LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Vũ Thu Chinh
----------
LUẬN VĂN TỐT NGIỆP
TẠO NGUỒN VÀ MUA HÀNG NÔNG SẢN
XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY SẢN XUẤT-DỊCH
VỤ &XUẤT NHẬP KHẨU NAM HÀ NỘI
(HAPRO) – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Giáo viên hướng dẫn : Ts Trần Hòe
Họ tên sinh viên : Vũ Thu Chinh
----------
1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Vũ Thu Chinh
MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................................
2
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Vũ Thu Chinh
MỞ ĐẦU
Ngày nay, với xu thế toàn cầu hoá, quốc tế hoá nền kinh tế, hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà
ngày càng được mở rộng thông qua hoạt động xuất nhập khẩu trên thị trường thế
giới. Hoạt động xuất khẩu trở nên vô cùng quan trọng trong hoạt động thương mại đối
với bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới. Thông qua hoạt động xuất khẩu, các quốc gia
khai thác được lợi thế của mình trong phân công lao động quốc tế, tạo nguồn thu ngoại
tệ quan trọng cho đất nước, chuyển đổi cơ cấu kinh tế và đặc biệt là tạo công ăn việc
làm cho người lao động.
Đối với Việt Nam, hoạt động xuất khẩu thực sự có ý nghĩa chiến lược trong
sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, tạo tiền đề vững chắc để thực hiện
thắng lợi mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Có đẩy mạnh xuất
khẩu, mở cửa nền kinh tế Việt Nam mới có điều kiện thực hiện thành công các
mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội và ổn định đời sống nhân dân.
Tôi xin cam đoan luận văn được hoàn thành là do sự tìm tòi nghiên cứu của
bản thân và sự hướng dẫn của TS.Trần Hoè, không hề có sự sao chép của các luận
văn khác.
4
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Vũ Thu Chinh
CHƯƠNG I : MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HOẠT ĐỘNG
TẠO NGUỒN VÀ MUA HÀNG NÔNG SẢN XUẤT KHẨU
1.1 Hoạt động tạo nguồn và mua hàng xuất khẩu
1.1.1 Nguồn hàng cho xuất khẩu
1.1.1.1 Khái niệm nguồn hàng cho xuất khẩu
Nguồn hàng xuất khẩu là toàn bộ hàng hoá của một công ty, một địa
phương, một vùng hoặc toàn bộ nền kinh tế có khả năng và bảo đảm điều kiện xuất
khẩu.
Như vậy, nguồn hàng cho xuất khẩu vừa phải được gắn với một địa danh cụ
thể (ví dụ nguồn chè cho xuất khẩu của Việt Nam) vừa phải bảo đảm những yêu
cầu về chất lượng quốc tế. Do đó, không phải toàn bộ khối lượng hàng hoá của một
đơn vị, một địa phương, một vùng đều là nguồn hàng cho xuất khẩu mà chỉ có
phần hàng hoá đạt tiêu chuẩn xuất khẩu mới là nguồn hàng cho xuất khẩu.
1.1.1.2 Phân loại nguồn hàng cho xuất khẩu
Phân loại nguồn hàng cho xuất khẩu của doanh nghiệp là việc phân chia, sắp
xếp các hàng hoá có được từ hoạt động tạo nguồn và mua hàng cho xuất khẩu theo
các tiêu thức cụ thể riêng biệt để doanh nghiệp có chính sách, biện pháp thích hợp
nhằm khai thác tối đa lợi nhuận của mỗi loại nguồn hàng.
Các nguồn hàng cho xuất khẩu của doanh nghiệp có thể phân loại dựa trên
các tiêu thức sau:
a. Theo khối lượng hàng hoá mua được:
Theo tiêu thức này nguồn hàng của doanh nghiệp chia thành:
- Nguồn hàng chính : Là nguồn hàng chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng khối
lượng hàng hoá mà doanh nghiệp mua về để cung ứng cho khách hàng trong kì.
