tóm tắt luận án tiên sĩ phẫu thuật nội soi sau phúc mạc cắt thận để ghép tại bệnh viện chợ rẫy - Pdf 28

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƯC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHÂU QUÝ THUẬN PHẪU THUẬT NỘI SOI SAU PHÚC MẠC
CẮT THẬN ĐỂ GHÉP TRÊN NGƯỜI CHO SỐNG
TẠI BỆNH VIỆN CH RẪY Chuyên ngành: Ngoại – Tiết niệu
Mã số: 62.72.07.15 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2012

2
Công trình được hoàn thành tại:
Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học:

mổ cũng như sự thành công của thận ghép là rất quan trọng.
Về kỹ thuật mổ, đường mổ qua ổ bụng hay đường hông lưng sau
phúc mạc được sử dụng trong khoảng thời gian dài, có một số hạn chế:
đường mổ dài, xâm lấn nhiều, đau sau mổ, tỷ lệ biến chứng, di chứng,
thẩm mỹ, thời gian nằm viện dài, và chi phí điều trò cao.Với sự tiến bộ
của khoa học phẫu thuật nội soi ra đời là một bước ngoặc lớn trong
lónh vực Ngoại khoa với những ưu điểm như: đường mổ nhỏ, ít xâm
lấn, ít đau, đặc biệt có tính thẩm mỹ cao…
Nội soi ổ bụng (NSOB) cắt thận thực nghiệm được thực hiện bởi
Clayman RV (1990), năm 1991 ông báo cáo trường hợp cắt thận đầu
tiên do bướu. Cắt thận để ghép qua NSOB được thực hiện bởi Ratner
LE và Kavoussi LR (1997). Kỹ thuật đã trở thành thường qui tại các
trung tâm ghép thận lớn trên thế giới.
Nội soi sau phúc mạc (NSSPM) cắt thận được Gaur DD thực hiện
(1993). NSSPM cắt thận để ghép được Tanabe K và Hoznek A tiến hành
(2001), và kết quả bước đầu đã cho thấy kỹ thuật khả thi, hiệu quả, ít xâm
lấn hơn mổ mở và chức năng thận ghép là tương đương với NSOB, nhưng
chưa có nhiều những công trình nghiên cứu trên thế giới về vấn đề này.
Tại Việt Nam ghép thận được thực hiện vào năm 1992 và cho đến
nay mới có trên 400 trường hợp đã được ghép. Nguồn thận ghép chủ
yếu vẫn là từ người cho sống, phẫu thuật lấy thận phần lớn vẫn áp
dụng kỹ thuật mổ mở, hoặc một số nơi sử dụng NSOB, chưa có nơi
nào thực hiện kỹ thuật NSSPM.
4
Như vậy, NSSPM cắt thận để ghép có thật sự an toàn đối với
người cho thận ? Chất lượng quả thận lấy qua nội soi ra sao ? Sự hồi
phục chức năng thận sau ghép như thế nào ? Đó thật sự là những vấn
đề đáng quan tâm trong điều kiện hiện tại của Việt Nam. Vì vậy, tôi
tiến hành nghiên cứu áp dụng phẫu thuật NSSPM cắt thận để ghép trên
người cho sống trong điều kiện tại nước ta với mục tiêu cụ thể sau:

