Hoàn thiện nghiệp vụ kế toáncho vay tại SGDI - Pdf 85

Lời mở đầu
Với một nền kinh tế đang ngày càng phát triển không ngừng và cùng hội
nhập với nền kinh tế thế giới thì đòi hỏi mỗi một thành phần trong xã hội phải
cố gắng để khơi dậy đợc những tiềm năng, những nguồn lực cùng tham gia vào
mọi hoạt động làm sao để tiến kịp các nớc trên thế giới thoát khỏi đợc cảnh trì
trệ, chậm phát triển. Hoà cùng nhịp đập của nền kinh tế thì ngành Ngân hàng
cũng góp một phần không nhỏ đến sự tồn tại và phát triển của xã hội trong đó
có hoạt động kinh doanh Ngân hàng.
Làm thế nào để đạt hiệu quả cao trong kinh doanh, nhất là kinh doanh
tiền tệ, luôn là vấn đề đặt ra cho mọi nhà lãnh đạo Ngân hàng. Không một Ngân
hàng nào lại muốn mình tồn tại trong tình trạng thua lỗ. Hoạt động kinh doanh
là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của các NHTM. Nó có ảnh hởng tích
cực đến nền kinh tế quốc dân, đến sự tồn tại và phát triển của bản thân mỗi
NHTM. Trong đó nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ quan trọng và chiếm tỷ trọng
lớn trong toàn bộ tài sản có của Ngân hàng. Đây là nguồn vốn huy động chủ
yếu của khách hàng nên Ngân hàng phải có trách nhiệm sử dụng nó có hiệu
quả. Vì nh chúng ta đã biết lợi nhuận thu đợc qua hoạt động này thờng chiếm từ
80% -> 90% lợi nhuận thu đợc của Ngân hàng.
Là một đơn vị không thể thiếu trong hệ thống NHNo & PTNT VN. Từ
khi thành lập đến nay SGDI NHNo & PTNT đã tập trung vốn cho vay theo
những mục tiêu kinh tế lớn của đất nớc góp một phần không nhỏ vào thành tích
chung của toàn hệ thống.
Tuy nhiên, do tính chất phức tạp của nghiệp vụ tín dụng và tính pháp lý
cao của các khoản vay nên kế toán cho vay tại SGDI cũng rất phức tạp và một
số bất cập ít nhiều có ảnh hởng đến việc nâng cao chất lợng tín dụng. Từ đó đòi
hỏi phải có biện pháp trong kế toán cho vay thì mới có thể nâng cao đợc chất l-
ợng tín dụng và chất lợng nghiệp vụ kế toán.
Nhận thức đợc tầm quan trọng và mức độ phức tạp của kế toán cho vay,
trong thời gian thực tập tại SGDI em đã chọn đề tài : Một số giải pháp nhằm

1

vậy gọi là quan hệ tín dụng, có nghĩa là vay mợn lẫn nhau trên cơ sở trả gốc và
lãi.
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về tín dụng nhng chung quy lại
thì nó đều thể hiện hai nội dung chính sau đây:
Thứ nhất: Ngời sở hữu một số tiền hoặc hàng hoá chuyển giao cho ngời
khác sử dụng trong một khoảng thời gian nhất đinhj.
Thứ hai: Ngời sử dụng cam kết hoàn trả số tiền hoặc hàng hoá đó cho
ngời sở hữu với một giá trị lớn hơn khi đến hạn. Và ta co thể định nghĩa tín
dụng một cách đầy đủ nh sau: tín dụng là quan hệ chuyển nhợng tạm thời một l-
ợng giá trị từ ngời sở hữu sang ngời sử dụng để sau một thời gian nhất định thu
hồi về một lợng giá trị lớn hơn lợng giá trị ban đầu. Qua đó ta có thể thấy đợc
bản chất của tín dụng là nh thế nào, nó chính là quan hệ tin tởng giữa ngời đi
vay nh thế nào, nó chính là quan hệ tin tởng giữa ngời đi vay và ngời cho vay
thông qua sự vận động của giá trị. Quan hệ tín dụng có những đặc trng sau:
Một: Là quan hệ đảm bảo tính hoàn trả giá trị mang tính chất tạm thời.
Hai: Là đảm bảo tính hoàn trả về thời gian và giá trị.

