Luận văn
Kế toán tập hợp chi phí
sản xuất và tính giá
thành sản phẩm
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu thế đổi mới chung của cả nước, từ nền kinh tế hàng hoá tập trung
sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước ngày càng có thêm
nhiều doanh nghiệp ra đời và lớn mạnh không ngừng. Để có thể hội nhập tồn tại
và phát triển trong sự cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường, đòi hỏi các
doanh nghiệp phải có phương thức quản lý mới phù hợp, xác định cho mình
những hướng đi đúng đắn sao cho kết quả đầu ra là cao nhất với giá cả và chất
lượng sản phẩm có mức thu hút được người tiêu dùng.
Để làm được điều này các doanh nghiệp phải quản lý chặt chẽ các yếu tố
chi phí của quá trình sản xuất như vật tư tiền vốn, giá thành, doanh thu, lợi
nhuận … Ban lãnh đạo doanh nghiệp chỉ có thể có được những thông tin này
một cách chính xác, đầy đủ và kịp thời thông qua bọo máy kế toán trong đó kế
toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm là một trong những nhân tố có
ảnh hưởng quyết định tới tính hiệu quả của công tác quản lý kinh tế – tài chính
trong doanh nghiệp.
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của phân kế toán này nên em đã
chọn đề tài “kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm” trong
quá trình thực tập của Xí nghiệp lắp máy và xây dựng điện.
Nội dung của chuyên đề này gồm 3 phần:
Phần I: Đặc điểm tình hình chung của Xí nghiệp lắp máy và xây dựng điện
Phần II: Thực trạng kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm
của Xí nghiệp lắp máy và xây dựng điện.
Phần III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi
phí và tính giá thành sản phẩm.
Học viên: Lê Tiến Dũng K27D
Chuyên đề tốt nghiệp
ty xây lắp điện 1.
Nhiệm vụ và quyền hạn của xí nghiệp là:
- Sản xuất và gia công phụ kiện điện phục vụ thi công xây lắp các công
trình đường dây và trạm biến áp và các nhu cầu khác theo kế hoạch.
-Tổ chức sửa chữa và hiệu chỉnh các thiết bị điện như động cơ máy biến
áp, thí nghiệm điện …
Sau một thời gian hoạt động và trưởng thành, chứng tỏ khả năng và năng
lực của mình Xí nghiệp cơ khí điện đã đổi tên thành Xí nghiệp lắp máy và xây
dựng điện được hạch toán kinh tế độc lập. Trong thời gian qua xí nghiệp đã hoạt
động sản xuất kinh doanh rất tốt bằng chứng là đem lại rất nhiều công trình điện
phục vụ cho nhu cầu về đời sống sinh hoạt và phát triển kinh tế của nhân dân.
Cho tới nay xí nghiệp đã hoàn toàn lớn mạnh và đứng vững trên thị trường bằng
chứng là xí nghiệp đã chiếm lĩnh hầu hết thị trường ở phía bắc và khu vực miền
trung, trong một lúc xí nghiệp có thể thi công rất nhiều hạng mục công trình ở
rất nhiều tỉnh khác nhau.
Học viên: Lê Tiến Dũng K27D
Chuyên đề tốt nghiệp
Kế hoạch trong năm sau thì xí nghiệp sẽ tiến hành xây lắp các công trình
điện ở các tỉnh miền núi phía bác để phục vụ cho đời sống sinh hoạt và sản xuất
của bà con dân tộc thiểu số giúp nhà nước thực hiện được chính sách ổn định
nơi cư chú của bà con dân tộc thiểu số và tăng cường phát triển kinh tế nâng cao
trình độ văn hoá và nhận thức của nhân dân.
II. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ TỔ CHỨC QUẢN
LÝ SẢN XUẤT KINH DOANH.
1.Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh.
Xuất phát từ đặc trưng cơ bản của doanh nghiệp xây lắp điện nên trong
cùng một thời gian công ty phải triển khai thực hiện nhiều hợp đồng khác nhau
nhằm hoàn thành yêu cầu của các chủ đầu tư theo hợp đồng xây dựng đă ký kết.
Với năng lực hiện có để có thể thực hiện nhiều hợp đồng khác nhau cùng một
lúc xí nghiệp đã tổ chức lực lượng lao động thành 2 đội xây lắp. 1 đội thí
- Ký hợp đồng xây lắp với chủ đầu tư đại diện bên A.
- Tiến hành khảo sát địa chất.
