Ứng dụng phương pháp đầu tư cổ phiếu của Warren buffett tại Việt Nam - Pdf 84

i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
ðẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH Phạm Thế Hưng ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP ðẦU TƯ CỔ PHIẾU CỦA WARREN
BUFFETT TẠI VIỆT NAM Chuyên ngành: Kinh tế tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.31.12 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN THỊ LIÊN HOA TP. Hồ Chí Minh – Năm 2010
ii
LỜI CAM ðOAN


Trang phụ bìa i
Lời cam ñoan ii
Mục lục iii
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt vi
Danh mục các ñồ thị và bảng biểu vii
Lời mở ñầu viii

Chương I: Lí luận tổng quan về phương pháp ñầu tư cổ phiếu của WB 1
1.1 Các lí luận nền tảng của WB 1
1.1.1 Lí luận và quan ñiểm ñầu tư của Benjamin Graham 1
1.1.2 Phương pháp ñầu tư của Philip Fisher 2
1.1.3 Lí thuyết của John Burr William 4
1.1.4 Quan ñiểm ñầu tư của Charlie Munger 5
1.1.5 Sự kết hợp của bốn người trên 6
1.2 Tổng quan phương pháp ñầu tư của WB 9
1.2.1 Công cụ ñầu tư chính của WB là các doanh nghiệp bảo hiểm 9
1.2.2 ðầu tư ñịnh hướng kinh doanh 10
1.2.3 Quan ñiểm của WB về kinh doanh 11
1.2.4 Quan ñiểm của WB về quản lí 13
1.2.5 Quan ñiểm của WB về tài chính 20
1.2.6 Quan ñiểm của WB về giá trị 24
1.2.7 Phương pháp quản lí danh mục tập trung 28
Kết luận chương I 29
iv

ChươnII: Phân tích thực trạng ñầu tư trên TTCK CN 32
2.1 Giới thiệu thị trường chứng khoán Việt Nam 32
2.1.1 Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM 32
2.1.2 Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội 35
2.1.3 Những ñặc ñiểm của TTCK VN 37

Phụ lục 3: Mô hình xác ñịnh giá trị nội tại của doanh nghiệp theo phương pháp chiết
khấu dòng tiền vi

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt:

- EPS : Thu nhập trên mỗi cổ phần
- HNX : Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
- HOSE : Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
- ROE : Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu
- SGDCK : Sở giao dịch chứng khoán
- TTCK : Thị trường chứng khoán
- TTGDCK: Trung tâm giao dịch chứng khoán

Danh mục bảng biểu
Bảng 2.1: Quy mô niêm yết hiện tại trên sàn HOSE (ñến ngày 05/11/2010)……. 44
Bảng 2.2: Quy mô giao dịch trên sàn HOSE trong 12 tháng gần nhất (ñến ngày
05/11/2010)……………………………………………………………………… 44
Bảng 2.3: Quy mô niêm yết hiện tại trên sàn HNX (ñến ngày 05/11/2010)……. 46
Bảng 2.4: Quy mô giao dịch trên sàn HNX trong 12 tháng gần nhất (ñến ngày
05/11/2010)……………………………………………………………………… 46 viii
Lời mở ñầu,
Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức ñi vào hoạt ñộng từ năm 2000,
trải qua 11 năm hình thành và phát triển, TTCK ñang dần ñược hoàn thiện khung pháp
lí hoạt ñộng, và ñóng vai trò quan trọng trong hoạt ñộng của nền kinh tế. TTCK ñã góp
phần minh bạch hóa môi trường hoạt ñộng kinh doanh, trở thành kênh huy ñộng vốn
dài hạn hiệu quả ñối với những doanh nghiệp niêm yết, hiện nay niêm yết trên sàn giao
dịch trở thành mục tiêu chính của nhiều doanh nghiệp, giúp nhà ñầu tư có thêm một
kênh ñầu tư minh bạch và hiệu quả, ñồng thời thông qua hoạt ñộng ñầu tư trên TTCK,
với ñộng lực từ việc thu lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro nhà ñầu tư sẽ không ngừng nỗ
lực học hỏi, trang bị những kiến thức mới và tiếp cận với những phương pháp ñầu tư
ñiển hình trên thế giới.
Tuy ñã ñi vào hoạt ñộng trên 10 năm, nhưng TTCK VN chỉ hoạt ñộng sôi ñộng
và thu hút ñược sự quan tâm của công chúng ñầu tư trong vòng 05 năm trở lại ñây (từ
năm 2006 ñến nay). Phần lớn nhà ñầu tư cá nhân vẫn còn thực hiện mua bán cổ phiếu