3
Ba: Là quan hệ tín dụng đợc xây dựng trên cơ sở tin tởng giữa ngời đi
vay và ngời cho vay.
Nguyên nhân khách quan của sự tồn tại và phát triển của quan hệ tín
dụng là mâu thuẫn vốn có của quá trình tái sản xuất xã hội, đó là: cùng một lúc
có chủ thể kinh tế khác lại có nhu cầu cần bổ sung vốn. Nếu tình trạng này
không đợc giải quyết quá trình sản xuất có thể bị ngng trệ ở chủ thể này trong
khi vốn đang nằm im ở các chủ thể khác. Kết quả là nguồn lực của xã hội
không đợc sử dụng một cách có hiệu quả nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản
xuất tiến hành liên tục. Nhng thực tế hai chủ thể kinh tế này khó có thể phù hợp
đợc với nhau về quy mô, về thời gian nhàn rỗi và thời gian sử dụng vốn hoặc
cũng có thể phù hợp đợc thì phải tốn kém chi phí tìm kiếm, nên để thoả mãn đ-
ợc nhu cầu của cả hai chủ thể này thì cần thiết phải có một ngời thứ ba đứng ra

ở các doanh nghiệp, trong quá trình sản xuất kinh doanh. Việc thừa vốn
hay thiếu vốn tạm thời là chuyện bình thờng, thông thờng ngời có vốn và ngời
cần vốn không biết nhau, không cùng thời gian và không có điều kiện gặp nhau.
Chính vì vậy việc phân phối lại vốn tín dụng của Ngân hàng đã góp phần cung
ứng vốn và tạo điều kiện cho quá trình sản xuất đợc tiến hành một cách đều đặn
và phát triển, ngoài ra tín dụng còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu t nó là động
lực kích thích tiết kiệm nói chung và tiết kiệm vốn nói riêng, đồng thời là phơng
tiến đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu t phát triển.
Mặt khác trong nền kinh tế hàng hoá, tín dụng là một trong những nguồn
hình thành vốn cố định và nhất là vốn lu động trong các doanh nghiệp.
Vì vậy tín dụng góp phần đa vật t hàng hoá vào sản xuất tạo ra nhứng
hàng hoá mới thúc đẩy ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ vào quá trình sản
xuất xã hội. Đồng thời tín dụng Ngân hàng còn góp phần sắp xếp và tổ chức lại
sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý và góp phần giải quyết các vấn đề xã
hội.
b. Tín dụng Ngân hàng là đòn bẩy thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Tín dụng Ngân hàng đáp ứng về cơ bản nhu cầu vốn cho các doanh
nghiệp tiến hành tái sản xuất và mở rộng sản xuất. Khi mà các doanh nghiệp đó
muốn tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trờng, muốn vậy phải đổi mới
công nghệ, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại, tìm kiếm môi tr-

5
ờng kinh doanh mới, đồng thời quan hệ tín dụng ngữa Ngân hàng với các doanh
nghiệp có sự ràng buộc trách nhiệm vay trả, do đó buộc các doanh nghiệp phải
quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn của mình sao cho vừa làm ăn có lãi vừa có
khả năng hoàn trả vốn và lãi cho Ngân hàng. Hay nói cách khác Ngân hàng đã
thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
c. Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy các ngành kinh tế chiến lợc mũi nhọn.
Một trong các hoạt động quan trọng của Ngân hàng là tập trung huy
động mọi nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi cha sử dụng nằm ngoài quá trình