Murray (1962) sử dụng Azathioprin kết hợp Prednisolone điều trò sau
ghép có kết quả khả quan. Năm 1972 Borel tìm ra Cyclosporin giúp cải
thiện tuổi thọ thận ghép. Ngành ghép thận phát triển mạnh mẽ nhờ phát
minh nhiều thế hệ thuốc ức chế miễn dòch điều trò sau ghép hiệu quả.
Việt Nam: Những trường hợp đầu tiên thực hiện vào tháng 6/1992
tại Học viện Quân Y 103. Tháng 12/1992 bệnh viện Chợ Rẫy ghép
thành công 2 trường hợp tiếp theo. Tháng 5/2004 Viện Nhi Trung
Ương ghép thận trên trẻ em. Đến nay có 11 trung tâm ghép trong cả
nước với hơn 400 trường hợp ghép thận được thực hiện.
1.2. Tóm tắt lòch sử phẫu thuật nội soi
Thế giới: Clayman (1991) cắt thận tận gốc qua NSOB. Gaur
(1992) NSSPM cắt thận. Clayman (1992) nội soi cắt thận- niệu quản.
Morgan (1992) nội soi cắt chỏm nang thận. Schuessler (1993) nội soi
tạo hình khúc nối niệu quản- bể thận. Winfield (1993) cắt thận bán
phần qua NSOB. Kavoussi (1995) NSOB cắt thận để ghép. Năm 2001
Tanake (Nhật bản) và Hoznek (Pháp) NSSPM cắt thận để ghép.
Việt Nam: Năm 2003 Nguyễn Hoàng Bắc (ĐHYD) và Vũ Lê
Chuyên (BVBD) cắt thận qua NSOB. Trần Ngọc Sinh (2004) cắt thận
bán phần qua NSOB. Ngày 28/05/2004 Christophe Vaessen và Trần
Ngọc Sinh NSOB cắt thận để ghép đầu tiên. Ngày 09/08/2005 Trần
Ngọc Sinh NSSPM cắt thận trên người cho sống để ghép đầu tiên.
1.3. Nhắc lại giải phẫu học ứng dụng thận và niệu quản
1.3.1. Giải phẫu học thận:
Thận là cơ quan nằm sau phúc mạc, mỗi người có 2 quả thận hình
hạt đậu, bề mặt trơn láng, có 2 mặt trước sau, 2 bờ trong ngoài (bờ
trong phần giữa lõm sâu là rốn thận có động mạch đi vào, tónh mạch
và niệu quản đi ra) và 2 đầu trên dưới. Cao khoảng 12cm, rộng 6cm,
dầy 3cm. Cân nặng khoảng 150g. Thận nằm trong góc hợp bởi xương
sườn XI và cột sống thắt lưng, ngay trước cơ thắt lưng. Thận phải thấp
hơn thận trái gần 2cm.

bên phải, có thể vào rốn thận hoặc và thẳng trực tiếp chủ mô thận.
- Tónh mạch thận (TM): bắt nguồn từ vỏ và tủy thận. Các TM ở cả 2
vùng thận sau đó đều đổ vào các TM cung, rồi tập trung về TM gian
thùy, TM thận và cuối cùng đổ về TM chủ dưới.
7
1.3.2. Giải phẫu học niệu quản:
- Niệu quản là ống dẫn nước tiểu từ bể thận xuống bàng quang,
nằm dọc 2 bên cột sống sát vào thành bụng sau. Chiều dài của NQ
thay đổi theo chiều cao cơ thể, giới tính. Trung bình từ 25-28cm và
chia làm 2 đoạn: đoạn bụng và đoạn chậu hông, mỗi đoạn dài khoảng
12.5-14cm. Bên trái dài hơn bên phải vì thận trái cao hơn. Niệu quản
ở nam dài hơn ở nữ.
- Động mạch: nhánh động mạch thận cấp máu bể thận và phần
trên niệu quản, nhánh động mạch sinh dục cấp máu phần trên niệu
quản bụng, nhánh của động mạch chậu chung nuôi phần dưới niệu
quản bụng, nhánh động mạch bàng quang dưới hoặc trực tràng giữa
nuôi phần niệu quản đoạn chậu.
- Tónh mạch: máu từ niệu quản đổ vào các tónh mạch tương ứng đi
kèm động mạch.
1.4. Tổng quan về các phương pháp mổ cắt thận để ghép
1.4.1. Phẫu thuật mở cắt thận từ người cho sống
1.4.1.1. Kỹ thuật mổ với đường mổ thắt lưng sau phúc mạc
Được xem là kỹ thuật cắt thận tiêu chuẩn để so sánh với những kỹ
thuật mới khác, tránh được những biến chứng và di chứng do không đi
qua phúc mạc. Nhưng đường mổ dài 15cm, dài hơn đường rạch da cần
thiết để lấy thận ra trong phẫu thuật nội soi, đau sau mổ nhiều hơn,
nằm viện kéo dài, chi phí điều trò cao… cắt nhiều cơ vùng hông lưng
nên có thể gây biến chứng tê bì kéo dài do cắt dây thần kinh dưới
sườn hoặc thần kinh sinh dục đùi.
1.4.1.2. Mổ mở qua phúc mạc cắt thận