Hagstrom nghiên cứu và trình bày trong cuốn sách “The Warren Buffett Way”, ñây là
cuốn sách nổi tiếng, ñược tạp chí New York Times bình chọn là một trong những cuốn
sách bán chạy nhất với lượng phát hành trên một triệu cuốn. WB ñã ñọc cuốn sách này,
sau ñó gọi ñiện ñể xin trích dẫn nội dung cuốn sách và mời tác giả ghé thăm Berkshire
Hathaway. Trong chương II, tôi giới thiệu sơ lược về TTCK VN, nêu lên những ñặc
ñiểm cơ bản của thị trường và các doanh nghiệp niêm yết, ñưa ra nhận ñịnh về thực
trạng ñầu tư trên TTCK hiện nay và ñánh giá về ñiểm mạnh và ñiểm yếu của từng
phương pháp ñầu tư. Trong chương III, tôi sẽ hệ thống lại phương pháp ñầu tư của WB
và ñưa ra những giải pháp cụ thể ñể ứng dụng tại VN
Mục tiêu nghiên cứu
x
Thứ nhất, tìm hiểu và giới thiệu về phương pháp ñầu tư của WB
Thứ hai, là ñưa ra giải pháp ñể ứng dụng phương pháp ñầu tư của WB tại VN
Với mục tiêu trên, ñề tài này giải quyết ñược các vấn ñề sau:

Giới thiệu ngắn gọn những lí luận, quan ñiểm và phương pháp ñầu tư của bốn
nhân vật có ảnh hưởng lớn ñến việc hình thành phương pháp ñầu tư của WB

Giới thiệu phương pháp ñầu tư của WB ñến với nhà ñầu tư tại TTCK VN

Phân tích thực trạng ñầu tư trên TTCK VN hiện nay

Nêu lên các giải pháp cụ thể ñể ứng dụng phương pháp ñầu tư này tại VN
Phương pháp nghiên cứu
ðể ñạt ñược những mục tiêu chính ñã ñề ra, phương pháp nghiên cứu chính mà
tác giả ñã sử dụng trong ñề tài là phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương
pháp quan sát, phương pháp phân tích và ñánh giá.
ðể tìm hiểu về phương pháp ñầu tư của WB, tác giả ñã tổng hợp những nghiên
cứu, những cuốn sách có sẵn viết về phương pháp ñầu tư của WB, tìm hiểu và so sánh
các cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu khác nhau, sau ñó giới thiệu phương pháp mà

Cách tiếp cận của WB trong ñầu tư là riêng biệt, dựa trên nền tảng lí thuyết và
phương pháp ñầu tư của bốn người: Benjamin Graham, Philip Fisher, John Burr
Williams, và Charles Munger. WB ñã từng nói vào năm 1969 rằng,: “Phương pháp ñầu
tư của tôi 15% là Fisher và 85% là Benjamin Graham”.
Dưới ñây, chúng ta sẽ tìm hiểu thêm những lí thuyết và phương pháp ñầu tư của
bốn người trên.

1.1.1 Lí luận và những quan ñiểm ñầu tư Benjamin Graham
Graham ñược xem là người sáng lập nghành phân tích tài chính, vì trước ông
không có nghành phân tích tài chính chuyên nghiệp và sau ông người ta bắt ñầu gọi nó
2
như thế. Grraham có hai tác phẩm nổi tiếng là Security Analysis ñồng tác giả với
David Dodd xuất bản lần ñầu năm 1934, và The Intelligent Investor xuất bản lần ñầu
năm 1949.
Những quan ñiểm nổi tiếng của Benjamin Graham về ñầu tư, ñược nhiều người
biết ñến hiện nay ñó là:
Thuật ngữ “Biên ñộ an toàn” (“Margin of safety”) với thuật ngữ này ông ñã
thống nhất cách tiếp cận ñầu tư chung cho tất cả các chứng khoán bao gồm cả cổ phiếu
và trái phiếu. Về căn bản “Biên ñộ an toàn” tồn tại khi một chứng khoán ñược bán dưới
giá trị thực của nó dù với bất kỳ lí do gì. ðể thực hiện chiến lược này, nhà ñầu tư cần
nắm rõ kỹ thuật ñể xác ñịnh giá trị nội tại (intrinsic value) của doanh nghiệp, từ ñó
nhận diện những cổ phiếu ñang giao dịch dưới giá trị.
Graham cũng ñưa ra hai nguyên tắc trong ñầu tư. Nguyên tắc thứ nhất là ñừng
ñể lỗ (“don’t lose”), nguyên tắc thứ hai là ñừng quên nguyên tắc thứ nhất. Triết lý ñừng
ñể lỗ ñã ñưa Graham ñến hai cách tiếp cận trong việc chọn lựa cổ phiếu gắn liền với
khái niệm biên ñộ an toàn. ðầu tiên chỉ mua cổ phiếu có giá thấp hơn hai phần ba (2/3)
giá trị tài sản thuần của doanh nghiệp, thứ hai tập trung vào những cổ phiếu có tỷ số
P/E thấp. Sau này, các nhà ñầu tư ñã tìm kiếm những cách ñơn giản ñể xác ñịnh giá trị
nội tại của doanh nghiệp. Theo ñó kỹ thuật sử dụng tỷ số P/E thấp của Graham là một
phương pháp ñược ưa thích.

