Ebook.VCU www.ebookvcu.com
Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Lời mở đầu
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nớc
đối với ngời lao động, nhằm đảm bảo cuốc sống vật chất, ổn định đời sống cho
ngời lao động và gia đình họ trong các trờng hợp bị ốm đau, thai sản, suy giảm
khả năng lao động, mất việc làm, hết tuổi lao động hoặc chết. Chính sách
BHXH ở nớc ta đợc thực hiện ngay từ những ngày đầu mới thành lập nớc, 60
năm qua, trong quá trình tổ chức thực hiện, chính sách BHXH ngày càng đợc
hoàn thiện và không ngừng đổi mới, bổ xung cho phù hợp với điều kiện hiện
tại của đất nớc. Cùng với quá trình đổi mới của nền kinh tế từ sau Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986), chính sách BHXH và tổ chức
quản lí hoạt động cũng có nhiều đổi mới tích cực.
Từ việc nghiên cứu quá trình đổi mới của BHXH tôi nhận thấy BHXH
thực sự là một chính sách quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển
của đất nớc. BHXH không những góp phần ổn định đời sống của ngời lao
động mà còn khuyến khích họ tích cực lao động sản xuất tạo ra của cải cho xã
hội, xây dựng đất nớc. Trong quá trình thực hiện BHXH đã không ngừng phát
triển cả về chất lợng lẫn số lợng. Số ngời tham gia ngày càng tăng lên, mở
rộng cho các đối tợng tham gia, hoàn thiện dần hệ thống chính sách BHXH
tiến tới thực hiện đủ các chế độ của Tổ chức lao động quốc tế (ILO). Đặc biệt
là sự đổi mới về cơ chế quản lí từ cơ chế quản lí kế hoạch hoá, tập chung, bao
cấp, hoàn toàn do NSNN đảm bảo đã chuyển sang cơ chế thực hiện có thu và
quỹ hoạt động trên nguyên tắc cân bằng thu chi. Cách thực hiện nh vậy không
những giảm đợc gánh nặng cho NSNN mà còn thể hiện trách nhiệm của cả ng-
ời sử dụng lao động đối với ngời lao động. Nhà nớc nớc đóng vai trò tổ chức
thực hiện và quản lí thông qua BHXH Việt Nam, là hệ thống ngành dọc đợc
tổ chức từ Trung ơng đến địa phơng.
Bên cạnh những mặt đạt đợc, BHXH Việt Nam cũng còn rất nhiều tồn
tại cần sớm đợc khắc phục cả về nội dung chính sách, tổ chức quản lí hoạt
nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Nhng sự giúp đỡ này chỉ mang tính tự phát và với quy
mô nhỏ, thờng là trong một nhóm ngời chung quan hệ huyết thống.
Khi xã hội càng ngày càng tiến bộ, đặc biệt là khi chuyển sang giai
đoạn có sự phân công lao động xã hội, nền sản xuất xã hội lúc này đã phát
triển. Cùng với nó là quan hệ xã hội giữa các cá nhân, giữa các cộng đồng
cũng phát triển hơn. Khi đó tôn giáo bắt đầu xuất hiện, nó không chỉ với ý
nghĩa giáo dục con ngời hớng thiện mà còn có các trại bảo dỡng, hội cứu tế
với mục đích từ thiện, trợ giúp nhau trong cuộc sống. Nh vậy xét về bản chất
thì hình thức tơng trợ trong thời kì này đã mang tính có tổ chức và quy mô
rộng rãi hơn.
Từ thế kỉ thứ XVI ở Châu Âu đã xuất hiện ngành công nghiệp, những
ngời nông dân không có đất phải di c ra thành phố làm thuê cho các nhà máy
ngày càng nhiều và dần trở thành công nhân. Đặc biệt đến thời kì cách mạng
công nghiệp thì lực lợng ngày càng đông đảo và trở thành giai cấp công nhân.