máu nóng ngắn. Nhược điểm là phải sử dụng Handport, đường mổ lấy
thận bất đònh tùy thuộc kích thước bàn tay phẫu thuật viên và những di
chứng giống như NSOB.
Chương 2. ĐỐI TƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Tất cả những người tự nguyện hiến 1 quả
thận cho người bệnh suy thận mạn giai đoạn cuối. Đáp ứng đúng tiêu
chuẩn chọn lựa các cặp cho – nhận thận của Bộ Y tế.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Tất cả những trường hợp áp dụng kỹ thuật
lấy thận khác như: mổ mở, nội soi qua ổ bụng có hay không có bàn
9
tay hỗ trợ. Có chống chỉ đònh nội soi sau phúc mạc như: không thể gây
mê toàn thân (bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, suy tim…) hay có vết mổ
cũ vùng hông lưng bên lấy thận.
2.2. Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu mô tả hàng loạt ca.
2.3. Các biến số trong nghiên cứu: Tuổi người cho, quan hệ giữa
người cho và người nhận, BMI, GFR, đối chiếu chụp động mạch thận
trước và trong lúc mổ, thời gian thiếu máu nóng, thời gian thiếu máu
lạnh, thời gian thiếu máu ấm, đánh giá chất lượng quả thận lấy để
ghép sau khi rửa (bao thận, chủ mô, mạch máu, bể thận, niệu quản),
đo kích thước mạch máu thận, biến chứng trong mổ, biến chứng sau mổ,
đánh giá chức năng thận người cho sau mổ và thời gian hồi phục chức
năng thận ghép, thời gian nằm viện, thời gian trở lại làm việc, biến
chứng xa, biến chứng sau ghép liên quan đến phẫu thuật lấy thận.
2.4. Nội dung nghiên cứu:
2.4.1. Qui trình mổ nội soi sau phúc mạc cắt thận để ghép
- Chọn người cho thận (đặc điểm của mẫu nghiên cứu):
* Tiêu chuẩn chung: Người cho thận hoàn toàn tự nguyện, khỏe
mạnh, tuổi từ 18-60, phù hợp 57 tiêu chuẩn chọn lựa của Bộ Y Tế, có

- Kỹ thuật mổ được áp dụng: Sử dụng một kỹ thuật NSSPM qua
8 bước cho tất cả những trường hợp mổ cắt 1 thận để ghép trên người
cho sống trong loạt nghiên cứu.
- Tiêu chuẩn chỉ đònh chuyển mổ mở: Qua đường thắt lưng hay
đường giữa trên dưới rốn nếu có biến chứng xảy ra (chảy máu không
cầm được, tổn thương tạng trong ổ bụng hay sau phúc mạc).
2.4.2. Đánh giá kết quả phẫu thuật NSSPM cắt thận để ghép
- Đánh giá tính an toàn đối với người cho thận: Thời gian mổ.
Biến chứng trong lúc mổ phải chuyển mổ mở. Biến chứng sau mổ.
Công thức máu và chức năng thận sau mổ. Thời gian có trung tiện, rút
ống dẫn lưu, dùng thuốc giảm đau hậu phẫu. Thời gian nằm viện.
Thời gian trở lại công việc bình thường sau khi xuất viện. Di chứng sau
mổ: đau vết mổ, bán tắc ruột, tắc ruột, thoát vò thành bụng. Theo dõi sức
khỏe đònh kỳ đánh giá tình trạng sức khỏe chung và chức năng thận
còn lại.
11
- Đánh giá chất lượng thận khi thận được lấy để ghép: Thời
gian thiếu máu nóng. Sự nguyên vẹn về giải phẫu thận sau khi rửa
(bao thận, chủ mô thận, mạch máu cuống thận, niệu quản). Đo kích
thước mạch máu thận tiên lượng thuận lợi hay khó khăn cho kỹ thuật
ghép vào cơ thể người nhận.
- Đánh giá chức năng thận và biến chứng sau ghép về phương
diện phẫu thuật cắt thận: Tình trạng thận ngay sau khi mở kềm
mạch máu, diễn tiến hồi phục chức năng thận sau ghép.Thận ghép
chậm chức năng do tổn thương mạch máu, hay rò niệu quản sau mổ…
- Đánh giá kết quả phẫu thuật NSSPM qua đường cong học
tập: dựa vào 2 biến số thời gian thiếu máu nóng và thời gian mổ.
2.5. Xử lý và phân tích số liệu: Bằng phần mềm thống kê Excel,
SPSS 16.0. So sánh trung bình của các biến với các nghiên cứu khác
dùng phép kiểm t và chi bình phương (

