Luận văn tốt nghiệp
Lời mở đầu
Ngày nay các công ty phải nhanh chóng thay đổi một cách cơ bản những
suy nghĩ của mình về công việc kinh doanh và chiến lợc Marketing. Thay vì một
thị trờng với những đối thủ cạnh tranh cố định và đã biết, họ phải hoạt động trong
một môi trờng chiến tranh với những đối thủ cạnh tranh biến đổi nhanh chóng,
những tiến bộ công nghệ, những đạo luật mới, những chính sách quản lý thơng
mại mới và sự trung thành của khách hàng ngày càng giảm sút.
Thực tế ở tất cả những quốc gia phát triển cho thấy các trung gian tài chính
có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế tăng trởng và ổn định.
Hệ thống các trung gian tài chính ở Việt Nam hiện nay đã và đang có những đóng
góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới nền kinh tế đất nớc.
Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, hệ thống trung gian tài chính ở Việt
Nam còn bộc lộ những khiếm khuyết, hạn chế trong hoạt động kinh doanh. Vì
vậy trong những năm gần đây các tổ chức này đã tiến hành nhiều cải cách khác
nhau và một trong những thay đổi quan trọng đó là chuyển nhận thức và hoạt
động kinh doanh theo hớng thị trờng. Kết quả là tại hầu hết các Ngân hàng đã
xuất hiện những phòng khách hàng, phòng phát triển sản phẩm và thị trờng
Hàng loạt các vấn đề có liên quan tới Marketing nh khách hàng, thị trờng, sản
phẩm Đòi hỏi phải đ ợc giải quyết về phơng diện lí luận và thực tiển nhằm
nâng cao khả năng ứng dụng Marketing tại các trung gian tài chính ở Việt Nam.
Với t cách là một trung gian tài chính, để đạt đợc hiệu quả cao trong kinh
doanh, Ngân hàng phải quản lý, điều hành nguồn vốn và sử dụng vốn sao cho
đảm bảo hợp lí, hiệu quả nhằm thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra.
Đối với Ngân hàng, nguồn vốn là yếu tố đầu vào, là một trong những nhân
tố quyết định đến hoạt động kinh doanh. Vì thế trong cơ chế thị trờng với sự cạnh
tranh gay gắt, muốn tồn tại, phát triển và đóng góp cho sự nghiệp Công nghiệp
hóa, Hiện đại hóa đất nớc Ngân hàng cần phải có những giải pháp để huy động,
thu hút mọi nguồn vốn nhàn rổi trong xã hội. Chính vì vậy, để có đợc sự chủ động
Học viên Trần Xuân Lãng
1
a.Khái niệm:
Marketing có lịch sử tơng đối lâu đời. Năm 1902 môn học này đợc giảng ở
tại một số trờng Đại học ở Mỹ. Nhng khái niệm ngày nay về Marketing khác
nhiều so với các giải thích trớc đây. Nội dung của nó cũng thay đổi theo sự phát
triển của các quan hệ thị trờng. Nữa đầu thế kỷ này đã trãi qua trong những điều
kiện tăng lên của cầu về sản phẩm, do đó mà Marketing là công việc kém quan
trọng so với quản lí sản xuất, sau chiến tranh thế giới thứ II trong những điều kiện
hàng hóa khan hiếm ở khắp nơi, do đó Marketing cũng đã trở thành hoàn toàn
không cần thiết. Chỉ có vào đầu những năm 60 khi mà hàng hóa bắt đầu d thừa
mới có sự quan tâm mạnh mẽ đến Marketing. Tất cả các giai đoạn phát triển này
đợc thể hiện trong các khái niệm về quản lí Marketing.
F . Kotler đã đa ra năm khái niệm quản lí Marketing:
* Khái niệm hoàn thiện sản xuất: nó dựa vào thiện cảm của ngời tiêu dùng
đối với hàng hóa tiêu dùng phổ thông và với giá cả thông thờng. Điều đó đòi hỏi
ngời quản lí hoàn thiện sản xuất.
