I. THÀNH PHẦN CỦA VỐN LUÂN CHUYỂN:
Tài sản lưu động và nợ ngắn hạn được gọi chung là vốn luân chuyển.
Bảng 1: Tài sản lưu động và nợ ngắn hạn của công ty STA ngày 31 tháng 12
năm 2003 (đơn vò tính: triệu $)
Tài sản lưu động Nợ ngắn hạn
Tiền mặt
Chứng khoán có thể bán
được
Khoản phải thu
Hàng tồn kho
Các tài sản lưu động khác
Tổng cộng
76,9
79,1
403,9
389,4
120,5
1.069,8
Vay ngắn hạn
Khoản phải trả
Thuế thu nhập
Khoản thanh toán đến
hạn của nợ dài hạn
Các nợ ngắn hạn khác
Tổng cộng
121,1
232,8
29,7
46,2
327,5
757,3
Khi phải chọn giữa tiền mặt và chứng khoán thò trường, giám đốc tài
chính phải đối mặt với một vấn đề giống như giám đốc sản xuất. Đó là, luôn
có lợi khi lưu giữ một lượng "tồn kho" lớn tiền mặt – để giảm được nguy cơ
hết tiền và phải huy động thêm tiền trong thời gian ngắn. Ngược lại, khi lưu
giữ tiền nhàn rỗi thay vì đưa ra mua chứng khoán thò trường cũng đòi hỏi một
phí tổn.
Chúng ta thấy rằng tài sản lưu động chính của một công ty gồm một số
hoá đơn chưa thanh toán từ các công ty khác. Số dư có của doanh nghiệp này
phải là số dư nợ của doanh nghiệp khác. Vì vậy không có gì đáng ngạc
nhiên khi nợ ngắn hạn chính của một công ty gồm khoản phải trả – tức là nợ
còn phải trả cho các công ty khác.
Để tài trợ cho nhu cầu đầu tư vào tài sản lưu động, các công ty có thể
trông cậy vào các khoản vay ngắn hạn. Các ngân hàng thương mại thường là
nguồn cung cấp lớn nhất các khoản vay này, nhưng công ty cũng có thể vay
bằng nhiều cách khác (ví dụ: bán thương phiếu).
Nhiều khoản vay ngắn hạn thường không được đảm bảo, nhưng đôi khi
công ty có thể đưa ra hàng tồn kho hay các khoản phải thu làm thế chấp. Thí
dụ, một doanh nghiệp có thể quyết đònh vay ngắn hạn bảo đảm bằng khoản
phải thu. Khi khách hàng thanh toán các hoá đơn, doanh nghiệp có thể dùng
tiền này để hoàn trả tiền vay. Một cách khác là bán các khoản phải thu cho
các đònh chế tài chính và để đònh chế này thu tiền. Nói tóm lại, một vài công
ty giải quyết vấn đề tài chính của mình bằng cách vay tiền dựa trên tài sản
lưu động của mình còn các công ty khác thì bán tài sản lưu động.
II. MỐI LIÊN KẾT GIỮA CÁC QUYẾT ĐỊNH TÀI TR DÀI HẠN VÀ
NGẮN HẠN:
Tất cả các doanh nghiệp đều cần vốn – tức là, tiền đầu tư vào nhà máy,
máy móc, hàng tồn kho, khoản phải thu và tất cả các tài sản khác để hoạt
động có hiệu quả. Hiển nhiên các tài sản này không được mua ngay một lúc
mà được mua dần theo thời gian. Chúng ta gọi tổng chi phí của những tài sản
này là nhu cầu vốn tích luỹ (cumulative capital requirement) của doanh
Các đường A, B, C trong hình 1 cho thấy điều này. Mỗi đường mô tả
một chiến lược tài trợ dài hạn khác nhau. Chiến lược A luôn luôn hàm chỉ
một thặng dư tiền mặt ngắn hạn. Chiến lược C cho thấy một nhu cầu thường
xuyên vay ngắn hạn. Theo B, có thể là chiến lược thông thường nhất, doanh
nghiệp là người cho vay ngắn hạn trong suốt một phần của năm và là người
đi vay trong thời gian còn lại.
Mức tài trợ dài hạn tốt nhất tương ứng với nhu cầu vốn tích luỹ là gì? Rất
khó nói. Không có phân tích lý thuyết nào có tính thuyết phục cho câu hỏi
này. Tuy nhiên chúng ta có thể quan sát trên thực tế.
Chiến lược sắp xếp phù hợp kỳ đến hạn.
