Tài liệu Phẫu thuật cắt bướu tuyến thượng thận qua nội soi ổ bụng tại bệnh viện Chợ Rẫy doc - Pdf 84

Nghiên cứu Y học
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005

** Be
PHẪU THUẬT CẮT BỨỚU TUYẾN THƯNG THẬN
QUA NỘI SOI Ổ BỤNG TẠI BỆNH VIỆN CH RẪY
Ngô Xuân Thái*, Trần Ngọc Sinh*
,
Vũ Lê Chuyên**
TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Hiện nay phẫu thuật cắt bướu tuyến thượng thận qua nội soi đã trở thành phương pháp
điều trò lựa chọn trong nhiều trường hợp. Bệnh viện Chợ Rẫy đã thực hiện phẫu thuật này từ tháng
4/2004. Chúng tôi nghiên cứu những kết quả bước đầu phẫu thuật cắt bướu tuyến thượng thận qua nội soi
ổ bụng qua báo cáo này với mục tiêu rút kinh nghiệm cho thời gian sắp tới phẫu thuật sẽ được thực hiện
hiệu quả hơn.
Tư liệu và phương pháp nghiên cứu: 12 bệnh nhân có bệnh lý tuyến thượng thận được thực hiện
cắt tuyến thượng thận qua nội soi ổ bụng từ tháng 4 đến tháng 12/2004 tại bệnh viện Chợ Rẫy, gồm có 2
bệnh nhân nam và 10 bệnh nhân nữ. Tuổi từ 19 đến 50. 5 TH ở bên phải và 7 TH ở bên trái. Chẩn đoán
sau mổ gồm có 4 trường hợp bướu tủy tuyến thượng thận, 5 trường hợp bệnh Conn, 1 trường hợp nang
tuyến thượng thận, 1 trường hợp hội chứng Cushing, và 1 TH carcinome tuyến di căn tuyến thượng thận.
Chúng tôi sử dụng bộ dụng cụ phẫu thuật nội soi của công ty Storz với ống kính 30
0
.
Kết quả: Thời gian mổ từ 100 đến 260 phút, trung bình là 195,3 phút
±
40,1. Thời gian nằm viện từ
4 đến 14 ngày, trung bình 8,2 ngày
±
3,4. Máu mất trong khi mổ từ 30 đến 500 ml, trung bình 154,2 ml
±


Conclusion: our data is small, operation take much more time due to lack of experience,
complications is high (3/12). We should perfect laparoscopic skill, learn more about anatomy of the
adrenal and their anatomic relation.

ĐẶT VẤN ĐỀ
Các bướu tuyến thượng thận tương đối ít gặp.
Tại Hoa Kỳ, khi giải phẫu tử thi chết vì nhiều
nguyên nhân khác nhau các tác giả Russi (năm
1945) và Hedeland (năm 1968) nhận thấy có 1,4 –
8,7% có bướu tuyến thượng thận các loại
(7,10)
. Tại
bệnh viện Chợ Rẫy trong 8 năm từ 1993 đến 2000,
có 61 trường hợp bướu tuyến thượng thận các loại
được điều trò bằng phẫu thuật
(4)
.
Tại Việt Nam, trong quá khứ cách nay khoảng
hơn một thập niên việc chẩn đoán và điều trò phẫu
thuật các bướu tuyến thượng thận gặp nhiều khó
khăn do vò trí giải phẫu và các xét nghiệm chẩn
đoán chưa hiệu quả cao. Ngày nay các phương tiện
chẩn đoán cũng như các tiến bộ vượt bậc trong
điều trò đã giúp ích rất nhiều cho các phẫu thuật
viên giải quyết căn bệnh này với hiệu quả tốt hơn
rất nhiều. Nếu như ở những năm 1950 tỉ lệ tử vong
do cắt bướu tủy tuyến thượng thận là 26-61%
(1)
thì

Nghiên cứu tiền cứu các bệnh nhân được mổ
tại khoa Tiết Niệu. Chúng tôi ghi nhận các yếu tố
vể tuổi, giới, chẩn đoán sau mổ, kích thước bướu,
thời gian mổ, lượng máu mất trong khi mổ, lượng
máu phải truyền trong khi mổ, thời gian hậu phẫu
và các biến chứng trong và sau phẫu thuật.
Kỹ thuật mổ:Trong tất cả 12TH chúng tôi đều
đã dùng phương pháp nội soi qua ổ phúc mạc để
cắt tuyến thượng thận bệnh lý. Bệnh nhân được
đặt nằm ở tư thế chếch 45 – 60
0
, chân trên duỗi
thẳng, chân dưới co nhẹ. Phẫu thuật viên và người
phụ mổ đứng đối diện với bụng của bệnh nhân.
Chúng tôi thường dùng 4 – 5 trocart. Trocart đầu
tiên được đặt theo phương pháp nội soi mở và
không dùng kim Verres, được đặt ở khoảng 3 khoát
ngón tay dưới bờ sườn bên có bướu trên đường
trắng bên, nếu bướu to thì đặt ở ngang mức rốn.
Do cấu trúc giải phẫu khác nhau, nên phẫu ở
bên phải và bên trái có những điểm khác nhau:
Ở bên phải, trocart đầu tiên (10mm) dùng đặt
máy soi ở vò trí 3 khoát ngón tay dưới bờ sườn phải.
Cắt dây chằng tam giác phải và nâng gan lên bằng
dụng cụ vén (quạt hoặc 1 pince kẹp vào thành
bụng phải) qua 1 trocart 10mm ở gần mũi xương
ức. Sau đó chúng tôi bộc lộ bướu tuyến thượng
thận ở vò trí bắt đầu từ bờ trên của thận phải. Có 3
cuống mạch máu của tuyến thượng thận phải,
trong đó tónh mạch to nhất và quan trọng nhất là