Nhìn chung họ sống không ổn định, cuộc sống chỉ dựa vào công việc với đồng
lơng ít ỏi, mất việc làm, ốm đau, tai nạn lao động ... đều có thể đe doạ cuộc
sống của họ. Tình đoàn kết tơng thân tơng ái giữa họ đã nảy nở, cùng với đó là
sự ra đời của các nghiệp đoàn, các hiệp hội giúp đỡ các thành viên khi bị ốm
đau bệnh tật trong quá trình sản xuất. Bên cạnh Hội tơng tế còn có Quỹ tiết
kiệm đợc Nhà nớc khuyến khích thành lập. Tiếp đó những quy định bắt buộc
ngời sử dụng lao động phải chu cấp cho ngời lao động thuộc quyền quản lí khi
họ gặp phải ốm đau, tai nạn lao động, mất việc... Giai cấp công nhân càng
Ebook.VCU www.ebookvcu.com
Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
đông đảo thì sức ép đối với những đòi hỏi đảm bảo cuộc sống cho họ ngày
càng ảnh hởng đến đời sống chính trị của mỗi nớc. Trớc tình cảnh đó Chính
Phủ mỗi nớc không thể không quan tâm đến tình cảnh của ngời lao động.
Những yêu cầu giảm giờ làm, cải thiện điều kiện lao động, đảm bảo cuộc sống
của ngời lao động dần đợc quy định thành các chính sách bắt buộc đối với mỗi
động và gia đình họ. Chính vì yếu tố này mà BHXH đợc coi là một chính
sách lớn của mỗi quốc gia và đợc Nhà nớc quan tâm quản lí chặt chẽ. Cũng
tùy vào điều kiện kinh tế của mỗi nớc mà các quy định về đối tợng này là
có sự khác nhau nhng cùng bảo đảm ổn đình đời sống của ngời lao động.
- Đối tợng tham gia BHXH là gồm ngời lao động và cả ngời sử dụng lao
động. Sở dĩ ngời lao động phải đóng phí vì chính họ là đối tợng đợc hởng
BHXH khi gặp rủi ro. Ngời sử dụng lao động đóng phí là thể hiện sự quan
tâm, trách nhiệm của họ đối với ngời lao động. Và sự đóng góp trên là bắt
buộc, ngoài ra còn có sự hỗ trợ của Nhà nớc.
- Để điều hoà mâu thuẫn giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động, để
gắn bó lợi ích giữa họ, Nhà nớc đã đứng ra yêu cầu cả hai bên cùng đóng
góp và đây cũng là chính sách xã hội đợc thực hiện góp phần ổn định cuộc
sống một cách hiệu quả nhất.
Dựa vào bản chất và chức năng của BHXH mà Tổ chức Lao động Quốc
tế ( ILO) cũng đã đa ra một định nghĩa khác nh sau:
BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông
qua một loạt các biện pháp công cộng (bằng pháp luật, trách nhiệm của Chính
phủ) để chống lại tình trạng khó khăn về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc giảm
mất thu nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già, tàn tật và
chết. Hơn nữa, BHXH còn phải bảo vệ cho việc chăm sóc y tế, sức khoẻ và trợ
cấp cho các gia đình khi cần thiết.
Từ định nghĩa trên chúng ta thấy mục tiêu của BHXH là hớng tới sự
phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội. BHXH thể hiện sự đảm bảo lợi ích
của xã hội đối với mỗi thành viên từ đó gắn kết mỗi cá nhân với xã hội đó.
3. Bản chất và chức năng của BHXH.
3.1. Bản chất của BHXH.
Có thể hiểu BHXH là sự bù đắp một phần thu nhập bị mất của ngời lao
động khi gặp phải những biến cố nh ốm đau, tai nan lao động, bệnh nghề
nghiệp hoặc tuổi già làm mất, giảm khả năng lao động, từ đó giúp ổn định
Ebook.VCU www.ebookvcu.com
năng này quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của
BHXH.
Ebook.VCU www.ebookvcu.com
Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Đối tợng tham gia BHXH có cả ngời lao động và ngời sử dụng lao động
và cùng phải đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để trợ cấp cho ngời lao
động khi gặp phải rủi ro, số ngời này thờng chiếm số ít. BHXH thực hiện cả
phân phối lại thu nhập theo chiều dọc và chiều ngang, giữa ngời lao động khoẻ
mạnh với ngời lao động ốm đau, già yếu..., giữa những ngời có thu nhập cao
phải đóng nhiều với ngời có thu nhập thấp phải đóng ít. Nh vậy thực hiện chức
năng này BHXH còn có ý nghĩa góp phần thực hiện công bằng xã hội, một
mục tiêu quan trọng trong chính sách kinh tế -xã hội của mỗi quốc gia.
