tóm tắt luận án kết quả phẫu thuật nội soi cắt nang ống mật chủ ở trẻ em dựa trên chẩn đoán hình ảnh cộng hưởng từ mật – tụy - Pdf 22

1

GIỚI THIỆU LUẬN ÁN
1. Đặt vấn đề
Nang ống mật chủ (NOMC) là bệnh bẩm sinh giải phẫu của
đường mật khá phổ biến ở trẻ em tại Châu Á, trong đó có Việt Nam.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây về chẩn đoán NOMC
ở trẻ em chỉ dựa vào siêu âm và chụp đường mật trong mổ và gần
đây đã có nhiều nghiên cứu về đánh giá kết quả cắt nang qua nội soi
ổ bụng. Tuy vậy, nghiên cứu ứng dụng cộng hưởng từ mật – tụy
(CHTMT) trước mổ để khảo sát thể loại nang, hẹp ống gan cũng như
các biến thể giải phẫu đường mật phối hợp trong NOMC ở trẻ em,
giúp hoạch định chiến lược điều trị thích hợp còn chưa được nghiên
cứu. Ngoài ra, phẫu thuật nội soi (PTNS) cắt nang kèm xử trí hẹp ống
gan và các biến thể giải phẫu của đường mật và động mạch gan phối
hợp trong NOMC có an toàn hay không cũng là vấn đề còn bỏ ngỏ.
Các mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm:
1. Chẩn đoán thể loại nang ống mật chủ, hẹp ống gan và các biến thể
giải phẫu đường mật phối hợp ở trẻ em dựa vào hình ảnh cộng hưởng
từ mật – tụy trước mổ có đối chiếu với phẫu thuật.
2. Đánh giá kết quả bước đầu của phẫu thuật nội soi cắt nang, kết hợp
xử trí hẹp ống gan và các biến thể giải phẫu của đường mật và động
mạch gan phối hợp (nếu có) trong nang ống mật chủ ở trẻ em.
2. Tính cấp thiết của đề tài
Phẫu thuật nội soi điều trị nang ống mật chủ ở trẻ em đã cho
thấy ít xâm hại, phù hợp với xu thế hiện nay nên được áp dụng ở
nhiều bệnh viện trong cả nước. Tuy vậy, việc đánh giá phẫu thuật nội
soi cắt nang kèm xử trí hẹp ống gan hay các biến thể giải phẫu của
đường mật phối hợp nếu được phát hiện trên chẩn đoán hình ảnh
trước mổ, có an toàn hay không vẫn còn chưa được nghiên cứu. Đề
2


Mặc dù có nhiều phân loại về NOMC, nhưng hiện nay phân
loại của Todani vẫn còn được chấp nhận rộng rãi trên thế giới và ở
trẻ em đa số các trường hợp là nang loại I và loại IV. Todani chia
NOMC thành 5 loại:
Loại I: giãn đường mật ngoài gan đơn thuần có dạng cầu hoặc
dạng thoi. Loại này có 3 thể, thể Ia là giãn ống mật chủ thành nang
dạng cầu, Ib là giãn một đoạn ống mật chủ và Ic là giãn ống mật chủ
dạng thoi.
Loại II: túi thừa đường mật ngoài gan. Loại này hiếm gặp,
chiếm tỷ lệ ít hơn 5%.
Loại III: sa ống mật chủ, giãn ống mật chủ trong thành tá
tràng. Loại này chiếm khoảng 5%.
Loại IV: nhiều nang đường mật, loại này chia là 2 thể:
IVA: nhiều nang đường mật trong và ngoài gan, chiếm tỷ lệ 30
– 40%. IVB: nhiều nang đường mật ngoài gan.
Loại V: một hoặc nhiều nang đường mật trong gan, một số
trong đó được phân loại như bệnh Caroli.
Điểm lưu ý là NOMC thường kèm theo bất thường kênh
chung mật – tụy (KCMT) với tỷ lệ cao từ 33 – 96,2% và nang thể
IVA thường kèm hẹp các ống gan tại hợp lưu. Hẹp ống gan được
phân loại thành hẹp tương đối và hẹp do màng ngăn.
Theo Todani T, những biến thể giải phẫu của đường mật và
động mạch gan phối hợp trong NOMC thường gặp là hợp lưu 2 ống
gan thấp, ống gan phải sau đổ lạc chỗ vào ống gan chung (OGC)
hoặc ống túi mật, OGC rất nhỏ và động mạch gan phải bắt chéo trước
OGC hoặc ống mật chủ. Các biến thể này gặp khoảng 8% bệnh nhi,
được phát hiện qua chụp X quang đường mật hoặc quan sát trực tiếp
trong mổ.
4