lu thông tiền tệ, giá cả.
Nh vậy, tín dụng không chỉ là đòn bẩy kinh tế mà còn là công cụ để Nhà
nớc điều tiết sản xuất, điều chỉnh chiến lợc kinh tế, phân công lao động xã hội.
e. Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế với nớc
ngoài, là cầu nối cho việc giao lu kinh tế và là phơng tiện thắt chặt mối quan
hệ kinh tế với các nớc trên thế giới.
Mỗi một quốc gia muốn có một nền kinh tế phát triển thì phải quan hệ
với nền kinh tế thế giới. Nền kinh tế đóng trớc kia bây giờ đã nhờng chỗ cho
nền kinh tế mở phát triển. Một quốc gia đợc gọi là phát triển thì trớc hết phải có
nền kinh tế chính trị ổn định, có vị thế trên thị trờng Quốc tế. Tín dụng Ngân
hàng trở thành một trong những phơng tiện nối liền kinh tế các nớc với nhau,
bằng các hoạt động tín dụng Quốc tế nh các hoạt động tín dụng giữa các Chính
phủ, giữa các tổ chức, cá nhân. Sự phát triển ngày càng cao trong hoạt động
kinh tế ngoại thơng và một số thành viên tham dự hoạt động ngày càng lớn, làm
cho nhu cầu về hoạt động tài chính càng trở nên cấp thiết. Vì vậy, việc tạo điều
kiện thuận lợi về tài chính là một công cụ cạnh tranh có hiệu quả bên cạnh các
yếu tố cạnh tranh khác nh giá cả, chất lợng sản phẩm, dịch vụ thơng mại. Hoạt
động thơng mại ngày càng phát triển thì các hình thức thanh toán trải qua Ngân
hàng ngày càng đa dạng. Quản lý kinh tế đối ngoại hoạt động tín dụng thuận lợi
bao nhiêu thì mối quan hệ thơng mại càng đợc mở rộng.
Thứ hai: là nói đến vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với bản thân Ngân
hàng.
Tín dụng là hoạt động chủ yếu của Ngân hàng. Vì nh chúng ta biết bản
chất của tín dụng Ngân hàng là đi vay để cho vay, một mặt đáp ứng đủ nhu cầu

7
vốn cho nền sản xuất xã hội, mặt khác đây là nghiệp vụ thu lợi nhuận lớn nhất
cho Ngân hàng. Kết quả kinh doanh Ngân hàng tốt hay xấu phụ thuộc vào kết
quả hoạt động tín dụng Ngân hàng. Do vậy khi tiến hành cấp tín dụng cho
khách hàng cần phải cân nhắc kỹ lỡng từ giai đoạn xét duyệt cho vay đến giai

tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng:
Tổ chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng đợc sử dụng số vốn vay
trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút
tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức
tín dụng. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và
khách hàng phải tuân theo các qui định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nớc
Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng
thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vợt số tiền có trên tài
khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các qui định của Chính phủ và
Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung
ứng dịch vụ thanh toán.
- Các phơng thức cho vay khác mà pháp luật không cấm, phù hợp với qui
định tại quy chế này và điều kiện hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng và
đặc điểm của khách hàng vay. Tuỳ vào đặc điểm của mỗi khách hàng vay vốn
và tuỳ vào khả năng đáp ứng nhu cầu của Ngân hàng mà mỗi khách hàng và
Ngân hàng lực chọn một phơng thức cho vay. Nhng hiện nay các Ngân hàng áp
dụng phổ biến nhất vẫn là hai phơng thức cho vay đó là cho vay từng lần và cho
vay theo hạn mức tín dụng. Sau đây em xin đi sâu vào hai phơng thức cho vay
này.
1.1.3.1. Phơng thức cho vay từng lần.
Cho vay từng lần là hình thức cho vay mà mỗi lần vay vốn, khách hàng
và tổ chức tín dụng làm thủ tục vay vốn cần thiết và ký hợp đồng tín dụng.
Đối tợng áp dụng cho phơng thức cho vay từng lần là:
- áp dụng đối với khách hàng không có nhu cầu vay thờng xuyên.