Đối với nguồn hàng chính, nó quyết định khối lượng hàng hóa của doanh nghiệp
động nguồn hàng này cũng làm phong phú thêm nguồn hàng cho xuất khẩu của
6
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Vũ Thu Chinh
doanh nghiệp và còn góp phần sử dụng tốt các nguồn khả năng trong nền kinh tế
quốc dân.
c. Theo điều kiện địa lý:
Theo tiêu chuẩn này, nguồn hàng được phân theo khoảng cách từ nơi khai
thác, đặt hàng, mua hàng đưa về doanh nghiệp.
- Ở các miền của đất nước: miền Bắc (miền núi tây bắc, miền núi đông bắc);
miền Trung (miền núi, trung du, duyên hải); miền nam (Đông Nam Bộ, Tây Nam
Bộ, Cực Nam v.v…), các vùng có đặc điểm xa, gần, giao thông vận tải khác nhau.
- Ở các tỉnh, thành phố, trong tỉnh, ngoài tỉnh.
- Theo các vùng nông thôn: đồng bằng, trung du, miền núi… với cách phân
loại này doanh nghiệp lưu ý điều kiện khác để khai thác nguồn hàng được đúng
yêu cầu.
d. Theo mối quan hệ kinh doanh:
Theo tiêu thức này nguồn hàng của doanh nghiệp được chia thành:
- Nguồn hàng tự sản xuất, khai thác: Đây là nguồn hàng do chính doanh
nghiệp tổ chức bộ phận (xưởng, xí nghiệp…) tự sản xuất, tự khai thác ra hàng hoá
để đưa vào kinh doanh.
- Nguồn liên doanh, liên kết: Doanh nghiệp liên doanh, liên kết với đơn vị
khác có thế mạnh cùng để khai thác, sản xuất, chế biến ra hàng hoá và đưa vào
xuất khẩu.
- Nguồn đặt hàng và mua: Đây là nguồn hàng doanh nghiệp đặt hàng với
các đơn vị sản xuất trong nước hoặc xuất nhập khẩu, ký kết hợp đồng và mua về
cho doanh nghiệp để cung ứng cho thị trường quốc tế v.v…
- Nguồn hàng của đơn vị cấp trên: Trong cùng một hãng (tổng công ty) có
các công ty trực thuộc (cấp dưới), nguồn hàng được điều chuyển từ đơn vị đầu mối
về các cơ sở xuất khẩu.
7
8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Vũ Thu Chinh
Hơn nữa, trong trường hợp xảy ra tình trạng khan hiếm một số loại hàng hoá
mà các doanh nghiệp khác không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách, một
nguồn hàng ổn định sẽ giúp cho doanh nghiệp lôi kéo thêm nhiều khách hàng mới,
củng cố uy tín với khách hàng cũ. Như vậy, nó sẽ giúp cho doanh nghiệp tăng khả
năng bán hàng.
- Nguồn hàng tác động mạnh mẽ đến kết quả thực hiện các chiến lược kinh
doanh.Các chiến lược cũng như các kế hoạch kinh doanh thường được xây dựng
theo tình huống thực tại thời điểm xây dựng.Tuy có tính đến biến động của thị
trường song không được vượt qua một tỷ lệ biến động nào đó. Sự thay đổi quá
mức của “đầu vào” sẽ ảnh hưởng đến “giá đầu vào”, chi phí, thời điểm giao hàng,
khối lượng cung cấp...đã được tính đến trong hợp đồng “đầu ra”. Không kiểm soát,
chi phối, hoặc không đảm bảo được sự ổn định, chủ động về nguồn hàng cho
doanh nghiệp có thể phá vỡ hoặc làm hỏng hoàn toàn chương trình kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Nguồn hàng tốt còn giúp cho hoạt động tài chính của doanh nghiệp thuận
lợi. Bởi vì, khi đó hàng hoá sẽ được bán ra có chất lượng tốt, phù hợp với yêu cầu
của khách hàng về số lượng, thời gian và địa điểm giao hàng. Điều này khiến cho
doanh nghiệp bán được hàng nhanh, đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hoá, cung
ứng hàng diễn ra liên tục, tránh đứt đoạn. Mặt khác, nó còn hạn chế bớt được tình
trạng thừa, thiếu, hàng ứ đọng, chậm luân chuyển, hàng kém phẩm chất, không bán
được. Tất cả những điều trên sẽ giúp cho doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh, có tiền
bù đắp chi phí kinh doanh, có lợi nhuận để phát triển và mở rộng kinh doanh, tăng
thu nhập cho người lao động và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước.