ảnh cây đường mật có thể được tái tạo 3 chiều. Chụp cộng hưởng từ
tránh được nhiễm xạ như trong chụp cắt lớp vi tính và chụp mật – tụy
ngược dòng qua nội soi và tránh được những biến chứng tiềm tàng
sau chụp mật – tụy ngược dòng qua nội soi như viêm đường mật và
viêm tụy.
Tóm lại, hiện nay siêu âm chẩn đoán xác định hầu hết NOMC.
CHTMT là phương tiện tốt nhất để chẩn đoán và đánh giá giải phẫu
đường mật trước mổ. Tuy nhiên, nếu cộng hưởng từ không cung cấp
đủ hình ảnh giải phẫu để quyết định điều trị thì nên chụp đường mật
trong mổ lúc phẫu thuật cắt nang.
1.3. Điều trị phẫu thuật nang ống mật chủ
Cắt toàn bộ nang và tái lập lưu thông mật – ruột là điều trị
chọn lựa cho NOMC.
1.3.2. Kỹ thuật cắt NOMC ở trẻ em qua nội soi: thường dùng kỹ
thuật 4 trocar. Phẫu tích nang ra khỏi tĩnh mạch cửa và động mạch
gan bắt đầu ở phần giữa nang, sau đó cắt đôi nang và phẫu tích 2 nửa
nang ra tổ chức xung quanh. Có thể phẫu tích nang ở chỗ ống túi mật
đổ vào OGC ra khỏi tĩnh mạch cửa và động mạch gan, cắt đôi và
phẫu tích nang về phía dưới. Hoặc không mở nang, phẫu tích nang và
cột cắt đầu dưới trước, sau đó phẫu tích nang về phía trên lên OGC.
Tái tạo lưu thông mật – ruột bằng nối ống gan – hỗng tràng (OG -
HT) hoặc nối ống gan – tá tràng với khâu nối bằng tay qua nội soi.
Trong nối OG - HT, quai Roux có thể thực hiện trong ổ bung với
máy khâu nối hoặc đưa hỗng tràng ra ngoài ổ bụng qua ngã trocar rốn
mở rộng.
1.3.3. Soi đường mật trong mổ: sau khi cắt OGC có thể đưa kính soi
5 mm – 30
0
vào đường mật trong gan để nhìn chỗ hẹp, sỏi hoặc nút


