH thải ghép
cấp gây rối loạn đông máu, 1 TH dùng thuốc miễn dòch quá liều, 2 TH nhiễm trùng huyết, 4 TH do viêm
gan siêu vi, 1 TH chết không rõ nguyên nhân,...- Thải ghép mạn: 20 TH (1TH đã ghép thận lần hai, 2 TH
chạy thận nhân tạo lại).
Kết luận: Tương lai ngành ghép đã mở nhưng cần phải có Luật chết não để có thể giúp cho bệnh
nhân nhiều hơn. Một số ngành cận lâm sàng khác như miễn dòch ghép, giải phẫu bệnh về ghép,... cần
được quan tâm, hiện đại hóa. Cần theo dõi sát để phát hiện sớm các biến chứng sau ghép.
SUMMARY
KIDNEY TRANSPLANTATION: POSTOPERATIVE FOLLOWING UP
IN CH RẪY HOSPITAL
Tran Ngoc Sinh, Tu Thanh Tri Dung, et al. *

sau ghép trở nên thường quy và góp phần quan trọng
trong lónh vực điều trò thận học ở nước ta hiện nay.
Từ 1992 đến 8/2004, chúng tôi đã ghép được 89 cặp.
Ngoài ra, chúng tôi cũng theo dõi và điều trò sau ghép
cho 171 bệnh nhân ghép thận từ các nơi khác.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chọn bệnh
Chúng tôi tổng kết những bệnh nhân được theo
dõi và điều trò sau ghép tại bệnh viện Chợ Rẫy từ
1992 đến nay. Chúng tôi có 2 nhóm bệnh nhân:
nhóm được ghép tại bệnh viện Chợ Rẫy và nhóm
ghép thận ở nơi khác và theo dõi tại bệnh viện Chợ
Rẫy.
Thuốc ức chế miễn dòch theo công
thức qui ước
Cyclosporin A (CSA) loại Neoral® +Prednisolone
(Pred) + Azathioprin (AZA) loại Imurène hay Imuran.
Liều lượng theo qui đònh của dược phẩm có gia giảm
theo diễn tiến lâm sàng.
Phác đồ theo dõi
- Bệnh nhân được khám đònh kỳ teo hẹn.
- Theo dõi sức khỏe của bệnh nhân và các biến
chứng sau ghép.
- Theo dõi nồng độ thuốc và các tác dụng phụ
của thuốc ức chế miễn dòch.
KẾT QUẢ
Nhóm được ghép tại bệnh viện Chợ
Rẫy
- Ghép 89 lần với 88 người nhận (1 người ghép 2
lần). Tất cả người cho đều có liên hệ huyết thống. 84

Biến chứng nhiễm trùng:
- Nhiễm nấm candida đường ruột: 1 TH
- Nhiễm lao: 1 TH
- Nhiễm Cytomegalovirus: 4TH (2 TH điều trò dự
phòng với Gancyclovir khi kiểm tra huyết thanh
dương tính với Cytomegalovirus).
- Nhiễm herpes virus: 4 TH
+
Biến chứng ngoại khoa:
- Dò nước tiểu và máu tụ quanh thận: 1/88 TH
+ Dò nước tiểu do dẫn lưu nang thận: 1/88 TH.
Tử vong
4/88 TH tử vong (4,54%) bao gồm: 2 TH tử vong
do bệnh Cytomegalovirus, 1 TH tử vong do tự tử sau
ghép 3 tháng, 1 TH không theo dõi và tử vong không
rõ nguyên nhân..
Nhóm được ghép thận tại nơi khác
đang theo dõi tại bệnh viện Chợ Rẫy
Phân bố theo tuổi
- Theo dõi và điều trò sau ghép: 171 bệnh nhân
được ghép thận từ nơi khác.
- 6 TH ghép thận từ các nơi khác ở Việt Nam
(ghép từ thân nhân sống cùng huyết thống) và - -
165 TH ghép thận từ Trung Quốc (ghép từ người chết
não).