Nhờ có BHXH mà ngời lao động luôn yên tâm lao động, gắn bó với
công việc, nâng cao năng suất lao động. Từ đó góp phần nâng cao năng suất
lao động xã hội, tạo ra của cải vật chất ngày càng nhiều hơn, nâng cao đời
sống toàn xã hội. Nếu trớc đây, sự trợ giúp là mang tính tự phát, thì hiện nay
khi xã hội đã phát triển, việc trợ giúp đã đợc cụ thể hoá bằng các chính sách,
quy định của Nhà nớc. Sự bảo đảm này giúp gắn bó mối quan hệ giữa ngời lao
động và xã hội và càng thúc đẩy hơn nghĩa vụ của họ đối với xã hội.
Trong thực tế giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động có những
mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lơng, tiền công, thời gian lao động...
BHXH đã gắn bó lợi ích giữa họ, đã điều hoà đợc những mâu thuẫn giữa họ,
làm cho họ hiểu nhau hơn. Đây cũng là mối quan hệ biện chứng hai bên đều
có lợi, ngời lao động thì đợc đảm bảo cuộc sống, ngời sử dụng thì sẽ có một
đội ngũ công nhân hăng hái, tích cực trong sản xuất. Đối với Nhà nớc thì
BHXH là cách chi ít nhất song hiệu quả nhất vì đã giải quyết những khó khăn
về đời sống của ngời lao động và góp phần ổn định sản suất, ổn định kinh tế -
xã hội.
4. Nguyên tắc hoạt động của BHXH.
(ILO) về hệ thống chính sách BHXH. Trong Công ớc 102 đợc ILO thông qua
ngày 4/6/1952 có quy định những quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội đã đa
ra 9 chế độ sau:
- Chăm sóc y tế.
- Trợ cấp ốm đau.
- Trợ cấp thất nghiệp.
- Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
- Trợ cấp tuổi già.
- Trợ cấp thai sản.
Ebook.VCU www.ebookvcu.com
Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
- Trợ cấp tàn tật.
- Trợ cấp vì mất ngời trụ cột gia đình.
Các thành viên tham gia Công ớc phải thực hiện ít nhất là 3 trong 9 chế
độ nói trên, trong đó phải có nhất thiết 1 trong năm chế độ sau đây:
- Trợ cấp tuổi già.
- Trợ cấp thất nghiệp.
- Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
- Trợ cấp tàn tật.
- Trợ cấp vì mất ngời trụ cột gia đình.
Mỗi chế độ trong hệ thống BHXH khi xây dựng phải dựa trên các cơ sở
điều kiện kinh tế, thu nhập, tiền lơng, ... Đồng thời, tuỳ từng chế độ mà còn
phải tính đến các yếu tố sinh học, tuổi thọ bình quân, nhu cầu dinh dỡng, ... để
quy định các mức đóng, mức hởng, thời gian hởng và đối tợng hởng cho hợp
lí. Các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
+ Các chế độ đợc xây dựng theo luật pháp của mỗi nớc.
+ Hệ thống các chế độ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính.
+ Mỗi chế độ đợc chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các
bên tham gia BHXH.
chẽ.
Phần lớn các nớc trên thế giới, quỹ BHXH đều đợc hình thành từ các
nguồn nêu trên. Tuy nhiên, phơng thức đóng góp và mức đóng góp của các
bên tham gia BHXH có khác nhau tuỳ thuộc quy định của mỗi nớc. Hiện nay
mức đóng góp BHXH của ngời lao động và ngời sử dụng lao động hiện vẫn
còn hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ vào mức lơng cá
nhân và quỹ lơng cơ quan, doanh nghiệp. Quan điểm thứ hai lại cho rằng, phải
căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của ngời lao động đợc cân đối chung trong
toàn bộ nền kinh tế quốc dân để xác định mức đóng góp. Về mức đóng góp
BHXH, mỗi nớc lại có những quy định khác nhau. Một số nớc quy định ngời
sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động, Chính
phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả ngời lao động và
Ebook.VCU www.ebookvcu.com
Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
ngời sử dụng lao động cùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau. Trong đó,
một số nớc khác lại quy định, Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu
toàn bộ chi quản lí BHXH ....