Đầu tiên, hầu hết các giám đốc tài chính đều cố gắng "sắp xếp phù hợp
kỳ đến hạn" của các tài sản và các khoản nợ. Tức là, họ tài trợ các tài sản có
tuổi thọ dài hạn như nhà máy và máy móc bằng khoản vay dài hạn và vốn
cổ phần. Hầu hết các doanh nghiệp đầu tư thường xuyên vào vốn luân
chuyển (tài sản lưu động - nợ ngắn hạn). Họ tài trợ đầu tư này từ các nguồn
dài hạn.
Các thuận tiện của tiền mặt thặng dư.
Nhiều giám đốc tài chính cảm thấy thoải mái với chiến lược A hơn là
chiến lược C. Chiến lược A
+
(đường cao nhất) còn thoải mái hơn nữa. Một
doanh nghiệp với thặng dư tài trợ dài hạn không bao giờ phải lo lắng về việc
đi vay để trả các hoá đơn tháng tới. Nhưng vấn đề có phải là như thế hay
không? Các doanh nghiệp thường đem tiền mặt thặng dư đi mua trái phiếu
kho bạc hay các chứng khoán thò trường khác. May lắm thì đây là đầu tư có
NPV bằng không cho một doanh nghiệp đang phải nộp thuế. Như vậy, chúng
tôi nghó rằng các doanh nghiệp với một thặng dư tiền mặt thường xuyên "ăn
kiêng", giảm bớt chứng khoán dài hạn để cắt giảm tài trợ dài hạn xuống
bằng hay thấp hơn nhu cầu vốn tích luỹ của doanh nghiệp. Tức là, nếu doanh
nghiệp đang ở đường A
Tài sản lưu động
Tiền mặt
Chứng khoán thò trường
Hàng tồn kho
Khoản phải thu
Tổng tài sản lưu động
Tài sản cố đònh
Tổng đầu tư
Trừ khấu hao
Tài sản cố đònh thuần
Tổng tài sản
Nợ ngắn hạn
Vay ngân hàng
Khoản phải trả
Tổng nợ ngắn hạn
Nợ dài hạn
Vốn cổø phần và lợi nhuận giữ lại
Tổng nợ và vốn cổ phần
4
0
26
25
55
56
-16
40
95
5
20
25
Bảng 4: Nguồn và sử dụng tiền mặt năm 2004 của Dynamic Mattress
(đơn vò tính: triệu $)
Nguồn vốn
Nợ dài hạn 7
Cắt giảm hàng tồn kho 1
Tăng khoản phải trả 7
Tiền mặt từ hoạt động
Lãi thuần 12
Khấu hao 4
Tổng nguồn
31
Sử dụng:
Trả vay ngắn hạn ngân hàng 5
Đầu tư vào tài sản cố đònh 14
Mua chứng khoán thò trường 5
Tăng khoản phải thu 5
Cổ tức 1
Tổng sử dụng
30
Tăng số dư tiền mặt 1
Dynamic đã sử dụng tiền vào những mục đích sau:
1. Trả cổ tức 1 triệu (Lưu ý: Phần tăng vốn cổ phần 11 triệu của
Dynamic là do lợi nhuận giữ lại: 12 triệu thu nhập từ cổ phần trừ
đi 1 triệu tiền cổ tức).
2. Trả vay ngắn hạn ngân hàng 5 triệu.
3. Đầu tư 14 triệu. Điều này cho thấy trong phần tăng tài sản cố
đònh gộp trong bảng 2.
4. Mua 5 triệu chứng khoán thò trường.
5. Cho phép khoản phải thu tăng 5 triệu. Trên thực tế công ty đã
cho khách hàng vay khoản tiền này.
Vốn cổ phần
Tổng nợ dài hạn và vốn cổ phần*
30
56
-16
40
70
5
65
70
38
70
-20
50
88
12
76
88
* Khi trình bày một bảng cân đối của một doanh nghiệp theo dạng trên,
tức là chỉ thể hiện vốn luân chuyển, thì tổng nợ dài hạn cộng với vốn chủ
sở hữu được coi là tổng vốn hoá (total capitalization).
Tương tự, các báo cáo "nguồn vốn và sử dụng vốn" cũng có thể được
đơn giản hoá bằng cách đònh nghóa nguồn vốn như là những hoạt động bổ
sung vào vốn luân chuyển và sử dụng vốn là những hoạt động sử dụng vốn
luân chuyển. Theo ý nghóa này, thuật ngữ vốn luân chuyển thường được đề
cập đến bằng từ vốn (funds) và một bảng báo cáo nguồn và sử dụng vốn
được trình bày trong bảng 6.
Năm 2004, Dynamic đã bổ sung vào vốn luân chuyển bằng cách:
1. Phát hành trái phiếu dài hạn 7 triệu.
2. 16 triệu từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.