GHÉP TỪ CÁC TRUNG
TÂM KHÁC Ở VIỆT
NAM, n = 6
GHÉP TỪ NƯỚC

Biến chứng nhiễm trùng:
♦ Viêm gan siêu vi A và B: 1 TH. Tử vong do hôn
mê gan.
♦ Viêm gan siêu vi B: 12 TH
- 2 TH: HBsAg (+), Anti HBc (+), HBV-DNA
(+), có biểu hiện lâm sàng 2 TH tử vong do xơ gan (1
TH kèm thải ghép mạn và kèm ung thư niêm mạc
miệng).
- 2 TH: HBsAg (+), Anti HBc (+), HBV-DNA (+)
nhưng chưa có biểu hiện lâm sàng.
- 6 TH: lâm sàng bình thường, HBsAg (+), anti
HBc (+), HBV-DNA (-).
- 2 TH: lâm sàng bình thường, HBsAb (+), anti
HBc (+)
♦ Viêm gan siêu vi C: 19 TH
- 6 TH: HCV-RNA (+) và 2 trường hợp có biểu
hiện lâm sàng với hội chứng hủy và suy tế bào gan,
trong đó có 1 trường hợp tử vong do suy gan cấp.
- 4 TH: HCV-RNA (-), lâm sàng bình thường.
- 6 TH: HCV-RNA (+), lâm sàng bình thường
♦ Viêm gan siêu vi B và C: 4 TH
- 1 TH bò lao phổi và HBV-DNA (+), HCV-RNA
(+), men gan tăng.
- 3 TH: HBsAg (+), Anti HBc (+) kèm anti HCV
(+), 1 TH có HCV-RNA (+)
105
♦ Nhiễm lao:
2 TH: lao phổi.
1 TH: lao đa cơ quan.
- 1 TH lao cột sống.

Tử vong: 15 TH bao gồm: 1 TH AIDS sau
ghép, 1 TH do Kaposi sarcoma, 1 TH viêm phổi do
nấm, 1 TH viêm phổi, 1 TH bệnh CMV có tổn thương
phổi, 1 TH thải ghép mạn, 1 TH thải ghép cấp gây rối
loạn đông máu, 1 TH dùng thuốc miễn dòch quá liều,
2 TH nhiễm trùng huyết, 4 TH do viêm gan siêu vi, 1
TH chết không rõ nguyên nhân,,..
BÀN LUẬN
Ngộ độc thận do CsA và thải ghép cấp
và mạn
Là những vấn đề thường gặp ở BN ghép thận.
Theo dõi thường xuyên chức năng thận, nồng độ Co
và C2, nếu cần làm monitoring nồng độ CsA/12 giờ
để xác đònh ngộ độc thuốc hay thải ghép. Hiện nay
tại bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi đã đo được nồng độ
thuốc Sandimmun và Tacrolimus trong máu theo
phương pháp Automatic Fluorescent Polyrasation
Analyser, do đó chúng tôi có thể chỉnh liều
Sandimmun và Tacrolimus theo nồng độ của thuốc
trong máu.
Tác dụng phụ của thuốc Azathioprin,
Cellcept
Giảm liều hoặc tạm ngưng thuốc.
Thải ghép cấp
Các trường hợp ghép ở nước ngoài vể, chúng tôi
không ghi nhận được thải ghép cấp nhiều vì bệnh
nhân đến khám chúng tôi thường sau ghép khoảng 1
tháng.
Đối với các trường hợp ghép tại bệnh viện Chợ
Rẫy, qua diễn tiến lâm sàng và điều trò, đã chứng

đảm kết quả phẫu thuật được tốt.
2 Danovitch GM.: Handbook of kidney Transplantation,
2
nd
Edition, 1996. A Little, Brown.
3 Holley J.L., McCauley C., Doherty B. et al: Patient ‘s
views in the choice of renal transplant. Kidney Int 49:
494,1996.
KẾT LUẬN
4 Kong N.C.: Basis nephrology. Falkuti Perubatan,
Universiti Kebansaan Malaysia, 1996.
Tại Việt Nam, ghép thận đã trở thành thường
quy, sau 10 năm đã có một số kinh nghiệm. Tương
lai ngành ghép đã mở. nhưng số lượng ghép chưa
nhiều so với nhu cầu, đa số bệnh nhân suy thận
mạn giai đoạn cuối còn phải đi ghép ở nước ngoài.
5 Morris P.J.: Kidney transplantation, Principles and
practice, 3
rd
edition,1988. W.B. Saunders Company.
6 Thibault P.: La transplantation rénale. Rapport
prérenté au 92
e
congrès francais de chirurgie. Paris,
du 1
er
au octobre 1990. Masson.
7 Hodge, EE. Flechner SM., Novick AC., Kozlowski
J.M., Grayhack J.T. (1996), Renal Transplantation, in
Adult and Pediatric Urology, published by Mosby-


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status