* Khái niệm hoàn thiện hàng hóa: nó dựa vào chổ ngời tiêu dùng quan tâm
tới những hàng hóa có chất lợng cao. Vì thế, lãnh đạo công ty cần chú ý thờng
xuyên tới việc hoàn thiện hàng hóa.
* Khái niệm phát triển các cố gắng thơng mại: theo khái niệm này, không
thể đạt đợc mục tiêu mong muốn đối với sản phẩm của mình nếu không có các
biện pháp mạnh mẽ trong lĩnh vực kích thích tiêu thụ.
Học viên Trần Xuân Lãng
3
Luận văn tốt nghiệp
* Khái niệm Marketing: đó là việc phát hiện các nhu cầu hiện có của các thị
trờng mục tiêu và việc thỏa mãn các nhu cầu đó gằng các biện pháp hiệu quả hơn
so với các đối thủ cạnh tranh.
* Khái niệm Marketing đạo đức, xã hội: đó là phơng cách hoàn thiện nhất
hiện nay. Nó xem nhiệm vụ của công ty là thỏa mãn các nhu cầu đợc phát hiện
của các thị trờng mục tiêu bằng các phơng cách có hiệu quả hơn so với các đối
- Tính không hiện hữu của dịch vụ đợc biểu lộ qua yếu tố vật chất nào đó và
đó chính là những phơng tiện chuyển giao dịch vụ cho khách hàng.
- Dịch vụ có tính không đồng nhất. Sản phẩm dịch vụ phi tiêu chuẩn hóa, có
giá trị cao do đặc trng cá biệt hóa cung ứng và tiêu dùng dịch vụ.
Sự cung ứng dịch vụ phụ thuộc vào kỹ thuật và khả năng của từng ngời thực
hiện dịch vụ ( cắt tóc, xoa bóp, ca nhạc, )
Việc tiêu dùng dịch vụ tới mức nào, cao hay thấp lại phụ thuộc vào từng
khách hàng. Không ngời nào giống ngời nào. Hơn nữa, do đặc tính dịch vụ không
hiện hữu, nên không thể nào đo lờng và quy chuẩn hóa chất lợng cụ thể nh sản
phẩm hàng hóa đợc. Vì thế sản phẩm dịch vụ không đồng nhất.
- Dịch vụ có đặc tính không tách rời. Sản phẩm dịch vụ có tính đặc thù, việc
tiêu dùng sản phẩm dịch vụ song trùng với việc cung ứng dịch vụ. Vì thế sản
phẩm hàng hóa đợc tiêu dùng ở mọi thời điểm với sự tham gia của ngời tiêu thụ.
- Việc tạo ra sản phẩm dịch vụ và việc tiêu dùng sản phẩm dịch vụ là một
thể thống nhất.
- Sản phẩm dịch vụ tiêu dùng trực tiếp hoặc chóng hỏng không có khả
năng cất trữ trong kho.
b. Marketing dịch vụ:
Marketing dịch vụ là quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu
cầu của thị trờng mục tiêu đã lựa chọn và xác định bằng quá trình phân phối các
nguồn lực của các tổ chức nhằm thỏa mãn nhu cầu đó.
Marketing đợc xem xét trong sự năng động của mối quan hệ qua lại giữa
các sản phẩm dịch vụ của công ty và nhu cầu của ngời tiêu dùng cùng với hoạt
động của đối thủ cạnh tranh.
Từ khái niệm trên ta thấy Marrketing dịch vụ nổi lên các vấn đề lớn nh sau:
Học viên Trần Xuân Lãng
5
Luận văn tốt nghiệp
Marketing hổn hợp các nhân tố quan trọng bên trong hay những thành phần
tạo ra một chơng trình Marketing của một tổ chức doanh nghiệp.
Khuyến khích
dùng thử
Giới thiệu, trình bày
các lợi ích
Tạo lòng ham thích
nhãn hiệu
Truyền
thông qua
giao tiếp
bằng
miệng
Luận văn tốt nghiệp
Trong thời gian gần đây lĩnh vực hoạt động Marketing đã phát triển bao
trùm sang cả lĩnh vực dịch vụ. Trong hoạt động Ngân hàng hoạt động Marketing
đã bắt đầu vào những năm 70. Mặc dù nhiều nguyên tắc mang tính quan điểm áp
dụng vào Ngân hàng là rút ra từ công nghiệp, song điều quan trọng là cần thấy
rằng trong nhiều quan hệ hoạt động Ngân hàng có những khác biệt quan trọng.