9
- áp dụng đối với khách hàng có vòng quay vốn lu động thấp hoặc ít tín
nhiệm với Ngân hàng.

nguồn vốn của Ngân hàng. Sau khi thoả thuận xong về thời hạn cho vay thì cán
bộ tín dụng ghi vào hợp đồng tín dụng vay tiền. Hầu hết các món vay đều đợc
Ngân hàng phân kỳ hạn nợ và quyết định mức trả nợ mỗi lần. Tuy nhiên đối với
các món vay mà khách hàng không có thu nhập thờng xuyên hoặc thời hạn vay
của khách hàng quá ngắn thì Ngân hàng không phân kỳ hạn nợ mà ghi trên hợp
đồng là thời hạn trả nợ cuối cùng.
Trong suốt quá trình khách hàng sử dụng vốn vay Ngân hàng phải kiểm
tra thờng xuyên xem khách hàng sử dụng đúng mục đích không. Thông thờng
trớc ngày đến hạn trả lãi cũng nh trả gốc, cán bộ Ngân hàng phải lập và gửi
thông báo về khoản nợ đến hạn cho khách hàng biết và chuẩn bị trả tiền. Khách
hàng có thể trả trực tiếp bằng tiền mặt cho Ngân hàng hoặc là lập uỷ nhiệm chi
đề nghị Ngân hàng trích tài khoản tiền gửi thanh toán của họ để thu nợ. Còn nếu
khách hàng không trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ tự động trích tiền từ
tài khoản tiền gửi của khách hàng để thu nợ. Số tiền khách hàng không trả cho
Ngân hàng sẽ tự động trích tiền từ tài khoản tiền gửi của khách hàng để thu nợ.
Số tiền khách hàng không trả cho Ngân hàng thì tuỳ vào từng thời hạn nợ và tuỳ
vào từng nguyên nhân mà Ngân hàng có thể cho gia hạn nợ hoặc là chuyển sang
nợ quá hạn. Vì những lý do khách quan muốn gia hạn nợ cũng phải làm đơn xin
gia hạn nợ trớc khi khoản muốn vay đến hạn.
Phơng thức cho vay từng lần hiện đang đợc các Ngân hàng thơng mại ở
Việt Nam áp dụng rộng rãi nhng không phải vì thế mà nó không có nhợc điểm
bên cạnh u điểm.

11
+ Nhợc điểm:
- Thủ tục rờm rà, phức tạp, gây khó khăn cho ngời vay.
- Có những doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn thờng xuyên hoặc tuỳ
thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp có nhu cầu vốn
trong khi đó phơng thức này không đáp ứng đợc.
- Nếu đối tợng vay vốn có vòng quay nhanh từ doanh nghiệp sẽ sử dụng

Quý kế hoạch Doanh bình quân quý kế hoạch Tự có và tự huy động
Trong đó:
+ Nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh bình quân quý kế hoạch và nhu cầu
vốn cần thiết để phục vụ cho mọi nhu cầu trong sản xuất kinh doanh từ khâu vật
t hàng hoá nguyên vật liệu cho đến khâu tiêu thụ sản phẩm.
+ Vốn lu động tự có và tự huy động: Đó là vốn lu động do Ngân sách
cấp, vốn tự bổ sung, vốn liên doanh, các khoản tạm thời sử dụng nh các loại
quỹ, các khoản nộp nhng cha nộp, lãi cha phân phối, các khoản vay của cán bộ
công nhân viên
Sau khi nhận đợc các kế hoạch vay vốn do doanh nghiệp gửi đến Ngân
hàng, cán bộ tín dụng tiến hành thẩm định lại để xác định nhu cầu vốn vay đó sao
cho chính xác, hợp lý. Mặt khác Ngân hàng tự cân đối nguồn vốn của mình xem
xét nguồn vốn Ngân hàng có thể phân bổ cho doanh nghiệp là bao nhiêu. Trên cơ
sở nhu cầu vốn vay và khả năng nguồn vốn của Ngân hàng có thể đáp ứng thì
khách hàng cùng n hf thoả thuận với nhau về hạn mức tín dụng.
Sau khi xác định đợc hạn mức cho vay thì Ngân hàng và khách hàng xác
định thời hạn cho vay theo kế hoạch. Thời hạn cho vay theo hạn mức trung và
dài hạn là số ngày của một vòng luân chuyển vốn vay. Thời hạn cho vay đợc
xác định theo công thức sau:
T
CV
=
90
Số vòng quay vốn vay
Trong đó:
Thời hạn cho vay là T
CV
Số vòng quay vốn vay T
CV