7

Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Các bệnh nhi NOMC được chụp CHTMT trước mổ và được
phẫu thuật cắt nang, nối OG – HT kiểu Roux – en – Y qua nội soi ổ
bụng tại bệnh viện Nhi đồng 1 Thành Phố Hồ Chí Minh từ tháng
9/2009 đến tháng 12/2011.
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo kiểu nghiên cứu đoàn hệ tiến
cứu. Biến cố kết cục là tỷ lệ tai biến trong mổ và biến chứng sớm sau
mổ cắt nang qua nội soi.
Các bệnh nhi trong nghiên cứu được chia thành 2 nhóm dựa
theo kết quả trong mổ:
- Nhóm I: các bệnh nhi không có hẹp ống gan hoặc biến thể
giải phẫu của đường mật, động mạch gan liên quan với phẫu thuật.
- Nhóm II: các bệnh nhi có hẹp ống gan và/hoặc có biến thể
giải phẫu của đường mật, động mạch gan liên quan với phẫu thuật.
2.2.3. Phương pháp nghiên cứu cộng hưởng từ mật – tụy trước mổ
Chụp cộng hưởng từ mật – tụy trước mổ tại khoa chẩn đoán
hình ảnh bệnh viện Chợ rẫy và Trung tâm Y Khoa Medic, máy cộng
hưởng từ 1,5 Tesla có dựng hình 3 chiều. Bệnh nhi nhịn ăn trước
chụp cộng hưởng từ 6 giờ. Đối với trẻ < 36 tháng hoặc trẻ không hợp
tác với thầy thuốc phải dùng thuốc an thần. Khảo sát vùng bụng với
chuỗi xung HASTE với nhiều lát cắt mỏng 4 mm chếch xoay quanh
một điểm nằm ở vùng rốn gan, bệnh nhi không nín thở. Hình ảnh thu
nhận được gồm hình nhiều lát cắt mỏng và hình được xử lý lại theo
thuật toán tối ưu hóa tín hiệu. Hình ảnh cộng hưởng từ được phân

đánh giá tình trạng bất thường hợp lưu các ống gan. Nếu không có
bất thường thì tiến hành cắt vát mỏm OGC chỉ chừa lại từ 3 – 5 mm
dưới hợp lưu các ống gan. Những trường hợp có hẹp hợp lưu hay có
biến thể giải phẫu đường mật thì tiến hành tạo hình ống gan hoặc xử
trí các biến thể.
Xử trí hẹp ống gan: Hẹp hợp lưu các ống gan kiểu tương đối
thì xẻ dọc thành bên ống gan hẹp, hẹp kiểu màng ngăn thì cắt màng
ngăn. Hẹp đường mật trong gan thì nong đường mật.
9

Xử trí các biến thể: Hợp lưu các ống gan thấp: cắt trọn nang,
nếu 2 ống gan rời nhau thì khâu chập lại khi 2 ống gan gần nhau. Nếu
2 ống gan còn dính nhau thì cắt tại hợp lưu. Ống gan lạc chỗ đổ vào
OGC thì chỉ cắt vát OGC ngay dưới chỗ hợp lưu của ống gan lạc chỗ
và OGC, ống gan lạc chỗ đổ vào ống túi mật thì cắt ống ống gan lạc
chỗ ra khỏi ống túi mật và cắt OGC ra khỏi nang. OGC rất nhỏ thì cắt
cao đến hợp lưu các ống gan, mở dọc thành bên các ống gan và sau
đó khâu lộn niêm mạc các ống gan vào nhu mô gan xung quanh.
Rửa đường mật trong gan: nếu có sỏi.
Kỹ thuật tạo quai hỗng tràng Roux – en – Y ngoài cơ thể
Tái lập lưu thông mật – ruột: nối OG – HT kiểu tận – bên,
ngoại trừ những trường hợp đã khâu lộn niêm mạc các ống gan thì
nối cửa gan – hỗng tràng kiểu Kasai.
2.2.5. Phương pháp đánh giá kết quả phẫu thuật và theo dõi sau
mổ
Ghi nhận các thông tin cần nghiên cứu trong mổ, trong quá
trình chăm sóc sau mổ và khi theo dõi định kỳ 1, 3, 6, 12 tháng và
mỗi năm sau xuất viện.
2.2.7. Phương pháp thống kê
Thu thập số liệu vào bệnh án mẫu, gồm:

Bảng 3.1. So sánh đặc điểm chung của bệnh nhi nhóm I và nhóm II
Đặc điểm
Nhóm I
Nhóm II
P
Tuổi TB (trung vị) (tháng)
54,9 ± 30 (46)
43,8 ± 25,4 (37)
0,06*
Tỷ số nữ/nam
3,8/1
3,6/1
0,93†
Thời gian biểu hiện bệnh
TB (trung vị) (tháng)
15,8 ± 19,9 (4)
6,0 ± 8,5 (1)
0,08*
*Mann-Whitney U, † Chi
2
.
Đặc điểm chung của 2 nhóm khác nhau không có ý nghĩa.
11

3.2. Chẩn đoán thể loại nang ống mật chủ dựa vào cộng hƣởng từ
mật - tụy
Bảng 3.11. Phân bố thể loại nang của 85 trường hợp theo Todani
Phân bố
Thể loại nang
I

Hẹp ống
gan
n
Thể loại nang
Ia
Ib
Ic
IVA
IVB
Không
60
17
85%
2
100%
18
90%
22
56,4%
1
25%

25
3
15%
0
0%
2
10%
17

59
59
Tổng cộng

25
60
85
Như vậy cộng hưởng từ đánh giá hẹp ống gan có độ nhạy
100%, độ đặc hiệu 98,3% và độ chính xác là 98,8%.
3.3.2. Chẩn đoán các biến thể giải phẫu đường mật phối hợp
Cộng hưởng từ cho thấy có 19 (22,4%) trường hợp có biến thể
giải phẫu đường mật phối hợp ở hai nhóm, trong đó có 2 (2,4%) bệnh
nhi có 2 biến thể đồng thời. Trong số đó có 8 (9,4%) bệnh nhi với 10
(11,8%) biến thể giải phẫu đường mật liên quan với phẫu thuật: hợp
lưu ống gan thấp, ống gan lạc chỗ và OGC rất nhỏ.
Bảng 3.21. Phân bố các biến thể giải phẫu đường mật
trên cộng hưởng từ mật – tụy
Biến thể giải phẫu
Hai nhóm
Nhóm I
Nhóm II
Hợp lưu thấp
2
2,4%
0
0,0%
2
5,4%
Ống gan lạc chỗ
5


13

3.4. Kỹ thuật cắt nang, xử trí hẹp ống gan và các biến thể giải
phẫu của đƣờng mật và động mạch gan qua nội soi ổ bụng
3.4.1. Kỹ thuật cắt nang và các yếu tố liên quan
Bảng 3.23. So sánh cách cắt nang giữa nhóm I với nhóm II
Cách cắt nang
Nhóm I
Nhóm II
Ngoài vách
47
97,9%
36
97,3%
Trong vách
1
2,1%
1
2,7%
Fisher’s exact test, p = 0,68.
Bảng 3.24. So sánh cách xử trí đầu dưới nang của nhóm I và nhóm II
Nhóm
n
Cách xử trí đầu dưới nang
Clip
Cột
Khâu
I
48

- Ống gan lạc chỗ đổ vào OGC: 2 (67%) trường hợp cắt vát
OGC dưới chỗ đổ ống gan lạc chỗ và 1 (33%) trường hợp cắt vát
OGC kèm xẻ dọc ống gan lạc chỗ.
- Ống gan lạc chỗ đổ vào ống túi mật kèm OGC rất nhỏ: 2
(100%) trường hợp đều được cắt ống gan lạc chỗ gần nhu mô gan và
cắt OGC ngay hợp lưu kèm khâu lộn niêm mạc các ống gan.
- Ống gan chung rất nhỏ: có 3 trường hợp (2 trường hợp phối hợp
kể trên), cắt OGC ngay hợp lưu và khâu lộn niêm mạc các ống gan.
- Động mạch gan phải trước ống mật chủ: tất cả 4 (100%) trường
hợp đều được chuyển vị động mạch về vị trí giải phẫu bình thường.
Bảng 3.26. So sánh tỷ lệ các kiểu nối mật – ruột giữa 2 nhóm
Kiểu nối mật – ruột
Nhóm I
Nhóm II
Ống gan chung – hỗng tràng
48
100,0%
8
21,6%
Hợp lưu ống gan – hỗng tràng
0
0,0%
26
70,3%
Cửa gan – hỗng tràng
0
0,0%
3
8,1%
Fisher’s exact test; p = 0,00.