Do đó một số nguyên tắc và các quan hệ đó đợc xác lập trong công nghiệp không
thể đợc áp dụng hoàn toàn trong Ngân hàng, mà đòi hỏi phải có những điều
chỉnh. Công nghệ Ngân hàng thế giới từ cuối những năm 60 đã có nhiều thay đổi
quan trọng. Sự cạnh tranh đã bắt đầu gay gắt từ năm 70 lại càng gay gắt do một
số yếu tố:
Thứ nhất : công nghệ Ngân hàng đã có khuynh hớng quốc tế hóa, nhng
thêm vào đó là có xu hớng nghiêng về các Ngân hàng lớn của Mỹ. Điều đó dẫn
tới sự thâm nhập lẫn nhau của các thị trờng của các nhà cạnh tranh nớc ngoài, kết
quả là xuất hiện sự cạnh tranh với các Ngân hàng địa phơng.
Thứ hai : các thị trờng vốn mới đợc mở đã làm biến đổi hệ thống tiền gửi
truyền thống. Từ cuối những năm 70 tỉ lệ cao của tiền gửi Ngân hàng là dựa vào
tiền vốn của các Ngân hàng khác nhờ có thị trờng liên Ngân hàng phát triển, thị
trờng châu Âu và sự hoàn thiện các công cụ thị trờng. Thị trờng châu Âu lúc đầu
các máy trả tiền tự động Nh vậy là nhiều Ngân hàng đã ngày càng tự động hóa,
xuất hiện khả năng mở các dịch vụ thông tin một loại nghiệp vụ mới.
Thứ bảy : cạnh tranh đã tăng lên trong cả hoạt động Ngân hàng phục vụ các
khách hàng cá nhân. Việc các Ngân hàng tiết kiệm và cho vay thu hút tiền gửi có
trả lãi đã cạnh tranh sâu sắc với các Ngân hàng thơng mại trong việc thu hút
khoản tiền gửi nhỏ. Các quỹ thị trờng tiền tệ và các tổ hợp dịch vụ tài chính tinh
vi hơn kiểu nh môi giới Merrill Lynch hệ thống quản lý tiền mặt đợc lập ra để
thu hút số tiền gửi lớn càng làm phức tạp thêm hoạt động Ngân hàng. Cạnh tranh
trong lĩnh vực cho vay cá nhân cũng tăng lên. Các công ty sử dụng các thẻ tín
dụng hoạt động thông qua các Ngân hàng đã cấp các khoản tín dụng rẻ hơn; các
cửa hàng đã cung cấp ứng cho khách hàng hệ thống tín dụng tự động tái lập các
công ty tài chính tín dụng cấp các khoản tín dụng thế chấp tài sản v.v
Học viên Trần Xuân Lãng
9
Luận văn tốt nghiệp
Nh vậy, tới cuối những năm 70 công nghệ Ngân hàng đã trở nên cạnh tranh
nhất. Những điều kiện khác biệt truyền thống giữa các loại công ty tài chính đã đ-
ợc xóa bỏ nhanh chóng. Phần lớn các đối thủ cạnh tranh đã có thể vợt ra khỏi các
giới hạn quốc gia. Ngoài ra nhiều chủ thể mới của thị trờng không bị điều chỉnh
bởi những hạn chế của pháp luật hiện hành. Điều đó cho phép họ có lợi thế hơn
trong cạnh tranh. Và cuối cùng, sự xuất hiện các kỹ thuật mới cũng đe dọa các
phơng pháp hoạt động truyền thống của Ngân hàng.
Những năm 80 đợc đặc trng lớn bởi những tốc độ thay đổi ngày càng nhanh
trong công nghệ Ngân hàng. Chúng ta hãy xem xét những khuynh hớng chủ yếu
của nó trong thời kỳ này.