hàng sẽ chuyển thẳng số tiền cho vay cho đơn vị thụ hởng.
Thu nợ thì khác với phơng thức cho vay từng lần, phơng thức này yêu
cầu khi nào doanh nghiệp có thu nhập thì toàn bộ số tiền thu bán hàng và các
khoản thu khác thuộc vốn lu động, doanh nghiệp thông thờng phải nộp trực tiếp
vào tài khoản cho vay theo hạn mức tín dụng để trả nợ vào hàng ngày trong quý.
Nhng u và nhợc điểm của phơng thức này.
+ Ưu điểm:

14
- Thủ tục cho vay đơn giản, đáp ứng nhanh chóng, kịp thời các nhu cầu
về vốn vay cho khách hàng, đồng thời có thể vay gộp chung nhiều đối tợng. Vì
thế, phơng thức cho vay này rất thuận lợi cho khách hàng có nhu cầu vốn thờng
xuyên.
- Phơng thức này tiết kiệm vốn tối đa cho ngời vay vì khi mua nguyên vật
liệu hàng hoá thì ngời vay, khi bán đợc hàng hoá thì ghi thẳng vào bên có để trả nợ
không phải vừa vay vừa đọng tiền gửi nh cho vay từng lần.
- Ngân hàng dễ nắm tình hình đơn vị vay vì doanh số cho vay thể hiện
doanh số mua vào, doanh số thu nợ thể hiện doanh số bán ra. Từ đó biết đợc
hoạt động kinh doanh và khả năng tài chính của khách hàng.
+ Nhợc điểm:
- Do Ngân hàng và khách hàng cùng thoả thuận hạn mức tín dụng duy trì
trong thời hạn nhất định nên Ngân hàng luôn phải duy trì một số vốn nhất định để
sẵn sàng giải ngân cho ngời vay làm cho Ngân hàng bị ứ đọng vốn sử dụng.
- Về phía khách hàng cũng không muốn Ngân hàng quản lý các khoản
thu nhập của mình. Đặc biệt trong trờng hợp khách hàng dùng hai tài khoản:
Tài khoản cho vay theo hạn mức và tài khoản tiền gửi thanh toán mà trả nợ theo
phơng pháp trực tiếp. Nếu khách hàng có nhu cầu sử dụng một phần thu nhập
vào mục đích tạm thời, khách hàng phải thoả thuận với Ngân hàng lúc này lại r-
ờm rà phức tạp. Điều này không những gây khó khăn cho khách hàng mà còn
gây phiền hà cho Ngân hàng.

chức thực hiện theo những định hớng đã định. Từ đó xuất hiện nhu cầu tất yếu
phải thực hiện chức năng quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh. Và để tiến
hành hoạt động quản lý cần phải có thông tin, trong đó quan sát, đo lờng, thanh
toán và ghi chép các hoạt động là một phơng pháp đó chính là hạch toán kế
toán. Vậy có thể nói: Hạch toán kế toán là việc quan sát, đo lờng, tính toán,
ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Nhằm thực hiện chức năng phản ánh
và giám sát các hoạt động kinh tế. Nh vậy có thể kết luận rằng sự ra đời của
hạch toán nói chung và hạch toán kế toán nói riêng là một tất yếu khách quan,
do nhu cầu của sản xuất và quản lý đòi hỏi.
Nh chúng ta đã biết, kế toán Ngân hàng là khoa học và cũng là nghệ
thuật ghi chép, phân loại, tổng hợp và giải thích các nghiệp vụ tác động đến tình