ðể tìm hiểu những thông tin mật này, ông sẽ tiến hành phỏng vấn càng nhiều
nguồn càng tốt, ông gặp gỡ những nhân viên và những người tư vấn từng làm việc tại
doanh nghiệp, ông tiếp xúc những nhà khoa học nghiên cứu tại các trường ñại học,
thành viên chính quyền, và những người ñiều hành các hiệp hội thương mại. Ông cũng
tiến hành phỏng vấn những ñối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp. Ông khám phá ra
4
rằng những người ñiều hành doanh nghiệp thường e ngại khi ñề cập quá nhiều ñến
doanh nghiệp của mình, nhưng chẳng bao giờ thiếu ý kiến về các ñối thủ cạnh tranh.
Nhiều nhà ñầu tư sẽ thắc mắc về thời gian và công sức Fisher cần ñể hiểu một
doanh nghiệp. Phát triển mạng lưới tin mật và sắp xếp các cuộc phỏng vấn mất rất
nhiều thời gian, ñồng thời bắt ñầu một quá trình tìm kiếm thông tin mật ñối với những
doanh nghiệp mình quan tâm cũng mât nhiều công sức. Fisher ñã tìm ra cách ñơn giản
ñể giải quyết vấn ñề ñó là giảm số lượng doanh nghiệp mà ông sở hữu xuống.
Ông luôn nói rằng việc sở hữu một ít doanh nghiệp có triển vọng tốt hơn nhiều
so vói việc sở hữu nhiều doanh nghiệp bình thường. Nhìn chung, ông chỉ sở hữu ít hơn
mười doanh nghiệp trong danh mục và thường ba ñến bốn doanh nghiệp chiếm 75%
tổng giá trị danh mục.

1.1.3 Lí thuyết của John Burr William
John Burr Williams tốt nghiệp Harvard University năm 1923, sau ñó theo học
tại Harvard Business School, tại ñây ông lần ñầu ñược tiếp xúc với việc dự báo kinh tế
và phân tích chứng khoán. Sau khi tốt nghiệp Havard ông làm chuyên viên phân tích
tại hai doanh nghiệp danh tiếng tại phố Wall. Tại ñây ông ñã chứng kiến sự sụp ñổ kinh
hoàng của TTCK năm 1929. Kinh nghiệm này ñã dẫn ông tới nhận thức rằng ñể làm
nhà ñầu tư tốt, thì cần phải là một nhà kinh tế giỏi.
Vào năm 1932, lúc ñó ông 30 tuổi và ñã là một nhà ñầu tư giỏi, ông ghi danh
vào học tại trường Harvard’s Graduate School of Arts and Sciences. Ông làm việc với
niềm tin là những gì xảy ra ñối với nền kinh tế sẽ tác ñộng tới giá trị của cổ phiếu. Khi
chuẩn bị làm luận văn tiến sỹ ông ñược tư vấn về ñề tài “giá trị nội tại của cổ phiếu phổ
thông” ñây là sự gợi ý ñể Williams hoàn thành luận văn tiến sỹ vào năm 1937 với ñề