1.1.2 Hoạt động tạo nguồn hàng cho xuất khẩu
Khái niệm tạo nguồn hàng cho xuất khẩu
Tạo nguồn hàng cho xuất khẩu là toàn bộ những hoạt động từ đầu tư sản
xuất, kinh doanh cho đến các nghiệp vụ nghiên cứu thị trường, ký kết hợp đồng,
thực hiện hợp đồng nhằm tạo ra hàng hoá có những tiêu chuẩn cần thiết cho xuất
chắc, vừa đảm bảo lợi ích của người sản xuất vừa đảm bảo lợi ích của người kinh
10
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Vũ Thu Chinh
doanh (bộ phận kinh doanh). Tuy nhiên, đầu tư vào sản xuất đòi hỏi nguồn vốn
lớn, sinh loại chậm và đặc biệt phải biết công nghệ mới, tiên tiến.
* Đầu tư cho cơ sở sản xuất và chế biến
Với những thế mạnh về vốn, về máy móc trang thiết bị, các bí quyết kỹ
thuật, các bằng sáng chế phát minh, doanh nghiệp có thể đầu tư cho các cơ sở sản
xuất và chế biến để sản xuất ra hàng hóa.
1.1.3 Hoạt động mua hàng xuất khẩu
Khái niệm
Mua hàng xuất khẩu là hệ thống nghiệp vụ trong kinh doanh mua bán hàng
hoá nhằm có được hàng hoá xuất khẩu.
Do đó, mua hàng xuất khẩu là khâu kế tiếp tạo nguồn hàng xuất khẩu
Hình thức hoạt động mua hàng cho xuất khẩu
* Mua theo đơn đặt hàng và hợp đồng kinh tế ký trước
Để có hàng hoá, dựa vào mối quan hệ kinh doanh và các nguồn hàng sẵn có,
hoặc chào hàng của người cung cấp, doanh nghiệp phải đặt hàng với các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh hoặc doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Đơn hàng là yêu
cầu cụ thể về loại hàng hoá mà doanh nghiệp cần mua để đảm bảo nguồn hàng
cung ứng cho các khách hàng.
Đối với loại hàng hoá có nhiều quy cách, cỡ loại, nhiều dạng, kiểu, màu sắc,
cách đóng gói khác nhau thì đơn hàng là bản phụ lục hợp đồng để hai bên mua bán
ký kết và thực hiện việc giao nhận.
Mua hàng theo hợp đồng kinh tế đã ký kết và thực hiện việc giao nhận hàng
có chuẩn bị trước, có kế hoạch trong hoạt động kinh doanh. Hình thức mua hàng
này giúp cho doanh nghiệp ổn định được nguồn hàng, có nguồn khá chắc chắn để
đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Doanh nghiệp cần quan tâm, theo dõi, kiểm tra,
giúp đỡ và hợp tác chặt chẽ với đơn vị nguồn hàng để thực hiện đúng hợp đồng đã
ký.
1.1.4 Sự cần thiết của hoạt động tạo nguồn và mua hàng xuất khẩu
12
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Vũ Thu Chinh
Với xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay, hoạt động thương mại quốc
tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng đang trở nên hết sức cấp bách và
cần thiết. Trong hoạt động xuất khẩu, hoạt động tạo nguồn và mua hàng cho xuất
khẩu là một khâu rất quan trọng. Nó là vấn đề cơ bản quyết định hoạt động xuất
khẩu nói riêng và hoạt động kinh doanh nói chung của doanh nghiệp thương mại.
Mục đích của hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp là thu lợi nhuận.
Nhưng để thu được nhiều lợi nhuận thì doanh nghiệp phải bán được nhiều hàng
hoá. Và muốn bán được nhiều hàng hoá thì nhất thiết doanh nghiệp phải có được
một nguồn hàng tốt và ổn định. Chính vì vậy, các doanh nghiệp phải tổ chức tốt
hoạt động tạo nguồn và mua hàng cho xuất khẩu.