2. Đặc thù trong kinh doanh Ngân hàng:
Mặc dù nhiều nguyên tắc mang tính quan điểm cũng nh các kĩ thuật đợc sử
dụng trong Marketing Ngân hàng là kết quả của Marketing thông thờng và sự vận
dụng các thành tựu của Marketing dịch vụ. Song điều quan trọng là cần thấy rằng
trong nhiều quan hệ hoạt động Ngân hàng có những khác biệt quan trọng nên sự
hàng, các dịch vụ có đặc tính phi vật chất nên tính chất bị động, phụ thuộc vào
khách hàng là vô cùng lớn.
Mức độ cạnh tranh trong sản phẩm của Ngân hàng đợc nhân lên gấp bội so
với mức cạnh tranh trong các sản phẩm của các doanh nghiệp do bị chi phối bởi
đặc điểm dùng nguyên liệu chính là tiền, loại nguyên liệu có tính xã hội hóa và
tính nhạy cảm cao.
Thời gian để thực hiện chu trình sản phẩm của Ngân hàng dài, các sản phẩm
dịch vụ Ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ mang tính chất tơng đối bổ sung
hoặc thay thế, bị hạn chế trong việc sáng tạo ra sản phẩm mới.
- Lãi suất tín dụng là giá cả của một loại sản phẩm chủ yếu nhất của Ngân
hàng. Việc xác định giá tín dụng có ý nghĩa qian trọng không chỉ ảnh hởng tới
hoạt động kinh doanh của Ngân hàng mà còn ảnh hởng đến cả nền kinh tế. Việc
định giá cho các sản phẩm Ngân hàng tuỳ thuộc vào khả năng nắm bắt quy luật
biến động giá cả của tiền tệ. Tuy nhiên khả năng này rất nhỏ, do đó phát sinh rủi
ro cao cho Ngân hàng do khó dự đoán quy luật này.
Học viên Trần Xuân Lãng
11
Luận văn tốt nghiệp
- Các yếu tố nội tại phát sinh từ môi trờng kinh doanh và công nghệ của
Ngân hàng.
Các hoạt động kinh doanh Ngân hàng thờng xuyên đổi mới với những điều
kiện kinh tế năng động và những điều chỉnh của pháp luật mà trong đó, việc quản
lí Ngân hàng buộc phải tiến hành. Mối quan hệ giữa Ngân hàng với khách hàng
là mối quan hệ dựa trên cơ sở tín nhiệm lẫn nhau và tạo điều kiện thuận lợi cho
nhau. Điều kiện môi trờng kinh doanh (điều kiện kinh tế và pháp luật) của mỗi n-
ớc cũng tạo ra những ảnh hởng đối với các hoạt động Ngân hàng đang đợc tiến
hành.
Dới tác động của cách mạng khoa học kĩ thuât, công nghệ Ngân hàng có
khuynh hớng quốc tế hóa. Hoạt động Ngân hàng diễn ra liên tục, thống nhất
không những trong phạm vi quốc gia mà còn quốc tế. Nh vậy môi trờng kinh
hoạt động Marketing là việc kế hoạch hóa các chiến lợc Marketing, bao gồm các
chiến lợc các sản phẩm và sự phát triển của nó, chiến lợc giá, chiến lợc cung cấp
hàng hóa, chiến lợc giao tiếp.
Nhng để đạt đợc những mục tiêu đề ra thì Ngân hàng phải có hệ thống các
biện pháp nhằm thực hiện quá trình kiểm soát Marketing thờng xuyên.
Học viên Trần Xuân Lãng
13
Luận văn tốt nghiệp
Sơ đồ hoạt động Marketing trong Ngân hàng
III. Hệ thống chiến lợc kinh doanh của Ngân hàng:
1. Chiến lợc tổng thể:
Chiến lợc là một chơng trình hành động cụ thể bao gồm việc sử dụng hữu
hiệu các nguồn lực hiện có để đạt đợc mục tiêu nhất định.
Để xây dựng các chiến lợc thì các Ngân hàng cần xác định các mục tiêu.