16
hình tài chính của các Ngân hàng bằng thớc đo tiền tệ, nhằm cung cấp thông tin
về tình hình và kết quả hoạt động của Ngân hàng, làm cơ sở cho việc ra quyết
định kinh tế liên quan đến mục tiêu quản lý kinh doanh và đánh giá hoạt động
của Ngân hàng. Thông thờng, kế toán đợc xác định theo đối tợng phục vụ chủ
yếu của nó là:
+ Các quản trị viên của Ngân hàng: Các quản trị viên của Ngân hàng sử
dụng thông tin tài chính do kế toán cung cấp nhằm mục tiêu chủ yếu là giúp
cho việc hình thành các quyết định bên trong Ngân hàng, do đó những thông tin
này mang tính chất nội bộ, và vì vậy các báo cáo của kế toán có thể không cần
phải tuân thủ hoàn toàn các nguyên tắc kế toán đã đợc thừa nhận.
+ Các nhà đầu t, cơ quan tài chính, cơ quan luật pháp, thị trờng chứng
khoán và một số chủ thể khác bên ngoài Ngân hàng.
Trong nền sản xuất xã hội, Ngân hàng cũng đợc xác định là ngành kinh
tế tổng hợp và bảo quản một lợng tài sản rất lớn của bản thân Ngân hàng cũng
nh toàn xã hội gửi tại Ngân hàng. Để quản lý tốt khối lợng tài sản này ngành
Ngân hàng dùng công cụ kế toán để ghi chép, phản ánh toàn bộ số tài sản trong
quá trình hoạt động theo chức năng nhiệm vụ của mình.

động, tiền vốn, thu nhập, chi phí, lợi nhuận Từ đó các đơn vị có đầy đủ thông
tin để đề ra các quyết định điều hành kịp thời, góp phần nâng cao chất lợng,
hiệu quả sản xuất kinh doanh. Mặt khác các cơ quan quản lý Nhà nớc trong lĩnh
vực tài chính. Do khả năng phản ánh một cách tổng hợp nên kế toán Ngân hàng
đã giúp Đảng và Nhà nớc nắm đợc tình hình hoạt động của nền kinh tế, từ đó
đề ra đợc phơng hớng phát triển kinh tế một cách sát thực và đúng đắn.
+ Bảo vệ an toàn tài sản.
Ngoài việc bảo vệ an toàn tài sản cho bản thân Ngân hàng thì Ngân hàng
còn phải bảo vệ tài sản của khách hàng gửi tại Ngân hàng. Do đó kế toán Ngân
hàng phải ghi chép, kiểm soát một cách chặt chẽ mọi loại tài sản để tránh mất
mát về mặt số lợng và nâng cao hiệu quả của mọi tài sản về mặt sử dụng. Mặt
khác kế toán Ngân hàng có một số chứng từ rất lớn, rất đa rạng đáp ứng nhu cầu
của các mối quan hệ trong nền kinh tế thị trờng. Để làm đợc điều này. Phải tổ
chức quy trình luân chuyển chứng từ sao cho có khoa học, có nh vậy thì mới

18
đảm bảo an toàn tài sản cho Ngân hàng và khách hàng để phát huy vai trò của
mình, kế toán Ngân hàng có các nhiệm vụ sau:
+ Ghi chép, phản ánh đầy đủ, chính xác, kịp thời mọi nghiệp vụ kinh tế
phát sinh thuộc về hoạt động nguồn vốn và sử dụng vốn Ngân hàng theo đúng
pháp lệnh kế toán thống kê của Nhà nớc. Và theo thể lệ của kế toán hiện hành,
trên cơ sở đó để đảm bảo an toàn tài sản (vốn) của bản thân Ngân hàng và của
khách hàng, của xã hội đợc bảo quản tại Ngân hàng.
1.2.1.2. Vai trò nhiệm vụ của kế toán cho vay.
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó Ngân hàng giao cho khh
một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận
với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Và có thể nói đây là nghiệp vụ cung
ứng khối lợng vốn lớn cho nền kinh tế để đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất
kinh doanh, tăng trởng kinh tế, mặt khác là nghiệp vụ sinh lời lớn nhất của các
Ngân hàng thơng mại.