-Tổ chức bố trí lao động, máy móc, cung ứng vật tư.
- Quy trình được hoàn thành với sự giám sát của chủ đầu tư công trình về
tiến độ và kỹ thuật.
- Bàn giao và quyết toán công trình với chủ đầu tư.
2. Đặc điểm về tổ chức bộ máy xí nghiệp
Để sản xuất và kinh doanh có hiệu quả trong thị trường cạnh tranh hiện
nay đòi hỏi xí nghiệp phải tổ chức đội ngũ lãnh đạo và công nhân viên hợp lý,
Học viên: Lê Tiến Dũng K27D
Chuyên đề tốt nghiệp
phù hợp với trình độ từng nhiệm vụ được giao, để thực hiện điều này xí nghiệp
lắp máy và xây dựng điện đã tổ chức cơ cấu của xí nghiệp như sau.
Ban giám đốc, các phòng ban chức năng, và phân xưởng.
+ Giám đốc xí nghiệp đứng đầu chỉ đạo, điều hành trong mọi hoạt động
của xí nghiệp, là đại diện của xí nghiệp trước pháp luật, đại diện cho toàn bộ
công nhân viên của xí nghiệp. Đồng thời kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của xí nghiệp. Giúp việc cho Giám đốc là các phó giám đốc (có 2 phó giám
đốc) trường hợp Giám đốc đi vắng thì Phó giám đốc được uỷ quyền thay mặt
Giám đốc điều hành mọi hoạt động của công ty. Bên cạnh đó thì Bí thư đảng
uỷ, Chủ tịch công đoàn, Đoàn thanh niên giúp cho ban giám đốc quản lý có hiệu
quả.
+ Các phòng ban chức năng
Các phòng ban chức năng có nhiệm vụ hướng dẫn, đôn đốc thực hiện thi
công, đảm bảo chất lượng công trình, lập và kiểm tra các định mức kinh tế kỹ
thuật, chế độ quản lý của công trình, lập kế hoạch nghiên cứu thị trường , tìm
bạn hàng, cung cấp thông tin, số liệu, phân tích tình hình sản xuất kinh doanh
giúp ban giám đốc có biện pháp quản lý thích hợp. Bên cạnh đó còn giải quyết
mọi liêu quan đến nhân sự, chính sách lao động, tiền lương cho cán bộ công
nhân viên xí nghiệp.
quý tới (năm tới)phải trình lên ban giám đốc phương hướng phát triển kinh
doanh cho quý sắp tới.
+ Phòng vật tư
Học viên: Lê Tiến Dũng K27D
Chuyên đề tốt nghiệp
Đây là sơ đồ bộ máy sản xuất ở xí nghiệp.
III.TÌNH HÌNH CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI XÍ NGHIỆP LẮP
MÁY VÀ XÂY DỰNG ĐIỆN.
xí nghiệp Lắp máy và xây dựng Điện là đơn vị sản xuất kinh doanh ngành
xây lắp thực hiện việc phân cấp quản lý trên do vậy bộ máy kế toán của xí
nghiệp được tổ chức theo hình thức phân tán và áp dụng hình thức kế toán
nhật ký tuy ở xí nghiệp có phòng kế toán của xí nghiệp còn ở các đội xây lắp có
kế toán viên của Đội. Phòng kế toán của xí nghiệp đã được trang bị máy vi
tính, toàn bộ kế toán tổng hợp và một phần kế toán phân tích đã được thực hiện
trên máy, với phần mềm kế toán đã được nâng cấp lên nhiều lần, đội ngũ kế
toán có trình độ cao, công tác kế toán trên máy ngày càng hoàn thiện.
Đối với kế toán ở các đội việc tổ chức hạch toán từ ghi chép ban đầu, lập
chức từ đến việc lập sổ sách theo các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh một
cách khoa học, đúng pháp luật và theo hướng dẫn.
Học viên: Lê Tiến Dũng K27D
Ban giám đốc
Phòng
t i à
chính
kế
toán
Phòng
kỹ
thuật
v thi à
toán, báo cáo thống kê định kỳ theo đúng mẫu biểu về phòng kế toán xí nghiệp.
Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán của xí nghiệp Lắp máy và xây dựng
Điện
* Chức năng của từng bộ phận.