Mục tiêu của Ngân hàng là kết quả của việc xác định các nhiệm vụ. Việc xác
định nhiệm vụ lại đòi hỏi phải xác định đợc lĩnh vực kinh doanh từ đó để có đợc
sự tập trung hoặc những định hớng trong hoạt động.
Học viên Trần Xuân Lãng
14
Các nhiệm vụ của Ngân hàng
Các mục đích của Ngân hàng
Các khả năng của Ngân
hàng
(nguồn lực)
Các khả năng của
Marketing
Phân tích các khả năng thị trờng
Lựa chọn các thị trờng mục tiêu
Kế hoạch hóa chiến lợc
Lập các kế hoạch Marketing
chiến lợc sử dụng vốn, chiến lợc khách hàng, chiến lợc sản phẩm Ngân hàng,
chiến lợc lãi suất, chiến lợc thị trờng, chiến lợc con ngời và chiến lợc công nghệ
Ngân hàng.
Học viên Trần Xuân Lãng
15
Luận văn tốt nghiệp
- Nhóm chiến lợc các dịch vụ Ngân hàng gồm chiến lợc các nghiệp vụ trung
gian nhằm cung cấp ngày càng nhiều tiện nghi cho công chúng theo sự phát triển
của nền kinh tế.
Nh vậy, hệ thống chiến lợc kinh doanh của một Ngân hàng Thơng mại là
một chiến lợc hỗn hợp theo từng lĩnh vực hoạt động, từng nhóm hoạt động và
hoạt động của từng Ngân hàng. Các nhóm chiến lợc có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau, căn cứ vào nhau và không tách rời lẫn nhau. Chúng tác động qua lại trong
một thể thống nhất phù hợp với chiến lợc chung, cấu thành nên chiến lợc chung.
Tùy theo đặc điểm của từng Ngân hàng: lịch sử hình thành, trình độ xã hội nội tại
của Ngân hàng, chức năng, cơ cấu tổ chức của ngời điều hành chính cũng nh tình
hình kinh tế ở một thời kỳ và đặc điểm của địa bàn hoạt động mà vai trò của từng
chiến lợc cụ thể ở từng mức độ khác nhau.
3. Các chiến lợc Marketing Ngân hàng tiêu biểu:
a. Chiến lợc thị trờng mục tiêu:
Việc phân đoạn thị trờng đã bộc lộ những cơ hội của các đoạn thị trờng đang
và sẽ xuất hiện nên Ngân hàng cần phải quyết định chọn phân đoạn thị trờng hấp
dẫn nhất để phục vụ. Thị trờng của Ngân hàng vốn rất phức tạp, chẳng hạn khách
hàng thờng thể hiện nhiều nhu cầu tài chính có liên quan với nhau để thỏa mãn cả
một nhu cầu tổng thể hơn là từng nhu cầu riêng lẻ hoặc trong hai nhóm khách
hàng lân cận vẫn thể hiện những nhu cầu chung nhng trong mỗi nhóm khách
hàng lại có nhu cầu riêng. Vì vậy các Ngân hàng thờng phục vụ những phân đoạn
mà mình có khả năng cung ứng những giá trị lớn. Tuy nhiên khi lựa chọn thị tr-
ờng mục tiêu cần phải gắn với mục tiêu xã hội, mối quan hệ giữa các đoạn thị tr-
ờng cần phải quan tâm đến các đoạn thị trờng có triển vọng lâu dài trong tơng lai
Marketing
Hệ thống quản trị chất lợng dịch vụ Ngân hàng đợc đặt trên nền tảng quan
điểm quản trị chất lợng toàn bộ. Bao gồm một số cơ sở chính sau:
- Khách hàng có thể cảm nhận đợc chất lợng xuất phát từ nhu cầu khách
hàng và kết thúc bằng sự đánh giá của chính khách hàng.
- Đợc phản ánh và thể hiện trong toàn bộ quá trình hoạt động chứ không đơn
thuần ở bản thân dịch vụ đợc cung ứng.
- Đòi hỏi sự tận tâm chung của toàn thể nhân viên của Ngân hàng.
- Phải đợc thờng xuyên cải tiến và nâng cấp, đòi hỏi phải có bớc đột phá.