Mặt khác, doanh nghiệp chủ động được nguồn hàng sẽ chủ động được hoạt
động kinh doanh của mình. Nếu quá trình tạo nguồn và mua hàng tốt, có hiệu quả
sẽ đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng về số lượng và chất lượng hàng hoá,
mở rộng quy mô xuất khẩu, từng bước tăng trưởng và phát triển, nâng cao được uy
tín của doanh nghiệp trên thị trường, từ đó đáp ứng nhu cầu không chỉ của một hay
một số thị trường nhỏ hẹp nào đó mà còn đáp ứng nhu cầu của nhiều thị trường
khác với những đơn hàng có giá trị lớn, đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp
mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh, duy trì sự ổn định và tăng trưởng cao.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp tổ chức hoạt động tạo nguồn và mua hàng không tốt
sẽ không đảm bảo được yêu cầu của khách hàng. Điều đó sẽ làm cho doanh nghiệp
mất dần đi bạn hàng và thị trường. Vì vậy, không ngừng hoàn thiện hoạt động tạo
nguồn và mua hàng xuất khẩu là một vấn đề quan trọng hàng đầu của các doanh
nghiệp.
1.2 Tạo nguồn và mua hàng nông sản xuất khẩu
1.2.1 Đặc điểm của mặt hàng nông sản xuất khẩu
1.2.1.1 Đặc điểm chung của mặt hàng nông sản
- Các mặt hàng nông sản thường là những hàng hóa thiết yếu đối với đời
thời gian dài. Ngoài ra, yếu tố thời vụ của hàng nông sản dẫn đến tính không phù
hợp giữa sản xuất và tiêu dùng, do đó phải quan tâm đến khâu chế biến và bảo
quản cho tốt. Đó là một khâu quyết định đến chất lượng hàng nông sản xuất
khẩu.Hàng nông sản thêm vào đó dễ bị hư hỏng, ẩm mốc,biến chất ; chỉ cần để
14
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Vũ Thu Chinh
một thời gian ngắn trong môi trường không bảo đảm về độ ẩm, nhiệt độ... thì mặt
hàng nông sản sẽ bị hư hỏng ngay.
- Chủng loại hàng nông sản hết sức phong phú đa dạng, chất lượng của
một mặt hàng cũng rất phong phú. Hàng nông sản được sản xuất ra từ các địa
phương khác nhau, với các yếu tố về địa lý, tự nhiên khác nhau, mỗi vùng, mỗi hộ,
mỗi trang trại có phương thức sản xuất khác nhau với các giống nông sản khác
nhau. Vì vậy, chất lượng hàng nông sản không có tính đồng đều, hàng loạt như sản
phẩm công nghiệp, do đó vấn đề quản lý chất lượng sản phẩm phải được quan tâm
trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hàng nông sản
- Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xuất khẩu hàng nông sản
và cũng nhập khẩu hàng nông sản do điều kiện thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng ở các
quốc gia là khác nhau. Do đó, mỗi quốc gia lại có mặt hàng nông sản đặc trưng.
Tuy nhiên, để phát huy lợi thế tương đối thì thông thường các nước chậm phát
triển và đang phát triển là những nước xuất khẩu hàng nông sản chủ yếu, hoạt
động xuất khẩu hàng nông sản có tầm ý nghĩa chiến lược đối với các quốc gia này.
Song do công nghệ chế biến thu hái còn lạc hậu nên sản phẩm chủ yếu ở dạng thô
hay chỉ qua sơ chế nên giá trị xuất khẩu chưa cao.
1.2.1.2 Đặc điểm của một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chính.