Quỹ BHXH đợc sử dụng để chi trả chủ yếu cho hai mục đích sau: thứ
nhất là chi trả và trợ cấp cho các chế độ BHXH nh đã nêu ở mục 5, còn lại là
chi trả cho chi phí sự nghiệp quản lí BHXH. Trong hai khoản chi đó thì khoản
chi thứ nhất là quan trọng và chiếm phần lớn trong quỹ BHXH. Các khoản trợ
cấp này cũng đợc quy định về mức trợ cấp và thời gian hởng một cách cụ thể
và có sự khác biệt đối với từng chế độ. Tại những nớc khác nhau thì các khoản
trợ cấp này cũng đợc quy định khác nhau.
6.2. Phân loại quỹ BHXH:
Tuỳ theo mục đích và cách tổ chức của những hệ thống BHXH trên thế
giới mà quỹ BHXH đợc phân loại khác nhau:
- Phân loại theo các chế độ bao gồm: Quỹ hu trí, tử tuất; Quỹ tai nạn lao
động và bệnh nghề nghiệp; Quỹ thất nghiệp; Quỹ ốm đau thai sản.
chính BHXH để thực hiện mục tiêu quản lí xã hội đó là đảm bảo ổn định cuộc
sống cho nhân dân trớc những rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động
hay khi về già, giúp ngời lao động yên tâm lao động sản xuất, góp phần thúc
đẩy sản xuất phát triển. BHXH thể hiện tính u việt của mỗi quốc gia, mỗi thể
chế xã hội . Còn hiểu theo nghĩa hẹp thì quản lí tài chính BHXH là quản lí thu
chi BHXH. Nh vậy quản lí tài chính BHXH chủ yếu liên quan tới việc làm thế
nào để hoạt động thu chi quỹ BHXH đợc thực hiện một cách bình thờng trớc
những biến động của môi trờng. Biến động ở đây là những biến động về đối t-
ợng tham gia, đối tợng hởng, biến động của môi trờng sống, môi trờng kinh
tế ..., những biến động tác động trực tiếp đến đời sống của ngời lao động, đến
việc thu chi quỹ BHXH, ảnh hởng tới sự đầu t tăng trởng quỹ BHXH. Nội
dung của quản lí tài chính BHXH chủ yếu là sự lựa chọn và xác định các chính
sách, chế độ, quy chế về tài chính BHXH một cách hợp lí và lấy đó làm căn cứ
để ra quyết định cụ thể của thu chi BHXH thực hiện mục tiêu của Nhà nớc đặt
ra.
Ebook.VCU www.ebookvcu.com
Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Khi thực hiện quản lí tài chính BHXH cần chú ý hai nguyên tắc chủ yếu
sau:
- Quá trình quản lí tài chính BHXH phải luôn đợc tính toán, so sánh
và cân đối trong trạng thái động: Bởi vì lợng tiền mặt của quỹ biến động theo
từng chế độ trợ cấp BHXH khác nhau, lợng lao động biến động một cách th-
ờng xuyên nên trong quản lí, đặc biệt là khâu lập kế hoạch phải chú trọng tới
vấn đề này. Đây cũng là một đặc thù trong ngành Bảo hiểm nói chung và
BHXH nói riêng vì tính đảo ngợc chu kì kinh doanh tức là thu phí trớc chi trả
cho các chế độ sau. Tuy có sự hỗ trợ của NSNN, song quản lí tài chính BHXH
phải góp phần giảm gánh nặng cho NSNN và vẫn thực hiện chính sách xã hội
này một cách tốt nhất.
- Quỹ BHXH phải đợc bảo tồn và phát triển: Nh trên đã đề cập thì
với mục tiêu lợi nhuận làm đầu vì BHXH chính là một chính sách quan trọng
trong hệ thống An sinh xã hội của mỗi nớc.