- Không đòi hỏi thêm chi phí, thậm chí cắt giảm đợc những chi phí phi chất
lợng.
e. Chiến lợc cạnh tranh:
4. Marketing hỗn hợp trong kinh doanh Ngân hàng:
a. Mục tiêu áp dụng các chính sách Marketing trong kinh doanh Ngân hàng
Mục tiêu của hoạt động Marketing cũng khômg ngoài mục tiêu chung của
Ngân hàng đó là: đạt đợc mức trởng cao, tìm kiếm các khoản lợi nhuận không
những trong hiện tại mà còn trong tơng lai, nhận biết và dự đoán để hạn chế các
rủi ro, đầu t khoa học công nghệ vừa đáp ứng nhu cầu, vừa phù hợp khả năng,
không ngừng nânh cao trình độ của đội ngũ cán bộ để đạt đợc chuẩn mực về đạo
đức cũng nh chuyên môn. Tuy nhiên, hoạt động Marketing còn có những mục
tiêu riêng:
Học viên Trần Xuân Lãng
18
Luận văn tốt nghiệp
- Thỏa mãn mọi nhu cầu khách hàng một cách tốt nhất nhng đồng thời cũng
đạt đợc sự cân bằng lợi ích giữa Ngân hàng và khách hàng. Từ đó nhằm hoàn
thiện và phát triển mối quan hệ ngày càng gắn bó và phát triển.
- Góp phần bảo đảm an toàn trong kinh doanh, giảm rủi ro, đảm bảo sự phát
triển bền vững, ổn định của Ngân hàng.
- Góp phần tạo dựng uy tín, hình ảnh, vị thế của Ngân hàng trên thị trờng thể
biện pháp nhằm làm cho sản phẩm của Ngân hàng phù hợp với nhu cầu của
khách hàng. Sản phẩm của Ngân hàng tồn tại dới hình thức dịch vụ trên thị trờng
tài chính. Do có đặc tính phi vật chất nên nó không biểu hiện nh các sản phẩm
hữu hình khác. Vì vậy, Marketing phải nhằm tăng sự hiện diện của các sản phẩm
thông qua các biểu tợng, các hình thức quảng cáo, tạo nên hình ảnh ấn tợng,
tăng sự hiểu biết tính hữ ích của dịch vụ, làm cho dịch vụ và các thông điệp trở
nên hữ hình hơn.
Học viên Trần Xuân Lãng
20
Price - Giá
Product
Sản phẩm
Place
Phân phối
Promotion
Xúc tiến
People
Con người
Price - Giá
Luận văn tốt nghiệp
Sự phù hợp của sản phẩm thể hiện ở mức độ đáp ứng nhu cầu của xã hội,
phù hợp với đặc điểm của từng đối tợng khách hàng , khả năng thơng mại hóa sản
phẩm.
Trong công tác huy động vốn, sản phẩm của Ngân hàng là các tài khoản tiền
gửi thanh toán, thẻ tín dụng, dịch vụ Ngân hàng tại nhà các hình thức huy động
tiết kiệm với kì hạn, lãi suất, cách thức tính lãi, phơng thức thanh toán cùng với
các dịch vụ hỗn hợp nh cho vay cầm cố, chiếc khấu, chuyển nhợng, t vấn, Trong
xu thế cạnh tranh, các Ngân hàng đang tìm cách phát triển các sản phẩm dịch vụ
mới có tính hấp dẫn cao nhằm đáp ứng cao nhu cầu tăng thu, chiếm lĩnh thị phần
cũng nh gây áp lực cạnh tranh với các Ngân hàng và các tổ chức phi tài chính
b5. Chính sách xúc tiến:
Là hoạt động thông tin, tuyên truyền về sản phẩm của Ngân hàng đến với
các đối tợng khách hàng trên thị trờng.
Mục tiêu của chính sách này là nhằm hỗ trợ cho việc tạo dựng uy tín, vị thế
của Ngân hàng, phát triển và cũng cố hình ảnh sản phẩm cũng nh hình ảnh của
Ngân hàng, giúp khách hàng hiểu, tin tởng sản phẩm, thu hút khách hàng mới,
tăng sức bán và tăng thu nhập cho Ngân hàng.