Để đảm bảo yêu cầu xuất khẩu, các mặt hàng nông sản cần có các tiêu
chuẩn sau:
Gạo
Gạo được hiểu là phần còn lại của hạt thóc sau khi đã tách bỏ các vỏ trấu,
một phần hay toàn bộ cám và phôi. Tùy theo kích thước, hình dạng hạt gạo, tỷ lệ
gạo tấm, gạo được phân thành: hạt rất dài, hạt dài, hạt trung bình, hạt ngắn. Về mặt
Lạc hạt phải sạch, không có sâu mọt, đặc biệt loại trừ hạt có màu sắc nhợt nhạt, bị
mốc trắng, mốc xám hoặc bám đầy bào tử nấm mốc vàng xanh. Lạc hạt không
được phép lẫn các hạt lạc khác loại quá 5% và không được lẫn các hạt ve trấu. Màu
sắc, mùi vị, trạng thái bên ngoài đặc trưng cho hạt lạc đã chế biến khô.
Cách bao gói, vận chuyển bảo quản:
16
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Vũ Thu Chinh
Bao gói: lạc hạt, lạc quả phải được đựng trong bao gói bền, sạch, khô. Bao
gói không có mùi lạ ảnh hưởng đến chất lượng, không có hiện tượng nhiễm bẩn và
nấm mốc. Lạc được đóng chặt, không lỏng, miệng bao xếp bằng nhau, mép gấp hai
lần, được khâu kín bằng dây khâu bền chắc, khô sạch.
Bảo quản: kho bảo quản phải khô ráo, thoáng mát, độ ẩm không khí tương
đối được 70%. Lạc có thể bảo quản ở hai hình thức: đóng bao hoặc lạc đổ rời. Thời
hạn bảo quản đối với lạc vỏ không quá 12 tháng, đối với lạc hạt không quá 6 tháng.
Vận chuyển: phương tiện vận chuyển phải sạch sẽ, khô, có điều kiện che
mưa che nắng.
Chè:
Chè thường được chia thành 2 loại chính là chè xanh và đen: Chè xanh là
chè sau khi làm héo được duyệt men, sau đó đem sao sấy.Chè đen là chè sau khi
làm héo thường được lên men bằng phòng lạnh với điều kiện nhiệt độ thích hợp rồi
mới đem sao sấy.
Tuỳ theo các chỉ tiêu cảm quan về ngoại hình, màu nước pha, mùi, vị, chè
xanh và chè đen lại được phân thành nhiều loại khác nhau: OP, P, FBOP, PS, BPS,
F, DUST.
Mức độ quan trọng của từng chỉ tiêu được đánh giá qua hệ số quan trọng và
được trình bày trong bảng sau:
Tên chỉ tiêu
Hệ số quan trọng
Theo % Bằng số
1. Ngoại hình
Sản phẩm rau quả xuất khẩu các loại (ở dạng tươi hoặc đã chế biến) ngày
càng giữ một vai trò quan trọng và không thể thiếu được trong đời sống con người.
Rau quả không chỉ có tác dụng dinh dưỡng mà còn cung cấp cho con người nguồn
dược liệu quý giá vì trong rau quả có những chất khoáng, vitamin B, C, E, catoren
và một số yếu tố vi lượng khác. Đặc biệt rau quả còn có những chất xơ, giúp cho
bộ máy tiêu hoá hoạt động dễ dàng. Đối với rau quả, độ tươi được đánh giá rất cao,
tiếp theo là hương vị, hình dáng, màu sắc của sản phẩm. Tuy nhiên, cũng như các
mặt hàng nông sản khác, thời hạn sử dụng và chất lượng rau quả phụ thuộc rất lớn
vào điều kiện thời tiết bên ngoài. Do đó để đảm bảo chất lượng rau quả cho xuất
khẩu, cần có hình thức bảo quản hợp lý, tuỳ theo từng mặt hàng, cụ thể:
- Bảo quản trên điều kiện thường: nghĩa là không bảo quản lạnh hoặc bất kỳ
cách xử lý nào khác ngoài hệ thống thông gió. Loại kho này thường dùng cho:
khoai tây, cà rốt, củ cải, cải bắp, chuối quả, chuối buồng…
- Bảo quản lạnh: kho lạnh phải đạt tiêu chuẩn, trần và sản nhà đều phải cách
nhiệt tốt.