3.2.2. BMI (chỉ số cơ thể): BMI trung bình là: 22,23 ± 3,0 kg/m
2

Bảng 3.5: Chỉ số BMI người cho thận
Chỉ số BMI
Số trường hợp (n=106)
Tỷ lệ (%)
Nhỏ hơn 23
70
65,09
Lớn hơn 23
36
34,91
Tổng cộng
106
100,00
3.2.3. Độ thanh lọc cầu thận và vò trí thận chọn lấy
Bảng 3.7: Độ thanh lọc cầu thận và vò trí thận lấy để ghép
GFR ml/phút
Thấp nhất
Cao nhất
Trung bình
Số TH
Thận P
37,9
63,079
50,41 ± 6,23
38
Thận T
34,4

21,70
Thận có sỏi
4
1
5
4,72
Thận có nang
0
2
2
1,88
Tổng cộng
38
68
106
100,00
Tỷ lệ (%)
35,85
64,15
106
100,00
3.2.5. Khảo sát mạch máu thận qua chẩn đoán hình ảnh (CĐHA)
Bảng 3.9: Đối chiếu CĐHA khảo sát mạch máu thận
CĐHA
Số TH
Đúng
Không đúng
DSA
30
28

Tỷ lệ %
60,38
21,69
0,94
16,98
Bảng 3.11. Bất thường tónh mạch thận
Tónh mạch
1
2
Chia đôi sớm
Số trường hợp
100
3
3
Tỷ lệ %
94,34
2,83
2,83
3.3. Kết quả phẫu thuật
14
3.3.1. Các biến số của cuộc mổ lấy thận qua nội soi
Bảng 3.13: Thời gian mổ
Đặc điểm trong mổ
Thời gian mổ (phút)
Ngắn nhất (phút)
90
Dài nhất (phút)
245
Thời gian mổ trung bình (phút)
167,54 ± 44,42

78.3
4
16,7%
2weck
9
8.5
12
50%
1weck+ 2cip
14
13.2
8
33,3%
Tổng cộng
106
100.0
24
100,0 15
Bảng 3.17: Kẹp cắt tónh mạch thận
2 weck + 1 clip
2 weck
1 weck + 2 clip
GIA
67/109
20/109
17/109
5/109*

1
0,94
Tụ máu dưới bao thận
14
13,20
Tổng cộng
22
19,74
3.3.5. Khảo sát và xử lý mạch máu thận sau khi rửa
Bảng 3.21: Đường kính mạch máu thận
Đường kính (mm)
Nhỏ nhất
Lớn nhất
Trung bình
Đường kính động mạch
2
8
5,16 ± 0,95
Đường kính tónh mạch
4
30
12,20 ± 4,55
Bảng 3.22: Chiều dài mạch máu thận
Chiều dài (mm)
Ngắn nhất
Dài nhất
Trung bình
Chiều dài động mạch
18
50

1
3
2,46 ± 0,51
Dùng thuốc giảm đau
2
4
3,32 ± 0,57
Thời gian nằm viện
3
7
4,81 ± 1,17