Các cách tiếp cận truyền thống nh: quảng cáo, bán hàng cá nhân, khuyến
mãi và các mối quan hệ công chúng đều có thể áp dụng. Tuy nhiên, cần mở rộng
truyền thông qua nhân viên giao dịch, nhấn mạnh vào môi trờng vật chất, giá sản
phẩm.
IV. Vai trò của hoạt động Marketing trong công tác huy
động vốn:
1.Nguồn vốn:
a. Khái niệm:
Nguồn vốn Ngân hàng là tất cả các phơng tiện tiền tệ, tài chính trong xã hội
mà Ngân hàng thu hút, động viên, quản lý để thực hiện việc cho vay và các
nghiệp vụ kinh doanh khác của Ngân hàng.
b. ý nghĩa:
- Đối với cá nhân, doanh nghiệp: nguồn vốn Ngân hàng là cơ sở đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng và nhu cầu sản xuất kinh doanh của các tổ chức, cá nhân. Đây
Học viên Trần Xuân Lãng
22
Luận văn tốt nghiệp
là biện pháp để kích cầu tác động lại đối với khu vực sản xuất kinh doanh và là
biện pháp góp phần nâng cao đời sống.
- Đối với Ngân hàng: đây là yêu tố quyết định quy mô hoạt động của Ngân
hàng và góp phần quyết định đến hiệu quả kinh doanh.
- Đối với nền kinh tế: nguồn vốn của Ngân hàng thông qua việc tài trợ cho
nhu cầu tín dụng đối với các chủ thể trong nền kinh tế đã góp phần vào việc thực
để cho vay.
- Tiền gửi có kì hạn: là loại tiền gửi đợc ủy thác vào Ngân hàng trên cơ sở
thoả thuận trớc về thời gian rút tiền giữa khách hàng và Ngân hàng. Nhằm
khuyến khích khách hàng gửi tiền, Ngân hàng cho phép rút tiền trớc thời hạn thỏa
thuận trớc với điều kiện không hởng lãi suất hoặc chỉ hởng lãi suất thấp theo điều
kiện thực tế mà Ngân hàng quy định.
- Đối với Ngân hàng thì đây là nguồn vốn có tính chất ổn định nên Ngân
hàng có thể sử dụng phần lớn nguồn vốn này để cho vay. Vì vậy, Ngân hàng cần
có các chính sách để thu hút nguồn vốn này nh: đa ra các mức lãi suất tơng ứng
với mỗi kỳ hạn, mức lãi suầt nếu khách hàng rút trớc thời hạn,
- Tiền gửi tiết kiệm: là khoản tiền để dành của mỗi cá nhân đợc gửi vào
Ngân hàng nhằm hởng lãi suất theo định kì. Đây là nguồn vốn có số tuyệt đối rất
lớn, chiếm tỉ trọng rất quan trọng trong cơ cấu vốn huy động đợc. Bao gồm:
+ Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn.
+ Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn.
2. Vai trò của Marketing trong công tác huy động vốn:
Ngân hàng là một trung gian tài chính đối với đối tợng kinh doanh chủ yếu
là vốn bằng tiền. Nguyên tắc hoạt động chủ yếu là đi vay để cho vay. Vì vậy,
nguồn vốn không chỉ là yếu tố đầu vào, yếu tố quyết định đến hoạt động sử dụng
vốn mà còn là nền tảng cho mọi hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Chính vì vai trò quan trọng đó mà chiến lợc Marketing có ý nghĩa đặc
biệt trong công tác huy động vốn. Nó gắn kết toàn bộ hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng với nhu cầu của thị trờng, khai thác và sử dụng có hiệu quả
nguồn lực hiện có và tiềm năng của Ngân hàng, thỏa mãn tốt nhất nhu cầu
Học viên Trần Xuân Lãng
24
Luận văn tốt nghiệp
khách hàng trên cơ sở đảm bảo sự hài hòa lợi ích giữa Ngân hàng và khách
hàng, từ đó đạt đợc mục tiêu đề ra.
Phần II