-Đứng đầu bộ máy kế toán hiện nay là kế toán trưởng kiêm trưởng phòng
tài chính có nhiệm vụ tổ chức bộ máy kế toán của công ty đảm bảo bộ máy gọn
nhẹ hoạt động có hiệu quả, kế toán trưởng chịu trách nhiệm về toàn bộ công tác
kế toán theo quy định của xí nghiệp. Kế toán trưởng chịu trách nhiệm báo cáo
đầy đủ, phản ánh kịp thời các thông tin tài chính cho giám đốc, từ đó rút ra kinh
nghiệm vận dụng sáng tạo, cải tiến hình thức phương pháp kế toán sao cho hợp
lý nhất, chặt chẽ nhất.
- Kế toán tổng hợp giúp kế toán trưởng kiểm tra đôn đốc công tác kế toán
hàng ngày, lập sổ cái, làm báo cáo kế hoạch, phân tích kinh doanh…
Học viên: Lê Tiến Dũng K27D
Kế toán trưởng
(trưởng phòng)
Kế
toán
tổng
hợp
Kế
toán
tập
hợp CP
v à
tínhzsp
Kế
toán
vật tư
v à
khoản phải nộp thực hiện nghiêm chỉnh chế độ quy định (nộp đúng, nộp đủ và
kịp thời)…
- Kế toán vốn bằng tiền có nhiệm vụ theo dõi việc thanh toán quy ngân
hàng số liệu có và tình hình biến ddộng của các khoản tiền gửi của công ty tại
ngân hàng, kế toán phải mở sổ theo dõi chi tiết theo từ ngân hàng và tình hình
sử dụng từng loại tiền gửi để tiện cho việc kiểm tra đối chiếu.
- Kế toán thành phẩm và tiêu thụ thành phẩm là tổ chức hạch toán chi tiết
và tổng hợp thành phẩm, tổng hợp tiêu thụ thành phẩm, giám đốc nên chấp
hành quy định xuất nhập tiêu thụ thành phẩm xác định kết quả tiêu thụ và
doanh thu. Đồng thời theo dõi các khoản nợ của khách hàng, tình hình thanh
toán của khách hàng.
- Thủ quỹ cùng với kế toán tiến hành trực tiếp thu chi tiêu theo hoá đơn
chứng từ và chịu trách nhiệm quản lý hết tiền của xí nghiệp.
Học viên: Lê Tiến Dũng K27D
Chuyên đề tốt nghiệp
PHẦN II: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ
VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI XÍ NGHIỆP LẮP
MÁY
VÀ XÂY DỰNG ĐIỆN.
A. SỞ LÝ LUẬN CỦA KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ VÀ TÍNH
TỔNG SẢN PHẨM.
I. SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ
VÀ TÍNH TỔNG SẢN PHẨM.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói
chung và các doanh nghiệp sản xuất nói riêng có toàn quyền phát huy tính năng
động sàng tạo, độc lập, tự chủ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp mình để đem lại kết quả như mong muốn. Tuy nhiên các doanh
nghiệp này luôn phải chịu tác động mạnh mẽ của các quy luật nếu có của nền
kinh tế thị trường (quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu…) và
hạch toán kinh doanh, chi phí sản xuất phải được tính toán tập hợp theo từng
thời kỳ (hàng tháng, hàng quý hay hàng năm) sao cho phù hợp với kỳ báo cáo,
chỉ những chi phí sản xuất mà doanh nghiệp bỏ ra trong kỳ mới được tính vào
chi phí sản xuất trong kỳ.
- Trong thực tế chúng ta cần phải phân biết sự giống và khác nhau giữa chi
phí và chi tiêu.
- Chi tiêu là sự giảm đi đơn thuần các loại vật tư, tài sản , tiền vốn của
doanh nghiệp bất kể nó được dùng vào mục đích gì. Tổng chi tỉêu cho một chu
Học viên: Lê Tiến Dũng K27D
Chuyên đề tốt nghiệp
kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chính là các chi phí cho quá trình sản
xuất sản phẩm và chi phí cho quá trình tiêu thụ.
- Chi phí và chi tiêu là hai khái niệm khác nhau nhưng lại có quan hệ mật
thiết với nhau, chi tiêu là cơ sở hình thành chi phí, không chi tiêu thì không có
chi phí.
- Chi phí và chi tiêu không chỉ khác nhau về lượng mà còn khác nhau về
thời gian. Có những khản chi tiêu kỳ này nhưng lại được tính vào kỳ sau (chi
mua hàng hoá, vật tư chưa sử dụng). Có những khoản trích vào chi phí kỳ này
nhưng thực tế chưa tiêu như chi phí trích trước.