Munger bắt ñầu mua cồ phần của Blue Chip Stamps vào năm những năm 1960,
và sau này trở thành chủ tịch Hội ñồng quản trị. Khi Berkshire và Blue Chip Stamps
sáp nhập vào năm 1978, ông trở thành Phó chủ tịch tại Berkshire và giữ vị trí này cho
ñến nay.
Trong mối quan hệ công việc, Munger mang ñến sự nhạy bén trong lĩnh vực tài
chính, và nền tảng pháp lý về kinh doanh. Munger có niềm ñam mê trên nhiều lĩnh vực
khác nhau như khoa học, lịch sử, triết học, tâm lý học, và toán học. Ông tin rằng mỗi
lĩnh vực có những khái niệm quan trọng có thể áp dụng vào các quyết ñịnh ñầu tư.
Tập hợp tất cả các yếu tố trên – bao gồm kiến thức tài chính, nền tảng kiến thức
về luật, và kiến thức từ các lĩnh vực khoa học khác – ñã hình thành nên những quan
ñiểm riêng về phương pháp ñầu tư của Munger so với WB.
Theo ñó, trong khi WB vẫn ñang tìm kiếm cơ hội ñầu tư từ sự chênh lệch giữa
giá cả và giá trị doanh nghiệp, thì Munger tin rằng nên trả một mức giá hợp lí cho
những doanh nghiệp chất lượng.
Một bình luận ñược trích dẫn rộng rãi của WB: “Mua một doanh nghiệp tuyệt
vời ở mức giá hợp lí tốt hơn nhiều mua một doanh nghiệp bình thường ở mức giá tuyệt
vời”.
Munger ñã thuyết phục WB trả gấp ba lần giá trị sổ sách ñể mua See’s Candy và
ñây là một vụ ñầu tư tốt. Chính vụ ñầu tư này ñã thay ñổi suy nghĩ của WB và ông vui
vẻ thừa nhận là Munger ñã thúc ñẩy ông ñến với một khuynh hướng ñầu tư mới.
Tại cuộc họp thường niên năm 1997, Charles ñã nói rằng ñó là lần ñầu tiên
Berkshire trả giá cho giá trị và WB ñã nhấn mạnh thêm rằng nếu không mua See’s, thì
Berkshire có lẽ ñã không mua Coca Cola.

1.1.5 Sự kết hợp của bốn người trên
WB là người học trò ưu tú nhất của Graham, và ông cũng không bỏ lỡ một cơ
hội nào ñể thừa nhận món nợ tri thức với Graham. Cho ñến tận ngày nay, WB vẫn cho
7
rằng Graham – sau cha ông - là người có ảnh hưởng lớn nhất ñến sự nghiệp ñầu tư của
ông.

ñộng, ñối thủ cạnh tranh, và tất cả các nguồn tin có thể khai thác.
Từ Fisher, WB học ñược giá trị của những thông tin mật. Qua nhiều năm ông ñã
phát triển một mạng lưới mở rộng các cuộc tiếp xúc, những người có thể hỗ trợ ông
trong việc ñịnh giá các doanh nghiệp.
Cuối cùng Fisher dạy WB lợi ích của việc chỉ tập trung vào một ít các thương
vụ ñầu tư. Ông cho rằng mua cổ phần của một doanh nghiệp mà không dành thời gian
nghiên cứu ñầy ñủ về hoạt ñộng kinh doanh thì rủi ro sẽ lớn hơn nhiều việc có một
danh mục giới hạn.
John Burr Williams cung cấp cho WB phương pháp xác ñịnh giá trị nội tại của
doanh nghiệp, ñây là nền tảng trong việc tiếp cận ñầu tư của WB.
Sự khác biệt giữa Graham và Fisher là khá rõ ràng. Graham là nhà phân tích số
lượng, ông nhấn mạnh những yếu tố có thể ước lượng ñược như Tài sản cố ñịnh, thu
nhập hiện tại, cổ tức. Các nghiên cứu của ông chỉ giới hạn ở các tài liệu về doanh
nghiệp và các báo cáo hàng năm. Ông không giành thời gian ñể phỏng vấn khách hàng,
ñối thủ hay các nhà quản lý của doanh nghiệp.
Fisher lại là nhà phân tích chất lượng, ông nhấn mạnh ñến các yếu tố mà ông
cho rằng sẽ làm gia tăng giá trị của doanh nghiệp như: Người ñứng ñầu, triển vọng
trong tương lai, năng lực quản lý. Graham chỉ quan tâm ñến việc mua những cổ phiếu
giá rẻ, Fisher lại quan tâm ñến việc mua những doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng
giá trị nội tại trong dài hạn. Ông sẵn sàng bỏ thời gian và công sức ñể thực hiện những
cuộc phỏng vấn mở rộng nhằm tìm kiếm những thông tin có thể hỗ trợ cho quy trình
lựa chọn của ông.
9
Munger là người ñã khuyến khích WB hướng về các phương pháp ñầu tư của
Fisher
Descartes từng viết rằng: “ðiểm chính yếu ñó là áp dụng tốt” (“the principal
thing is to apply it well”). Và WB ñã vượt qua những người ñồng nghiệp thông minh,
kỷ luật và tận tụy hơn ông, bởi ông có khả năng kết hợp và áp dụng các chiến lược của
bốn người ñược nêu trên một cách hợp lí và hiệu quả nhất.