3.3.7. Diễn tiến ghép và tình trạng thận ngay sau khi ghép: Thời
gian thiếu máu lạnh: 97,23 ± 48,64 phút. Thời gian thiếu máu ấm:
44,5 ± 14,80 phút. Tình trạng thận ghép ngay sau mở kẹp mạch máu:
Thận căng, hồng đều 94,33%, Có nước tiểu tại bàn 84,90%.
3.3.8. Diễn tiến hồi phục chức năng thận ghép: Thời gian phục hồi
chức năng thận ghép trung bình là: 5.28 ± 6.50 ngày (Nhanh nhất là 1
ngày chậm nhất 54 ngày).
3.3.9. Tình trạng bệnh nhân ghép thận lúc xuất viện: Tất cả các
TH bệnh nhân ghép thận lúc xuất viện chức năng thận trở về bình
thường với creatinine-huyết thanh trung bình= 1,18 ± 0,21 mg/dL
chiếm tỷ lệ 100%%.
3.4. Kết quả theo dõi người cho thận sau khi xuất viện: Thời gian
trở lại lao động 2,47 ± 1,11 tuần, thời gian theo dõi 29,57 ± 19,79
tháng, Hématocrit 41,48 ± 4,33 %, Creatinine-huyết thanh 1,16 ± 0,17
mg/dL, Độ thanh lọc cầu thận (GFR): 64,69 ± 16,20 ml/phút.

17
Chương 4. BÀN LUẬN

và các mạch máu lớn. Kết quả so sánh minh họa trong bảng 4.3.
18
Bảng 4.3: So sánh chỉ số BMI, thời gian mổ và thời gian thiếu
máu nóng
Chỉ số BMI
Thời gian mổ (phút)
Thời gian thiếu máu nóng (giây)
Dưới 23
162.72 ± 44.39
270.26 ± 82.51
Trên 23
199.29 ± 29.93
297.86 ± 98.66
p
p<0,005
p>0,05
4.1.5. Bất thường về cấu trúc mạch máu thận:
Bảng 4.4: Liên quan giữa kết quả mổ và bất thường động mạch thận
Đặc điểm trong mổ lấy thận
Có 1 động mạch
Có >1 động mạch
p
Thời gian thiếu máu nóng
272.55 ± 87.37
278.54 ±76.96
p>0,05
Thời gian mổ
165.98 ± 44.05
172.92 ± 46.23
p>0,05

Chuyên 2007 sử dụng từ 3 đến 5 trocar NSSPM cắt thận mất chức
năng tùy tình huống và độ khó của phẫu thuật. Hoznek và nhóm
Abbou trong 3 TH đầu tiên (2001) sử dụng đến 5 trocar. Gaur, Abbou,
Naoki Kohei thực hiện với 4 trocar.
- Các trocar tạo thành hình tam giác giúp thuận lợi trong thao tác,
chọn vò trí giữa 2 trocar và đo khoảng cách 8cm qua tính toán dựa vào
kích thước thận là đường rạch da để lấy thận ra khỏi cơ thể sẽ tiết
kiệm đường mổ.
- Choàng gạc nội soi hoặc kẹp bờm mỡ cực dưới thận để lấy thận
ra, không cần sử dụng vợt lấy thận và handport giúp tiết kiệm chi phí
cũng như an toàn do thận nằm ngay dưới tay trong khoang sau phúc
mạc không lẫn vào ruột khi NSOB.
4.2.2. Các phương pháp xử lý mạch máu cuống thận
Hiện nay trên thế giới, người ta có xu hướng ưa chuộng kẹp mạch
máu thận bằng clip Hem-O-Lok (Weck Closure System) vì có độ an toàn
cao. Do những thông tin ngoài y văn có 2 trường hợp nghi bung weck clip
vì sử dụng 1 weck clip đơn độc, nên tôi chủ trương tăng cường thêm 2 clip
Titanium 400 với 1 Weck hoặc 1 clip và 2 weck, mặc dù sẽ làm ngắn đi
mạch máu thận nhưng đảm bảo an toàn tuyệt đối đối với người cho thận.
Anant Kumar (Ấn Độ) báo cáo 1.200 TH sử dụng weck kẹp cả động
mạch và tónh mạch 1.110 TH có biến chứng tử vong ngay sau mổ 1
TH do bung Hem-O-Lok clip.
Thông tin của FDA (Mỹ) trong thời gian từ 2001-2005 có 15 báo
cáo ghi nhận 12 trường hợp tổn thương mạch máu và 3 TH tử vong khi
sử dụng Hem-O-Lok (weck) kẹp động mạch thận trong nội soi cắt
thận từ người cho sống. Năm 2006 tổ chức này cấm sử dụng những
20
weck clip có số serie cụ thể và khuyến cáo nên cẩn thận khi chỉ đònh
dùng weck kẹp động mạch thận trong nội soi lấy thận để ghép.
Theo kinh nghiệm thực hành sử dụng Hem-O-Lok tôi nhận thấy khá là