Chẩn đoán dựa trên các dấu hiệu lâm sàng và
cận lâm sàng. Có 2 trường hợp được phát hiện tình
cờ khi bệnh nhân đi kiểm tra sức khỏe. Đối với các
bướu tủy tuyến thượng thận (phéochromocytome),
bệnh nhân thường được chuyển đến khoa Tiết niệu
sau một thời gian được chẩn đoán và điều trò tại
khoa Nội tim mạch với chẩn đoán ban đầu là cao
huyết áp. Trong khi đó các bướu vỏ tuyến thượng
thận (có hội chứng Conn hoặc hội chứng Cushing)
lại thường được chuyển đến từ khoa Nội Tiết.
Chẩn đoán giải phẫu bệnh sau mổ gồm có 4
trường hợp bướu tủy tuyến thượng thận, 5
trường hợp bệnh Conn, 1 trường hợp nang
tuyến thượng thận, 1 trường hợp hội chứng
Cushing, và 1 carcinome tuyến di căn đến
tuyến thượng thận.
Bảng 1: Đặc điểm của 11 trường hợp nghiên cứu
Giới tính Tuổi Bên có bướu Kích thước bướu
Nam Nữ Phải Trái
2 10
44,6 (19-
50)
5 7
4,2cm (2 – 8cm)
Bảng 2: Kết quả giải phẫu bệnh của 11 trường hợp
nghiên cứu
Kết quả giải phẫu bệnh
Phéochromocytome 4 TH
Hội chứng Conn 5 TH
Hội chứng Cushing 1 TH

trò lựa chọn cho nhiều trường hợp nhất là các bướu
nhỏ hơn 6cm và lành tính. Tuy vậy cũng đã có tác giả
mổ cắt nội soi các bướu to đến 15 cm
(1,8,11)
.
Bướu tuyến thượng thận được phát hiện tình cờ
cũng không phải là hiếm gặp nhờ các tiến bộ trong
lónh vực chẩn đoán hình ảnh (siêu âm bụng, CT Scan
và MRI). Khoa Tiết niệu của bệnh viện Chợ Rẫy là nơi
Ngoại Niệu
81
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 9 * Phụ bản của Số 1 * 2005 Nghiên cứu Y học

tiếp nhận khá nhiều các bệnh nhân có bệnh tuyến
thượng thận do có sự hợp tác từ lâu với các khoa Nội
Tiết và Tim Mạch là những nơi bệnh nhân thường
được chẩn đoán và điều trò đầu tiên.
Garner là tác giả đầu tiên tiến hành phẫu thuật
này, và đã báo cáo một loạt nghiên cứu 112 trường
hợp với thời gian mổ trung bình là 123 phút, với
lượng máu mất là 70ml, thời gian nằm viện sau mổ
trung bình 3 ngày. Nhiều tác giả khác cũng đã báo
cáo về phẫu thuật này đã cho thấy ưu điểm rõ rệt của
phẫu thuật là thời gian nằm viện ngắn, ít đau và
thẩm mỹ hơn so với mổ mở.
Trần Bình Giang là tác giả Việt Nam đầu tiên báo
cáo về phẫu thuật này năm 2000
(9)
. Tác giả này cũng
báo cáo kết quả 100 trường hợp cắt tuyến thượng

mổ mở, trở thành tiêu chuẩn vàng trong một số
trường hợp. 11 trường hợp này là loạt nghiên cứu
đầu tiên của chúng tôi, tỉ lệ chuyển mổ mở và biến
chứng phẫu thuật còn cao, tuy vậy chúng tôi tin
rằng trong thời gian sắp tới chúng tôi sẽ hoàn
thiện tốt hơn phẫu thuật này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chino ES, Thomas C.C. (1985), “An extended Kocher
incision for bilateral adrenalectomy”, Am-J –Surg.,
149(2), pp. 292-294.
2. Garner M., Lacroix A., Bolt A. (1992), Laparoscopic
adrenalectomy in Cushing’s syndrom and
pheochromocytoma. N. Eng. J. Med; 327: 1033.
3. Lê Ngọc Từ, Nguyễn Bửu Triều (1997), “Phẫu thuật các
u tuyến thượng thận (nhân 19 trường hợp)”, Ngoại
khoa, 5(4), tr. 110-114.
4. Ngô Xuân Thái, Trần Văn Sáng (2002), “Phẫu thuật
bướu tuyến thượng thận qua đường mổ bụng trước tại
bệnh viện Chợ Rẫy từ năm 1993-2000”. Y học thành
phố Hồ chí Minh, 6(3), tr. 294-301.
5. Nguyễn Bửu Triều, Lê Ngọc Từ (1995), “Các u tuyến
thượng thận”, Bệnh học Tiết Niệu, Nxb Y học; Hà nội.
6. Novick AC., S.S. Howards (1997), “Ch. 13: The
adrenal”, Adult urology, edited by Gillenwater, pp.
587-642.
7. Schell S.C., M. A. Talamini, R. Udelsman (1998), “Ch.
15, Laparoscopic adrenalectomy”, Advances in surgery,
vol. 31, 1998, Mosby-Year Book, Inc., 333-350.
8. Trần Bình Giang, Nguyễn Đức Tiến (2004), 100 trường
hợp cắt tuyến thượng thận qua nội soi ổ bụng tại bệnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status