2. Nội dung quản lí tài chính BHXH.
Nhìn chung, quản lí tài chính BHXH bao gồm bốn nội dung cơ bản sau:
- Quản lí thu BHXH.
- Quản lí chi BHXH.
- Quản lí hoạt động đầu t tăng trởng quỹ.
- Quản lí cân đối quỹ BHXH.
2.1. Quản lí thu BHXH.
Quản lí thu giữ vai trò quan trọng và quyết định đến sự thành công của
quá trình thu BHXH, từ đó quyết định đến sức mạnh quỹ BHXH để đảm bảo
cho việc chi trả cho các chế độ trợ cấp. Trớc tiên chúng ta phải nắm đợc nội
dung thu gồm hai khoản thu từ ngời lao động và ngời sử dụng lao động. Đây là
khoản thu lớn nhất và đóng vai trò quan trọng, quyết định. Các khoản thu khác
nh: thu từ các quỹ của các tổ chức, cá nhân từ thiện hay sự hỗ trợ của NSNN là
nhỏ, NSNN chỉ bù đắp cho những trờng hợp cần thiết. Hơn nữa đây là khoản
thu mà tổ chức BHXH cũng không thể tự điều chỉnh đợc vì nó mang tính thụ
động. Do vậy mà công tác quản lí thu chỉ tập chung vào nguồn thu từ hai đối t-
ợng chính ngời lao động và ngời sử dụng lao động. Nội dung của quản lí thu
lại tập chung vào ba đối tợng chính sau đây:
Quản lí đối tợng tham gia BHXH: Đây là việc đầu tiên mà mỗi tổ chức
BHXH khi thực hiện quan tâm đến, thờng các đối tợng này đợc quy định rõ
Ebook.VCU www.ebookvcu.com
Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nớc. Hơn thế nữa BHXH cũng
hoạt động trên nguyên tắc san sẻ rủi ro và tuân theo quy luật số đông bù số ít
nên việc tham gia đầy đủ của các đối tợng tham gia BHXH là việc rất quan
trọng. Quản lí đối tợng tham gia cần thực hiện các công việc sau:
+ Quản lí số lợng đăng kí tham gia BHXH.
quản lí chi không với mục đích giảm khoản chi này một cách lớn nhất có thể
mà quản lí để tránh tình trạng chi sai chế độ hoặc chi không đúng đối tợng vừa
tránh lãng phí lại đảm bảo công bằng cho các đối tợng tham gia BHXH. Do
vậy, để đảm bảo chi trả trợ cấp đúng chế độ, đúng đối tợng, kịp thời cần có ph-
ơng thức chi hợp lí, tổ chức thực hiện chi trả cho các chế độ thuận lợi, dễ dàng.
Cũng nh quản lí hoạt động thu trớc tiên chúng ta phải quản lí những đối tợng
đợc hởng các chế độ BHXH. Đối tợng có thể hởng các chế độ chính là bản
thân ngời lao động hoặc ngời thân trong gia đình họ. Đối tợng đợc hởng các
chế độ trợ cấp là những ngời lao động tham gia đóng phí BHXH và gặp phải
những rủi ro làm mất hoặc giảm khả năng lao động dẫn đến mất hoặc giảm thu
nhập của họ. Các điều kiện hởng đợc quy định cụ thể trong các văn bản, thờng
thì mức trợ cấp, loại trợ cấp và thời gian trợ cấp thì phụ thuộc vào mức đóng
góp, thời gian đóng góp, mức độ hay tỉ lệ thơng tật,...và chính biến cố mà ngời
lao động gặp phải. BHXH Việt Nam muốn quản lí tốt cần có những văn bản
quy định rõ ràng và hợp lí về các điều kiện hởng của các loại chế độ, dựa trên
cơ sở đó để xử lí các trờng hợp cho công bằng. Đối tợng hởng cần đợc xem xét
và kiểm tra nhằm tránh tình trạng chi sai hoặc chi không hợp lí. Quản lí chi
cho các chế độ cũng cần đợc phân loại và phân cấp quản lí để dễ quản lí và
thực hiện chi trả cho thuận tiện.