18
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Vũ Thu Chinh
- Bảo quản bằng điều chỉnh khí quyển: Phòng kho phải kín lạnh hoặc không
lạnh, có hệ thống thông gió và cung cấp các khí oxy, nitơ, cacbonic, với thiết bị đo
nhiệt độ, độ ẩm các khí này một cách tự động. Phương pháp này áp dụng cho táo,
lê, măng tây, cải bắp, xà lách…
- Ngoài ra còn bảo quản rau quả tươi bằng các hoá chất được phép sử dụng,
trong đó có chất chống thối, mốc, chống nảy mầm…
Riêng đối với rau quả chế biến, có thể chia thành các nhóm sau:
- Sơ chế
- Đông lạnh: tất cả các loại rau quả đều có thể sắt miếng cho vào bao bì thích
hợp, bảo quản đông lạnh trong thời gian dài, vận chuyển đi xa.
- Sấy khô: sấy bằng không khí nóng, với các sản phẩm đặc trưng là táo,
chuối, mận, nhãn, vải … Sấy thăng hoa áp lực cao có thể áp dụng đối với hầu hết
các loại rau quả.
Điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật:
Việc chế biến hàng nông sản sau khi thu hoạch đòi hỏi rất nhiều công đoạn
kỹ thuật với những máy móc, thiết bị khác như: máy xay xát lúa, máy sàng, máy
cán chè…
Ngoài ra, do đặc tính tươi sống và chịu tác động lớn của điều kiện tự nhiên
của mặt hàng nông sản , trong quá trình bảo quản cần có hệ thống kho bãi đủ tiêu
chuẩn quy định về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng…; đồng thời cũng cần có cách bao
gói, chồng xếp hợp lý. Cũng do đặc tính trên của hàng nông sản , các phương tiện
vận chuyển cũng cần có những tiêu chuẩn nhất định như: phải khô sạch, không
nhiễm bẩn, không có mùi vị lạ, không nhiễm thuốc sâu, hoá chất, xăng dầu…
Mặt khác, do dự phong phú và đa dạng về chủng loại và chất lượng của mặt
hàng nông sản việc phân loại hàng nông sản phải dựa vào rất nhiều chỉ tiêu khác
nhau. Để đánh giá chính xác các chỉ tiêu này cần có sự hỗ trợ của các máy móc
kiểm tra chất lượng.
Tóm lại, có đảm bảo đầy đủ các điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật nói trên thì
hoạt động tạo nguồn và mua hàng nông sản xuất khẩu của doanh nghiệp mới đem
lại hiệu quả cao.
20
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Vũ Thu Chinh
Thị trường nông sản thế giới:
Mặt hàng nông sản cũng như các mặt hàng xuất khẩu khác đều chịu ảnh
hưởng của cung và cầu trên thị trường thế giới. Mỗi sự thay đổi của nhu cầu và giá
trên thị trường nông sản thế giới đòi hỏi sự điều chỉnh tương ứng của doanh nghiệp
trong hoạt động xuất khẩu. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động tạo nguồn
và mua hàng của doanh nghiệp.
Mặt khác, mỗi loại thị trường mục tiêu của doanh nghiệp cũng quy định cách
thức tạo nguồn và mua hàng khác nhau. Những thị trường lớn đòi hỏi cách thức tạo
nguồn và mua hàng khác với thị trường có dung lượng nhu cầu nhỏ. Thị trường
nhập khẩu hàng nông sản ở các nước chậm phát triển thường là hàng sơ chế phục
vụ cho nhu cầu thiết yếu của nhân dân, do đó không đỏi hỏi nghiêm ngặt các tiêu
Hoạt động tạo nguồn và mua hàng đạt được hiệu quả cao song lại tách riêng với
các mặt hoạt động khác thì chưa chắc toàn bộ hoạt động kinh doanh đã đạt được
hiệu quả cao. Hoạt động tạo nguồn được coi là có hiệu quả cao khi và chỉ khi đặt
nó trong mối quan hệ với toàn bộ hoạt động khác để đem lại hiệu quả chung cho
toàn bộ các mặt hoạt động. Muốn vậy, doanh nghiệp cần phải có trình độ quản lý
cao, bao quát, tập trung vào mối quan hệ tương tác của tất cả các mặt hoạt động để
mang lại hiệu quả cao nhất cho doanh nghiệp.