ñó là thông qua việc sở hữu cổ phiếu, ông sở hữu doanh nghiệp, không phải là một
mảnh giấy. Ý tưởng về việc mua cổ phiếu mà không hiểu biết về hoạt ñộng của doanh
nghiệp như sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp, mối quan hệ với người lao ñộng,
chi phí nguyên vật liệu, nhà máy, thiết bị, tái ñầu tư vốn, hàng tồn kho, các khoản phải
thu, và nhu cầu vốn cho hoạt ñộng của doanh nghiệp – là rất không hợp lý. ðiều này
thể hiện tinh thần làm chủ doanh nghiệp thông qua cổ phiếu và là thứ tinh thần mà một
nhà ñầu tư cần có.
Một người nắm giữ cổ phiếu có thể trở thành người chủ sở hữu doanh nghiệp
hoặc trở thành người nắm giữ cổ phiếu ñể giao dịch. Những người nắm giữ cổ phiếu có
nhận thức rằng họ ñang sở hữu một mảnh giấy tách rời với các báo cáo tài chính của
doanh nghiệp. Họ cư xử như thể việc thay ñổi giá trên TTCK là sự phản ánh rõ ràng
giá trị của cổ phiếu hơn là Bảng Cân ñối kế toán hay Báo cáo thu nhập của doanh
nghiệp. Họ mua bán cổ phiếu giống như ñánh bài.
Không có sự khác biệt căn bản giữa việc mua doanh nghiệp và mua cổ phiếu
phổ thông, cả hai cách trên ñều giúp WB trở thành chủ sở hữu của doanh nghiệp và nó
ñòi hỏi kỷ luật hành ñộng giống nhau. Tuy nhiên việc sở hữu doanh nghiệp vẫn ñược
WB ưa thích hơn, do nó cho phép ông tác ñộng ñến một vấn ñề quan trọng trong kinh
doanh, ñó là phân bổ nguồn vốn.
11
Trong cả hai trường hợp trên WB có chung một chiến lược: ông tìm kiếm những
doanh nghiệp mà ông có thể hiểu ñược hoạt ñộng kinh doanh của nó, có lịch sử lợi
nhuận ổn ñịnh, có triển vọng phát triển trong dài hạn, có thu nhập trên vốn chủ sở hữu
tốt, sử dụng ít nợ, ñược ñiều hành bởi những người chân thật, thành thạo trong công
việc, và quan trọng là sẵn sàng bán ở mức giá hấp dẫn. Phương pháp ñịnh hướng sở
hữu doanh nghiệp khi nhìn vào tiềm năng của một khoản ñầu tư là nền tảng cho
phương pháp tiếp cận ñầu tư của WB.
WB từng nói: “Tôi là nhà ñầu tư tốt hơn bởi vì tôi là một nhà kinh doanh, và tôi
là một nhà kinh doanh tốt hơn bởi vì tôi là một nhà ñầu tư”.

1.2.3 Quan ñiểm của WB về hoạt ñộng kinh doanh

WB có khả năng duy trì sự hiểu biết của mình ñối với những doanh nghiệp
thuộc sở hữu của Berkshire. Bởi vì ông ñã chủ ñộng chọn mua những doanh nghiệp mà
ông có thể hiểu rõ hoạt ñộng kinh doanh và lĩnh vực doanh nghiệp ñó ñang hoạt ñộng.
Ông gọi ñó là vòng tròn khả năng (“circle of competence.”).
Ông cho rằng nhà ñầu tư chỉ nên ñầu tư trong vòng khả năng hiểu biết của mình.
Vì nếu mua một doanh nghiệp hoạt ñộng trong lĩnh vực mà bản thân không hiểu rõ,
bạn sẽ không hiểu ñược tác ñộng của những diễn biến mới trong lĩnh vực này, không
thể dự ñoán ñược sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai và do ñó cũng không
thể ñưa ra các quyết ñịnh một cách thông minh.