Quản lí chi hoạt động bộ máy: Sau chi cho các chế độ thì đây là khoản
chi lớn thứ hai cần đợc quản lí. Chi quản lí có thể hiểu đơn giản là khoản chi
cho bộ máy tức là trả lơng cho cán bộ, chi cho đầu t xây dựng cơ bản, chi mua
sắm thiết bị và những tài sản cố định nhằm duy trì hoạt động của tổ chức
BHXH. Mức chi này có thể đợc quy định trong điều lệ BHXH hoặc cũng có
thể đợc lập trong NSNN. Khoản chi này cần đợc quản lí tránh những lãng phí
không cần thiết. Một số nớc khoản chi này đợc NSNN chi trả, một số nớc lại
do quỹ BHXH đảm bảo. Song nhìn chung thì chi phí quản lí là phải phù hợp
tránh những lãng phí không cần thiết, song chi phí quản lí cũng phải đủ lớn để
đảm bảo cơ sở cho hoạt động quản lí của BHXH đợc thực hiện dễ dạng. Hơn
nữa lơng cho cán bộ nhân viên của ngành BHXH phải cân bằng với các ngành
chính của BHXH. Muốn quản lí tốt, nhà quản trị cần nắm rõ những yếu tố này
để đa ra những quyết định hợp lí và có lợi nhất cho đối tợng quản lí. Các tác
động của môi trờng thờng đợc chia làm hai loại là tác động của môi trờng
ngoài hệ thống và tác động từ môi trờng trong hệ thống.
Tác động từ môi trờng ngoài hệ thống bao gồm các ảnh hởng từ môi tr-
ờng kinh tế- chính trị- xã hội của mỗi quốc gia. Nhìn rộng ra thì có thể là cả
Ebook.VCU www.ebookvcu.com
Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
những ảnh hởng của môi trờng thế giới. Khi chúng ta xem xét các yếu tố của
BHXH dới giác độ của các công ớc quốc tế mà Tổ chức Lao động Quốc tế
( ILO) đã quy định. Nhng các nhân tố môi trờng trong nớc là quan trọng hơn.
BHXH không chỉ là thể hiện tính u việt của mỗi Nhà nớc mà chính Nhà nớc
cũng là chủ sử dụng lao động lớn nhất trong xã hội. Các chính sách, quyết
định của Nhà nớc tác động trực tiếp tới hoạt động quản lí. Môi trờng kinh tế
nh GDP, thu nhập bình quân đầu ngời, giá cả, tình trạng nền kinh tế tăng trởng
hay khủng hoảng, mức sống tối thiểu, các dịch vụ công cộng... . Đây là các
yếu tố tác động tới thu chi, cân đối quỹ BHXH sao cho phù hợp đảm bảo ổn
định cuộc sống cho ngời lao động. Bên cạch đó còn có các yếu tố nh văn hoá,
lối sống, truyền thống, trình độ nhận thức,... nó tác động đến mức độ chấp
nhận, sự đồng tình thực hiện của mỗi cá nhân trong xã hôi. Chẳng hạn nh ở n-
ớc ta có truyền thống lá lành đùm là rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều rất
phù hợp với mục đích triển khai BHXH nên đợc mọi ngời đồng tình thực hiện.
Tất cả những yếu tố kể trên tác động tới nội dung của những quy định trong
các quy chế quản lí tài chính BHXH Việt Nam.
Những tác động của bản thân các yếu tố bên trong hệ thống nh ý thức tự
giác của các đối tợng tham gia là ngời lao động và đặc biệt là chủ sử dụng lao
động. Yếu tố trình độ của các cán bộ trong ngành BHXH, điều kiện làm việc,
trang thiết bị phục vụ công tác,....cũng ảnh hởng trực tiếp đến công tác quản lí
tài chính BHXH. Trình độ cán bộ càng cao, cơ sở vật chất kĩ thuật cang đầy đủ
- Hệ thống BHXH ở các xí nghiệp.