Khảo sát đường cong học tập khi xét mối liên quan giữa thời gian
thiếu máu nóng và số trường hợp mổ sắp xếp theo nhóm, mỗi nhóm
có 30 TH. Kết quả đường cong học tập đạt được sau 30

TH (biểu đồ
4.1).
21
Srivastava và Gupta (2008) báo cáo 342 TH mổ NSOB có WIT là
270 giây sự khác biệt không có ý nghóa. Simforoosh (2006) mổ NSOB
341 TH ghi nhận WIT= 490 giây (p<0,05). Yuzawa (2006) thực hiện
441 TH có WIT= 318 giây (p<0,05).
Naoki Kohei (2009) báo cáo 425 NSSPM cho thấy WIT= 288 ±
96 giây (4,8 ± 1,6 phút), sự khác biệt không có ý nghóa (p>0,05). Trần
Ngọc Sinh (2010) báo cáo 78 TH cắt thận NSSPM có WIT= 307 ± 124
giây, sự khác biệt có ý nghóa (p<0,05).
Kitada (2010) NSSPM với bàn tay hỗ trợ 40 TH có WIT= 306 ±
162 phút, so với kết quả của tôi có sự khác biệt với p<0,05.
4.2.4. Thời gian mổ
Khảo sát về thời gian mổ và vò trí thận lấy cho thấy sự khác biệt
không có ý nghóa.
Bảng 4.8: Liên quan giữa thời gian mổ và vò trí thận chọn lấy
Đặc điểm/mổ
Thận phải
Thận trái
p
Thời gian mổ
168,55 48,89
166,98 42,09
p>0,05
Theo đường biểu diễn của đồ thò (biểu đồ 4.2) cho thấy sự khác biệt

tất cả các TH tôi nối tận-tận với động mạch chậu trong của người
nhận. Tôi quan tâm đến chiều dài TM thận vì tiêu chuẩn chọn lựa
không dựa vào vò trí thận mà dựa vào chức năng là chính nên có đến
38/106TH lấy thận phải. Liên quan giữa chiều dài mạch máu thận và
vò trí thận lấy được mô tả trong bảng 4.10.
Liên quan giữa chiều dài TM thận và vò trí thận chọn lấy để ghép
được minh họa trong bảng 4.11. Những TH tónh mạch ngắn <15mm
được áp dụng kỹ thuật nhổ gốc và chuyển vò mạch máu thận hay mạch
máu vùng chậu của người nhận.
Bảng 4.11: Chiều dài tónh mạch thận và vò trí thận lấy để ghép
Đặc điểm trong mổ
Thận phải
Thận trái
Tổng cộng
n
%
n
%
n
%
Tónh mạch thận ngắn
17
44,7
7
10,3
24
22,6
Không ngắn
21
55,3