Tính ổn ñịnh
WB thường ít chú ý ñến những cổ phiếu ñang ñược quan tâm trên thị trường.
Ông chỉ quan tâm ñến việc mua lại những doanh nghiệp mà ông cho rằng sẽ ñạt ñược
thành công và lợi nhuận trong dài hạn.
Việc dự ñoán thành công trong tương lai không phải là việc dễ dàng. Do ñó
những doanh nghiệp có thành tích ổn ñịnh trong quá khứ là một dấu hiệu ñáng tin cậy.
Khi một doanh nghiệp có ñược thành tích ổn ñịnh với cùng một dạng sản phẩm qua
13
nhiều năm, thì không phải là vô lí khi giả ñịnh rằng những kết quả ñó sẽ tiếp tục trong
tương lai, miễn là không có những thay ñổi cơ bản trong hoạt ñộng. WB thường tránh
mua những doanh nghiệp thay ñổi hoạt ñộng kinh doanh căn bản do thất bại trong
những kế hoạch trước ñó. Vì ông cho rằng việc thay ñổi hoàn toàn và lợi nhuận khả
quan thường không ñi kèm với nhau.

Triển vọng thành công trong dài hạn
ðó thường là những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp
trong cùng ngành, và có khả năng duy trì lợi thế ñó trong dài hạn. Dưới ñây chúng ta sẽ
gọi tắt là những doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững.
WB cũng chỉ ra rằng các doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh bền vững thường
là những doanh nghiệp mang ñặc tính của một Franchise (các doanh nghiệp ñược ñộc

giá trị cho cổ ñông và họ có khuynh hướng ñưa ra những quyết ñịnh hợp lý ñể thực
hiện mục tiêu ñó tốt hơn. Ông cũng ñánh giá cao những nhà quản lý có trách nhiệm
báo cáo ñầy ñủ và chân thật ñến cổ ñông và họ cũng có ñủ dũng cảm ñể chống lại
những hành ñộng bắt chước các doanh nghiệp hoạt ñộng trong cùng lĩnh vực một cách
mù quáng.
Một vấn ñề khác cũng thường ñược bàn cãi ñó là việc WB chỉ hợp tác với những
người chính trực:
Tính chính trực, thật thà và ñáng tin cậy không phải là những phẩm chất ñược giới
kinh doanh nói chung ñánh giá cao. Thật ra khi ñặt vấn ñề như vậy sẽ bị chê là ngây
thơ, và không phù hợp với thực tế kinh doanh.
Tuy nhiên cho ñến nay cách tiếp cận của WB lại tỏ ra rất hiệu quả. Thực tế ñộng cơ
chính cho cách tiếp cận này không phải là một chiến lược, nó ñến từ hệ thống những
giá trị không hề thay ñổi của bản thân WB. Và không ai chê WB là người ngây thơ cả.

Tính hợp lí trong quản lí
15
Hoạt ñộng quản lý quan trọng nhất là việc phân bổ nguồn vốn, vì theo thời gian,
nó quyết ñịnh ñến giá trị của doanh nghiệp. Việc quyết ñịnh phải làm gì với lợi nhuận
của doanh nghiệp – tái ñầu tư vào kinh doanh, hay trả cổ tức cho cổ ñông – là một bài
tập về tính logic và hợp lý.
Vấn ñề này trở nên quan trọng khi một doanh nghiệp ñạt ñến giai ñoạn trưởng
thành, khi ñó tỷ lệ tăng trưởng sẽ chậm lại, và nó bắt ñầu tạo ra nhiều tiền mặt hơn nhu
cầu cho phát triển và chi phí hoạt ñộng của doanh nghiệp. ðến lúc này, câu hỏi ñặt ra
là: Thu nhập của doanh nghiệp nên ñược phân bổ như thế nào?.
Nếu việc tái ñầu tư có thể mang lại mức sinh lời trên vốn trên trung bình thì
doanh nghiệp nên giữ lại toàn bộ thu nhập ñể tái ñầu tư. Nếu việc tái ñầu tư cho mức
sinh lời thấp hơn chi phí sử dụng vốn bình quân thì việc tái ñầu tư là hoàn toàn không
hợp lí.
Một doanh nghiệp có mức sinh lời trung bình hoặc dười trung bình, nhưng lại
tạo ra lượng tiền mặt nhiều hơn nhu cầu của nó thì sẽ có ba lựa chọn:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status