Trong đó hệ thống BHXH bắt buộc đợc tổ chức theo mô hình tự quản,
bảo đảm tài chính theo phơng pháp lấy thu bù chi. Hệ thống BHXH t nhân và
hệ thống BHXH ở các xí nghiệp hoạt động theo Bộ luật Lao động của Liên
bang. Tự chịu là hình thức quản lí tơng đối độc lập với sự chỉ đạo của cơ quan
quản lí Nhà nớc cao nhất. Có thể hiểu rõ thông qua cơ chế quản lí chung của
Quỹ hu trí sau. Cơ quan quản lí cao nhất là một Hội đồng, hội động này bổ
nhiệm Ban điều hành, từ Ban điều hành sẽ điều hành mọi hoạt động của tổ
chức. Hoạt động tài chính trong năm của Quỹ hu trí viên chức Liên bang diễn
ra nh sau:
Ebook.VCU www.ebookvcu.com
Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Vào mùa hè hàng năm, các chuyên gia của Chính phủ Liên bang, tổ
chức BHXH, Tổng cục Thống kê sẽ dự kiến nhu cầu tài chính của năm tới theo
phơng pháp ớc tính. Từ đó đa ra dự kiến số thu, dự kiến số chi, trên cơ sở này
xác định tỉ lệ thu cho năm tới và tiến hành đa ra bằng một văn bản có hiệu lực
pháp luật. Quỹ thu thờng là đủ dùng chi trả cho các đối tợng hởng chế độ, chi
hoạt động của bộ máy quản lí và còn một khoản để dự trữ gọi là khoản dự trữ
trần. Do sự ổn định của nền kinh tế mà khoản dự trữ này thờng chỉ ở mức đủ
chi cho các đối tợng do quỹ đảm bảo trong một tháng, từ năm 2001 đã rút
xuống khoản 0,8 tháng. Cách này có những u điểm nh: hạn chế đợc những tác
động của môi trờng kinh tế, dễ dàng cân đối quỹ, giảm thiểu tình trạng bội chi,
không hề gây gánh nặng cho NSNN,... .
Cộng hoà Liên bang Đức không có các tổ chức BHXH thực hiện cùng
một lúc nhiều chế độ, mà thông thờng mỗi tổ chức chỉ chịu trách nhiệm thu,
chi cho một loại chế độ nhất định. Điểm đáng lu ý ở nớc này là những công
chức Nhà nớc ( những ngời đợc đề cử vào bộ máy quản lí Nhà nớc) không phải
đóng BHXH, nhng họ đợc nhận lơng hu khi hết tuổi lao động. Khoản chi này
đợc lấy từ nguồn thu thuế để trả. Có nhiều tổ chức cùng tham gia thực hiện các
tình trạng lẫn lộn giữa các quỹ, sử dụng sai mục đích hay thất thoát.
Ebook.VCU www.ebookvcu.com
Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Chơng II: Thực trạng công tác quản lí
tài chính BHXH tại Việt Nam
I. Giới thiệu chung về BHXH Việt Nam.
1. Khái quát về sự hình thành và quá trình phát triển của BHXH
Việt Nam
1.1. BHXH Việt Nam giai đoạn trớc 1995.
Ngay từ đầu của cuộc kháng chiến, mặc dù còn rất nhiều khó khăn và
phải giải quyết nhiều công việc hệ trọng của đất nớc nhng Nhà nớc ta vẫn luôn
dành sự quan tâm tới việc tổ chức thực hiện BHXH. Trớc tiên Chính phủ cách
mạng đã áp dụng chế độ hu trí cũ của Pháp để giải quyết quyền lợi cho một số
công chức đã làm việc dới thời Pháp, sau đó đi theo kháng chiến nay đã già
yếu. Sau cách mạng tháng Tám thành công do còn khó khăn về nhiều mặt nên
chế độ chỉ đợc thực hiện đến năm 1949.
Năm 1950, Hồ Chủ Tịch kí Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 ban hành
quy chế công chức và Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 ban hành quy chế
công nhân. Theo các Sắc lệnh trên, công chức và công nhân đã có những
quyền lợi về chế độ hu trí. Nhìn lai chính sách BHXH giai đoạn này chúng ta
có thể nhận thấy các chính sách đợc xây dựng và thực hiện ngay sau khi dành
đợc độc lập tuy hoàn cảnh đất nớc còn rất nhiều khó khăn. Mặt khác các
chính sách triển khai thực hiện không đầy đủ, chỉ mới thực hiện đợc một số
chế độ cơ bản với mức trợ cấp thấp nhằm đảm bảo cuộc sống tối thiểu cho bộ
phận công nhân, viên chức Nhà nớc. Nguồc chi 100% lấy từ NSNN, cha hề có
sự đóng góp của các bên.