1.2.3 Nội dung hoạt động tạo nguồn và mua hàng nông sản xuất khẩu
1.2.3.1 Nội dung hoạt động tạo nguồn hàng nông sản xuất khẩu
Hoạt động tạo nguồn hàng nông sản xuất khẩu được thể hiện dưới sơ đồ sau:
SƠ ĐỒ HOẠT ĐỘNG TẠO NGUỒN
22
Nghiên cứu thị trường Nghiên cứu môi trường kinh
doanh và tiềm lực của doanh
nghiệp
Xác lập phương án tạo
nguồn
Thực hiện tạo nguồn
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Vũ Thu Chinh
Bước 1.Tìm hiểu cơ hội và xác lập phương án tạo nguồn
A. Nghiên cứu thị trường:
Nghiên cứu thị trường nguồn hàng trong nước và thị trường xuất khẩu nhằm
các mục đích sau:
Xác định nhu cầu cụ thể của khách hàng về các mặt: khối lượng
hàng hoá; cơ cấu mặt hàng; quy cách chủng loại cụ thể; kiểu dáng, mẫu mã, màu
sắc; thời hạn khách hàng cần giao hàng, địa điểm giao hàng; giá cả mà khách hàng
chấp nhận.
Nhu cầu của khách hàng có thể được xác định thông qua:
- Nghiên cứu số liệu thống kê về tình hình bán hàng.
như bảo đảm về chất lượng, khối lượng hàng mua…
־ Cung cấp dịch vụ tốt.
Trong việc lựa chọn nhà cung ứng, doanh nghiệp cũng cần phải xem xét và
quyết định hoạt động tạo nguồn từ một hay nhiều nhà cung ứng. Thông thường với
doanh nghiệp có quy mô kinh doanh lớn thì doanh nghiệp thường chọn nhiều nhà
cung ứng, bởi lẽ: thứ nhất, với quy mô kinh doanh của mình khó có những nhà
cung ứng nào đáp ứng được; thứ hai, tạo ra sự cạnh tranh giữa các nhà cung ứng;
thứ ba, bảo vệ cho doanh nghiệp trước rủi ro nếu như đơn vị cung ứng quyết định
thay đổi mặt hàng kinh doanh.
B. Nghiên cứu đánh giá hoàn cảnh môi trường kinh doanh và tiềm lực doanh
nghiệp.
Môi trường kinh doanh: Nghiên cứu các nhân tố môi trường kinh
doanh là một công việc rất quan trọng trong hoạt động tạo nguồn hàng nông sản
xuất khẩu cũng như hoạt động kinh doanh. Sự biến động của môi trường sẽ tác
động mạnh mẽ tới mọi hoạt động của doanh nghiệp. Để hoạt động tạo nguồn thích
ứng được sự biến đổi đó cần phải nghiên cứu chúng kỹ lưỡng.
Các yếu tố của môi trường kinh doanh cần được xem xét là:
Các yếu tố kinh tế: Các yếu tố kinh tế có rất nhiều nhưng quan trọng
nhất là sự tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái, các chính sách tiền tệ
24
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Vũ Thu Chinh
tín dụng, sự gia tăng đầu tư… Chúng tác động đến sức mua, dạng nhu cầu tiêu
dùng hàng hóa, là "máy đo nhiệt độ" của thị trường, quy định cách thức doanh
nghiệp sự dụng các nguồn lực của mình.
Dự báo về kinh tế là cơ sở để dự báo ngành kinh doanh: dự báo hoạt động
kinh doanh và dự báo hoạt động tạo nguồn của doanh nghiệp.
Dự báo về kinh tế Dự báo ngành kinh doanh Dự báo mại vụ của
(Ảnh hưởng xa) (Ảnh hưởng gần) doanh nghiệp
Chính trị pháp luật và hệ thống chế độ chính sách của Nhà nước: sự
hoàn thiện và hiệu lực thi hành của pháp luật tác động đến việc bảo vệ quyền lợi