Rò mật
1
2,1%
3†
8,1%
0,31
Tụ dịch
0
0%
3
8,1%
0,08
Chảy máu
1
2,1%
0
0%
1,00
Không
46
95,8%
31
83,8%
0,07
*Fisher’s exact test, †1 trường hợp phải mổ lại vào ngày thứ 4
sau mổ vì rò miệng nối hợp lưu OG – HT.
Tỷ lệ các biến chứng sớm giữa 2 nhóm khác nhau không có ý
nghĩa thống kê (p > 0,05).
Bảng 3.37. Nguy cơ tai biến trong mổ và biến chứng sớm sau mổ
của nhóm II so với nhóm I

đối; KTC: khoảng tin
cậy
Nguy cơ tương đối là 2,6 với KTC 95% là 0,7 – 9,7. Sự khác
biệt về nguy cơ chưa có ý nghía thống kê (p = 0,17).
3.6. Kết quả sau xuất viện
Thời gian theo dõi sau mổ trung bình của toàn bộ bệnh nhi
14,0 ± 6,0 tháng, trung vị 16 tháng, ngắn nhất 3 tháng và dài nhất 25
tháng.

16

Bảng 3.39. So sánh thời gian theo dõi sau mổ của nhóm I và nhóm II
Nhóm
n
Thời gian theo dõi (tháng)
Trung bình
Độ lệch chuẩn
Trung vị
I
48
13,5
6,2
12
II
37
14,6
5,9
16
*Mann-Whitney U, p = 0,39.
Bảng 3.40. So sánh tỷ lệ các biến chứng muộn sau mổ

(210)
215,7 ± 39,4
(210)
0,60*
Thời gian phục hồi lưu thông ruột
TB (trung vị)
2,1 ± 0,3 (2)
2,1 ± 0,3 (2)
0,78*
Thời gian hậu phẫu TB (trung vị)
9,4 ± 3,2 (8)
11,1 ± 4,7 (9)
0,03*
Tai biến trong mổ
1
2,1%
0
0%
1,00†
Biến chứng sớm
2
4,2%
6
16,2%
0,07†
Biến chứng muộn
2
4,2%
0
0%


Chƣơng 4: BÀN LUẬN
4.2. Giá trị của cộng hƣởng từ mật – tụy trong chẩn đoán thể loại
nang ống mật chủ
Hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy CHTMT đánh giá chính
xác thể loại nang như chụp đường mật trực tiếp nhờ đánh giá chính xác
dạng nang và giãn đường mật trong gan. Do đó, ngày nay CHTMT
được xem là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán NOMC ở trẻ em.
Nghiên cứu cho thấy chỉ gặp nang loại I và nang loại IV theo
phân loại của Todani với tỷ lệ gần tương đương, các loại nang khác
chúng tôi không gặp. Trong nang loại I, thể loại Ia và Ic có tỷ lệ
tương đương; thể Ib gặp với tỷ lệ rất thấp. Trong nang loại IV, thể
loại IVA chiếm đa số trường hợp và nang thể IVB chiếm tỷ lệ thấp
hơn nhiều.
Nghiên cứu trên y văn thế giới chúng tôi nhận thấy cho đến
nay chỉ vài trường hợp NOMC loại II và loại III ở trẻ em được thông
báo và nang loại V đôi khi được báo cáo ở các nước Phương Tây.
Nhiều nghiên cứu tại Việt Nam với số lượng lớn bệnh nhi NOMC
vẫn chưa có trường hợp nào thuộc nang loại II, III và V được thông
báo. Điều này cho thấy nang loại II, III và V là những loại nang rất
hiếm gặp ở trẻ em. Như vậy có thể nói NOMC ở trẻ em hầu hết là
18