Đến ngày 27/12/1961, Chính phủ ban hành Điều lệ BHXH tạm thời về
các chế độ BHXH cho cán bộ, công nhân viên kèm theo Nghị định 218/ CP.
Tiếp theo đó là Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964 ban hành Điêu lệ BHXH
trang mới trong lịch sử phát triển của mình.
1.2. BHXH Việt Nam giai đoạn sau 1995.
Đây là giai đoạn chính sách và quản lí hoạt động BHXH có những đổi
mới thực sự từ cơ chế tập chung, bao cấp không đóng BHXH vẫn đợc hởng
BHXH sang hoạt động theo nguyên tắc có đóng có hởng, có chia sẻ rủi ro. Về
Ebook.VCU www.ebookvcu.com
Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
quản lí hoạt động BHXH từ chỗ phân tán do nhiều cơ quan khác nhau đảm
nhận, nay tập chung thống nhất về một đầu mối là BHXH Việt Nam. Trên cơ
sở quy định đóng BHXH, chính sách thời kì này xác lập rõ cơ chế hình thành
và sử dụng quỹ BHXH. Theo đó quỹ BHXH Việt Nam do BHXH Việt Nam
quản lí chỉ chịu trách nhiệm đối với ngời lao động từ năm 1995 trở đi, còn
NSNN đảm bảo chi trả cho những đối tợng nghỉ làm việc trớc năm 1995.
BHXH Việt Nam mở rộng đối tợng tham gia, bao gồm thêm các doanh
nghiệp kinh tế có sử dụng 10 lao động trở lên ( hiện nay là bắt buộc đối với
mọi doanh nghiệp có sử dụng lao động); cán bộ xã phờng, thị trấn; các lao
động làm việc trong các cơ sở Y tế, Giáo dục, Văn hoá và Thể thao ngoài công
lập. BHXH cũng quy định lại hiện nay chỉ còn 5 chế độ trợ cấp : ốm đau; tai
nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; thai sản; hu trí và tử tuất (bỏ chế độ nghỉ
mất sức lao động). Điều lệ BHXH và hai Nghị định 12/CP và 45/CP là những
quy định pháp lí đợc thực hiện đến nay và chỉ có những sửa đổi nhỏ.
Với mục đích:
+Thực hiện cải cách tổ chức bộ máy của Chính phủ trong tình hình mới
trong chơng trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nớc giai đoạn 2001- 2010.
+Phục vụ và đáp ứng yêu cầu tốt hơn cho ngời tham gia BHXH, BHYT
và tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, đơn vị, tổ chức sủ dụng ngời lao
động đóng bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
+Phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của cả hệ thống
BHXH và BHYT.
đội nhân dân, công an nhân dân. Các chế độ BHXH này gồm có: chế độ trợ
cấp ốm đau, chế độ trợ cấp thai sản, chế độ trợ cấp tai nạn lao động- bệnh
nghề nghiệp, chế độ hu trí, chế độ tử tuất.
Nghị định số 09/ 1998/NĐ- CP ngày 23/1/1998 của Chính phủ sửa đổi,
bổ xung một số điều củ Nghị định 50/CP ngày 26/7/2995 của Chính phủ về
chế độ sinh hoạt phí đối cới cán bộ xã, phờng, thị trấn. Cán bộ cấp xã tham gia
đóng BHXH và hởng chế độ hu trí và mai táng là những cán bộ làm công tác
Đảng, chính quyền và trởng các đoàn thể: Chủ tịch Mặt trận, Hội trởng hội
phụ nữ, Hội trởng hội nông dân, Hội trởng Hội Cựu chiến binh, Bí th đoàn
THCS Hồ Chí Minh và các cán bộ chc danh chuyên môn là Văn phòng Uỷ ban
nhân dân xã, địa chính, t pháp, tài chính- kế toán.