Như vậy sở dĩ có sự khác nhau giữa cơ và chi tiêu là do đặc điểm tổ chức
vận dụng và phương thức dịch chuyển của từng loại tài sản vào quá trình sản
xuất là yêu cầu kỹ thuật hạch toánchung.
2. Phân loại chi phí sản xuất.
Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh là việc sắp xếp các chi phí sản xuất
kinh doanh theo từng loại, từng nhóm khác nhau theo đặc chưng nhất định. Xét
về mặt lý luận cũng như trên thực tế, có nhiều cách phân loại khác nhau như
phân loại theo nội dung kinh tế, theo công dụng, theo vị trí, theo quan hệ giữa
các chi phí với quá trình sản xuất. Mỗi cách phân loại đều dáp ứng ít nhiều cho
mục đích quản lý hạch toán kiểm tra, kiểm soát chi phí phát sinh ở góc độ khác
nhau. Vì vậy các cách phân loại đều tồn tại, bổ sung cho nhau giữ vai trò nhất
Học viên: Lê Tiến Dũng K27D
Chuyên đề tốt nghiệp
b. Phân loại khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm.
Căn cứ vào ý nghĩa chi phí sản xuất trong giá thành sản phẩm, toàn bộ chi
phí được phân theo khoản mục chi phí và mức độ phân bổ chi phí cho từng đối
tượng cũng như phân loaị theo yếu tố, số lượng, khoản mục chi phí trong giá
thành sản phẩm tuỳ thuộc vào trình độ nhận thức, trình độ quản lý và hạch toán,
ở mỗi giai đoạn kinh tế, xã hội theo quy định hiện hành kinh tế xã hội nước ta,
giá thành sản xuất bao gồm 3 khoản mục chi phí như sau
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: phản ánh toàn bộ chi phí về nguyên vật
liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu tham gia trực tiếp vào sản xuất. Chế
tạo sản phẩm trong thực hiện lao vụ dịch vụ…
- Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương, phụ cấp lương và các
khoản làm thêm giời thực tế phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất.
- Chi phí sản xuất chung: bao gồm những chi phí phát sinh trong phạm vi
phân xưởng sản xuất.
c. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ với đối tượng chi phí.
Mục đích của cách phân loại này giúp cho việc xác định phương pháp
kếtoán tập hợp và phân bổ chi phí cho các đối tượng một cách chính xác hợp lý.
Theo các này chi phí sản xuất được chia làm 2 loại:
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí sản xuất quan hệ trực tiếp với việc thi
công công việc nhất định, những chi phí này kế toán có thể căn cứ vào số liệu
chứng từ kế toán để ghi trực tiếp cho từng đối tượng chi phí.
- Chi phí gián tiếp: Là những chi phí sản xuất có liên quan đến việc cùng
một lúc thi công nhiều công trình khác nhau những chi phí này kế toán phải tiến
hành phân bổ cho các đối tượng có liên quan theo một tiêu thức thích hợp.
Học viên: Lê Tiến Dũng K27D
Chuyên đề tốt nghiệp
3. Bản chất và nội dung giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của các khoản hao phí về lao
mức chi phí hiện hành và chi phí cho đơn vị sản phẩm. Loại giá thành này là
công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp, là thước đo chính xác để xác định
kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động sản xuất, giúp đánh giá đúng đắn các
giải pháp kinh tế kỹ thuật đã thực hiện trong quá trình sản xuất, nhằm nâng cao
hiệu quả kinh doanh.
- Giá thành thực tế: Là giá thành sản phẩm được tính trên số liệu chi phí
sản xuất thực tế dã phát sinh tập hợp trong kỳ. Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp
phản ánh kqu phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụng các giải
pháp kinh tế tổ chức kỹ thuật chỉ thực hiện việc sản xuất sản phẩm, là cơ sở để
xác định kqu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
* Phân loại giá thành theo phạm vi tính toán.
- Giá thành sản xuất gồm các chi phí sản xuất: Chi phí nguyên vật liệu trực
tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung tính cho từng sản phẩm
công việc lao vụ đã hoàn thành. Là căn cứ để tính toán xác định lãi trước thuế
lợi tức của doanh nghiệp.
5. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm riêng biệt có
những mặt khác nhau.
Học viên: Lê Tiến Dũng K27D
Chuyên đề tốt nghiệp
- Chi phí sản xuất luôn gắn với từng thời kỳ đã phát sinh chi phí, còn giá
thành sản phẩm lại gắn với khối lượng sản phẩm, công việc, lao vụ đã sản xuất
hoàn thành.
- Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến những sản phẩm đã
hoàn thành.
- Chi phí sản xuất trong kỳ không chỉ liên quan đến những sản phẩm đã
hoàn thành mà còn liên quan đến cả sản phẩm dở dang cuối kỳ và cả sản phẩm
hỏng. Giá thành sản phẩm thì không liên quan đến chi phí sản xuất sản phẩm dở
dang cuối kỳ và sản phẩm hỏng nhưng lại liên quan đến chi phí sản xuất sản
phẩm dở dang từ kỳ trước chuyển sang.
chi phí sản xuất khác nhau, được tiến hành tập hợp phân bổ theo các bước sau.
Lựa chọn tiêu thức phân bố hợp lý và tính hệ số phân bổ chi phí, sự thay
đổi tiêu thức này tương quan tỷ lệ thuận với các chi phí sản xuất cần phân bổ.
Xác định hệ số phân bổ chi phí
H =
Trong đó:
H: Là hệ số phân bổ chi phí
C: Là tổng chi phí cần phân bổ
T: Là tổng đại lượng của tiêu thức phân bổ
Tính toán và xác định chi phí phân bổ cho từng đối tượng
Ci = H x Ti
Học viên: Lê Tiến Dũng K27D
Chuyên đề tốt nghiệp
Trong đó:
Ci: Là chi phí sản xuất phân bố cho đối tượng i
H: Là hệ số phân bổ chi phí
Ti: Là đại lượng của tiêu chuẩn phân bố cho từng đối tượng i
2.Đối tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm
2.1.Đối tượng tính giá thành sản phẩm
Là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ do doanh nghiệp sản xuất ra cần
phải tính được tổng giá thành và giá thành đơn vị.
Xác định đối tượng tính giá thành là công việc cần thiết đầu tiên của kế
toán rồi xác định giá thành thực tế của từng loại sản phẩm và toàn bộ sản phẩm
đã hoàn thành.
Những căn cứ để xác định đối tượng tính giá thành phù hợp.
- Cơ cấu tổ chức sản xuất và đặc điểm quy trình công nghệ
- Đặc điểm của sản phẩm chu kỳ sản xuất sản phẩm
-Dưạ vào yêu cầu hạch toán kế toán, hạch toán nội bộ doanh nghiệp, yêu
cầu xác định hiệu quả kinh tế của sản phẩm.
- Khả năng và trình độ quản lý của doanh nghiệp nói chung và của cán bộ
: Giá thành đơn vị từng đối tượng tính giá thành
C: Tổng chi phí đã tập hợp trong kỳ
S: Sản lượng thành phẩm
Dđk, Dck: Chi phí của sản phẩm dở dang đầu và cuối kỳ
Học viên: Lê Tiến Dũng K27D
Chuyên đề tốt nghiệp
Trường hơp sản phẩm dở đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau hoặc không có sản
phẩm dở đầu kỳ và cuối kỳ thì chi phí sản xuất tập hợp được trong kỳ chính là
tổng giá thành sản phẩm hoàn thành.
2.3.2.Phương pháp tính giá thành phân bước,.
* Phương pháp tính giá thành phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm
Áp dụng thích hợp trong trường hợp xác định đối tượng tính giá thành nửa
thành phẩm và thành phẩm, kế toán căn cứ vào chi phí sản xuất đã tập hợp theo
từng giai đoạn sản xuất. Lần lượt tính tổng giá thành đơn vị nửa thành phẩm của
giai đoạn sản xuất trước chuyển sang một cách tuần tự để tính tiếp tổng giá
thành và giá thành đơn vị của nửa thành phẩm ở giai đoạn kế tiếp. Cứ thế tiếp
tục cho đến khi tính được tổng giá thành và giá thành đơn vị của thành phẩm
giai đoạn cuối cùng.
Sơ đồ minh hoạ
Giai đoạn 1 Giai đoạn 2 Giai đoạn n
Học viên: Lê Tiến Dũng K27D
Chi phí NVL
chính (bỏ v o 1 à
lần từ đầu)
Giá th nh NTP à
giai đoạn 1
chuyển sang
Giá th nh NTP à
giai đoạn (n-1)
chuyển song song.
+
= x
+
=
∑
=
n
i 1
(Chi phí phát sinh ở giai đoạn i)
=
Học viên: Lê Tiến Dũng K27D