nang loại I và loại IV. Tuy nhiên, nhờ chụp cộng hưởng từ cho hình
ảnh rõ nét hình thể nang nên chúng tôi dễ dàng phát hiện thể nhiều
nang đường mật ngoài gan mà không giãn đường mật trong gan như
thể IVB hoặc nang OGC hoặc giãn một đoạn ống mật chủ như nang
thể Ib. Nghiên cứu chúng tôi còn cho thấy nang thể IVA và IVB có tỷ
lệ hẹp ống gan cao hơn nhiều so với nang thể Ia, Ib và Ic.
Do đó, đánh giá thể loại nang bằng cộng hưởng từ mật – tụy

(11,8%) biến thể phối hợp trong hai nhóm bệnh nhi có liên quan đến
phẫu thuật được phát hiện trên CHTMT. Tỷ lệ này cũng phù hợp với
các nghiên cứu khác. Trước đây, các biến thể giải phẫu đường mật
thường được phát hiện trong mổ bằng quan sát trực tiếp, qua nội soi
đường mật hoặc chụp đường mật trong mổ. Ngày nay, CHTMT và
chụp cắt lớp vi tính xoắn ốc có dựng hình 3 chiều là những kỹ thuật
đang được sử dụng để đánh giá toàn cảnh cây đường mật và phát hiện
các biến thể đường mật trước phẫu thuật trên đường mật hay trong
ghép gan. Tuy nhiên, chụp đường mật cộng hưởng từ có dựng hình 3
chiều để xác định các biến thể đường mật ở trẻ em có vẻ có ưu thế
hơn do không gây nhiễm xạ, không bị tác dụng phụ gây độc thận của
thuốc cản quang và do hình ảnh được tái tạo 3 chiều nên cây đường
mật có thể được quan sát dưới nhiều góc độ khác nhau.
Nghiên cứu cho thấy, CHTMT chẩn đoán chính xác tất cả các
trường hợp biến thể tương tự như nghiên cứu của Saito T và Huang S.J.
Như vậy, CHTMT trước mổ giúp chẩn đoán chính xác các biến
thể giải phẫu của đường mật phối hợp nhằm hạn chế những tai biến
có thể xảy ra trong mổ cắt NOMC qua nội soi ở trẻ em.
4.4. Kỹ thuật cắt nang, xử trí hẹp ống gan, các biến thể giải phẫu
của đƣờng mật và động mạch gan qua nội soi ổ bụng
20

4.4.2. Khả năng xử trí hẹp ống gan và biến thể giải phẫu của
đường mât và động mạch gan qua nội soi
Chỉ có một trường hợp hẹp ống gan trong gan trái không thể
tạo hình được, chỉ nong chỗ hẹp, các trường hợp hẹp ống gan còn lại
đều ở hợp lưu ống gan phải và trái nên đều có thể tạo hình ống gan
hẹp sau khi cắt OGC tại hợp lưu. Không có trường hợp nào phải
chuyển mổ mở vì hẹp ống gan.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy qua nội soi có thể giải