là: 100% TH diễn tiến thuận lợi, người cho thận có thể đi lại thoải mái
và tự sinh hoạt 48-72 giờ sau mổ. Thời gian có trung tiện: 1,78 ± 0,47
ngày (1-3). Thời gian sử dụng thuốc giảm đau: 3,32 ± 0,57 ngày (2-4).
Thời gian rút thông tiểu: 1,43 ± 0,49 ngày (1-2). Thời gian rút ống dẫn
lưu hốc thận: 2,46 ± 0,51 ngày (1-3). Chức năng thận kiểm tra sau mổ
BUN 12,83 ± 4,22mg/dL, Creatinine- huyết thanh 1,10 ± 0,22mg/dL.
Lượng nước tiểu/24 giờ: 2725,47 ± 1106,87ml.
So sánh kết quả nghiên cứu với các tác giả khác thể hiện trong
bảng 4.14: Thời gian nằm viện trong loạt của tôi dài hơn tác giả Naoki,
Simforoosh và 342 TH mổ nội soi của Srivastava có ý nghóa. Còn lại
những tác giả khác đều dài hơn thời gian của loạt này với p<0,05.
4.2.8. Biến chứng liên quan đến phẫu thuật lấy thận
Trong loạt nghiên cứu này tôi tiến hành khảo sát những biến
chứng liên quan đến phẫu thuật bao gồm: Biến chứng đối với người
cho thận. Biến chứng trên quả thận được lấy để ghép. Biến chứng trên
người nhận thận liên quan đến kỹ thuật mổ.
24
Không có biến chứng đối với người cho thận trong mổ và sau mổ.
Có 23/106 TH (21,68%) tổn thương bao thận: bong bao thận (7
TH), rách bao thận (1TH) và tụ máu dưới bao thận (14 TH). Các TH
tổn thương bao thận có diện tích nhỏ từ 2-3cm
2
khu trú ở một cực thận,
thường là mặt trước cực trên, được xử trí nhẹ nhàng sau khi rửa và
hoàn toàn không ảnh hưởng đến sự hồi phục chức năng thận ghép.
Có 2/106 TH rò niệu quản thận ghép theo nhận đònh là lỗi của kỹ
thuật dùng đốt đơn cực, phải mổ lại khâu chỗ rò (độ 2b theo Clavien),
diễn tiến sau đó ổn đònh, bệnh nhân xuất viện trong tình trạng chức
năng thận ghép bình thường. Như vậy, có thể cho rằng biến chứng thật
sự của loạt nghiên cứu này là 2/106 TH chiếm tỷ lệ 1,88%.

cách xử lý cuống thận, đường rạch da lấy thận ra nối giữa 2 trocar…
Qui trình khá đơn giản, an toàn ít tốn kém, nhưng hiệu quả có thể áp
dụng cho các phẫu thuật viên Tiết niệu đã có một số kinh nghiệm
trong lónh vực nội soi…
Đường vào với 3 trocar (5mm, 10mm và 10mm) là đủ cho thao tác mổ
cắt thận NSSPM trên người Việt Nam (BMI trung bình = 22,33 ± 3,0).
Chọn đường rạch da giữa 2 trocar để lấy thận hạn chế số vết mổ.
Người cho thận chỉ có một vết mổ dài 8 cm và một lỗ trocar 5mm dẫn lưu
sau phúc mạc giúp giảm đau hậu phẫu.
Cách lấy thận đơn giản không cần vợt lấy thận (thận nằm ngay dưới
tay sau phúc mạc và không di động như lấy thận qua nội soi ổ bụng), không
cần bàn tay hỗ trợ (hand- assisted): tiết kiệm chi phí (bag retrieval,
handport) và hạn chế vết mổ.
Phương pháp xử lý cuống mạch máu thận cải tiến thay đổi, không
dùng stapler (Endo-GIA) nhưng vẫn đảm bảo an toàn và hiệu quả đối
với người cho.
Nội soi kiểm tra hốc thận sau lấy thận (không có TH nào chảy
máu sau mổ phải can thiệp lại). Hồi sức 24 giờ đầu tại ICU là an toàn
và cần thiết đề phòng biến chứng chảy máu.
Thời gian nằm viện có thể ngắn hơn: có thể xuất viện sau rút các
ống dẫn lưu và chức năng thận người cho sau mổ bình thường, nhưng
để thật sự an toàn nên theo dõi tại viện 5 ngày.
Về đánh giá kết quả của phẫu thuật nội soi sau phúc mạc:
Kết quả đạt được cho thấy tỷ lệ thành công của phẫu thuật nội soi
là 100%, không có trường hợp nào chuyển mổ mở, không cần truyền
máu, không can thiệp lại, không có tổn thương thận, mạch máu thận
lấy và các tạng lân cận. Thời gian mổ nhanh (167,54± 44,42 phút),
thời gian thiếu máu nóng ngắn (273,90 ± 84,81 giây). Thời gian hồi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status