4.5.6.1. Rò mật
Tỷ lệ rò mật của nhóm II nhiều hơn của nhóm I không đáng kể.
Đa số giảm dần và hết rò hoàn toàn sau 12 ngày nên chỉ được điều trị
bảo tồn. Chỉ có 2,7% trường hợp của nhóm II bị rò mật qua ống dẫn
lưu với lượng dịch khá nhiều nên phải mổ lại vào ngày thứ 4 sau mổ.
Trường hợp rò mật này do lỗi kỹ thuật khâu nối mật – ruột. Hậu phẫu
bệnh nhi bị viêm phổi, nhưng ổn định dần. Do đó, nên khâu tăng
cường ở miệng nối mật – ruột để giảm biến chứng rò mật.
4.5.6.2. Tụ dịch nhiễm trùng trong ổ bụng
Tỷ lệ tụ dịch trong ổ bụng của nhóm II nhiều hơn của nhóm I
chưa có ý nghĩa và cũng tương đương với các nghiên cứu khác. Tụ
dịch ổ bụng có thể do rò nhẹ miệng nối mật – ruột nhưng dẫn lưu
không hiệu quả hoặc do nhiễm bẩn vùng mổ trong thì cắt nang và
khâu nối mật – ruột. Chọc hút hết dịch mật trong nang trước khi cắt
OGC và rửa bụng vùng dưới gan bằng nước muối sinh lý trước khi
kết thúc phẫu thuật cũng hạn chế được biến chứng này. Tất cả các
trường hợp tụ dịch đều được điều trị bảo tồn thành công.
4.5.6.3. Chảy máu trong ổ bụng
Có 2,1% trường hợp bệnh nhi nhóm I bị chảy máu ổ bụng qua
ống dẫn lưu nhưng ở nhóm II không có trường hợp nào. Trường hợp
22

này có lẽ chảy máu từ diện phẫu tích nên tự cầm. Như vậy, chảy máu
trong ổ bụng sau mổ không liên quan đến việc xử trí hẹp ống gan và
các biến thể giải phẫu của đường mật và động mạch gan. Cầm máu tỉ
mỉ diện phẫu tích sẽ giảm được biến chứng này.
4.5.6.4. Biến chứng khác
Không gặp các biến chứng khác như rò tụy, viêm tụy cấp và
tắc ruột sớm. Chúng tôi nhận thấy xử lý tốt đầu dưới nang sẽ góp
phần hạn chế biến chứng rò tụy hay viêm tụy sau mổ.

hưởng từ mật – tụy trước mổ có đối chiếu với phẫu thuật
NOMC trẻ em gồm nang loại I và loại IV với tỷ lệ gần tương
đương. Trong nang loại I, thể Ia và Ic chiếm đa số với tỷ lệ tương
đương; trong nang loại IV, thể IVA chiếm đa số trường hợp.
Hẹp ống gan gặp trong 29,4% trường hợp NOMC ở trẻ em.
Đặc biệt, nang thể IVA có tỷ lệ hẹp ống gan đến 43,6%. Có 9,4%
trường hợp NOMC có biến thể giải phẫu đường mật liên quan với
phẫu thuật.
CHTMT có độ nhạy 100% và độ đặc hiệu 98,3% trong chẩn
đoán hẹp ống gan, có thể chẩn đoán chính xác một số biến thể giải
phẫu đường mật phối hợp trong NOMC như: hợp lưu ống gan thấp và
ống gan lạc chỗ.
2. Kết quả bước đầu của phẫu thuật nội soi cắt nang, kết hợp xử trí
hẹp ống gan và các biến thể giải phẫu của đường mật và động mạch
gan phối hợp (nếu có) trong nang ống mật chủ ở trẻ em
Phẫu thuật nội soi sử dụng 4 trocar cắt NOMC và nối ống gan
– hỗng tràng kiểu Roux – en – Y ở trẻ em là an toàn và hiệu quả cho
cả nang có hẹp ống gan hoặc có các biến thể giải phẫu của đường mật
và động mạch gan. Có thể tạo hình ống gan hẹp tại hợp lưu các ống
gan phải và trái và xử trí triệt để một số biến thể giải phẫu của đường
24

mật và động mạch gan phối hợp mà không làm tăng đáng kể tỷ lệ tai
biến trong mổ và biến chứng sớm sau mổ so với cắt nang đơn thuần
(16,2% so với 6,3%).
Không có tử vong trong và sau mổ, tai biến trong mổ rất thấp
(1,2%), không có trường hợp nào chuyển mổ mở, tỷ lệ biến chứng
sớm thấp (9,4%), thời gian phục hồi lưu thông ruột sớm (2,1 ± 0,3
ngày), ít gặp biến chứng muộn (2,4%) với thời gian theo dõi sau mổ
16 tháng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status