cơ chế tín dụng hiện nay, cụ thể là Ngân hàng là cơ quan chuyên môn đợc giao
nhiệm vụ tổ chức thực hiện triển khai áp dụng khung lãi suất mà Ngân hàng
Nhà nớc đa ra tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế chủ động về vốn
phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Việc thực hiện tốt công tác tín dụng
để tín dụng thực sự trở thành đòn bẩy kinh tế cũng nh giám đốc bằng tiền với
toàn bộ hoạt động tín dụng Ngân hàng trong nền kinh tế quốc dân.
+ Kế toán cho vay tạo điều kiện cho các đơn vị, tổ chức kinh tế nhận và
hoàn trả vốn nhanh chóng, kịp thời, chính xác trên cơ sở đó để phát triển sản
xuất kinh doanh. Và mở rộng lu thông hàng hoá.
+ Kế toán cho vay phản ánh tình hình đầu t vốn vào các ngành kinh tế
quốc doanh, các thành phần kinh tế. Thông qua kế toán cho vay có thể biết đợc
phân vị phơng hớng đầu t, hiệu quả đầu t của Ngân hàng vào các thành phần
kinh tế đó.
+ Kế toán cho vay theo dõi hiệu quả sử dụng vốn vay của từng đơn vị,
khách hàng, qua đó tăng cờng khuyến khích hoặc hạn chế cho vay.

20
Để phát huy tốt các vai trò trên của mình, ngoài việc phải thực hiện các
nhiệm vụ của kế toán Ngân hàng nói chung, kế toán cho vay còn phải thực hiện
tốt các nhiệm vụ sau:
+ Kiểm soát chặt chẽ hồ sơ chứng từ cho vay để đảm bảo đầy đủ tính
pháp lý của khoản vay, bảo đảm cho vay phù hợp với thể lệ chế độ tín dụng
nhằm bảo đảm an toàn tài sản vốn cho vay, bảo đảm khả năng thu hồi đầy đủ cả
vốn lẫn lãi. Đây là một nhiệm vụ quan trọng của kế toán Ngân hàng. Ví dụ:
Ngân hàng không kiểm soát chứng từ cho vay chặt chẽ, giá trị tài sản của khách
hàng thấp nhng cho vay cao vợt quá giá trị tài sản của khách hàng sẽ dẫn đến
rủi ro lớn.
+ Phản ánh kịp thời đầy đủ chính xác mọi nghiệp vụ cho vay, thu nợ đối
với từng đơn vị khách hàng. Quản lý hồ sơ cho vay, theo dõi chặt chẽ kỳ hạn nợ
để thu hồi nợ kịp thời khi nơn đến kỳ hạn thu, hạch toán thu nợ, chuyển nợ quá

tử thay thế mà vẫn phải dùng chứng từ giấy.
Chứng từ kế toán cho vay chia làm hai loại đó là chứng từ gốc và chứng
từ ghi sổ.
+ Chứng từ gốc: là chứng từ có giá trị ly trong quan hệ tín dụng xác định
quyền và nghĩa vụ của hai bên đi vay và cho vay. Chứng từ gốc bao gồm:
- Giấy đề nghị vay vốn
- Hợp đồng tín dụng
- Biên bản phản ánh tài sản thế chấp, cầm cố, phản ánh tình hình sản xuất
kinh doanh
- Một số loại giấy tờ khác theo quy chế cho vay.
+ Chứng từ ghi sổ: là chứng từ làm thủ tục kế toán, là căn cứ đợc lập trên
cơ sở chứng từ gốc. Chứng từ ghi sổ gồm:
- Nếu cho vay bằng tiền mặt: Dùng giấy xin lĩnh tiền mặt.
- Nếu cho vay bằng chuyển khoản (tiền vay chuyển thẳng vào tài khoản
của ngời cung cấp) thì dùng các chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt nh uỷ
nhiệm chi, thẻ thanh toán.
- Trờng hợp Ngân hàng chủ động trích tài khoản tiền gửi của ngời vay để
thu nợ, thu lãi thì dùng phiếu chuyển khoản và bảng kê tính lãi hàng tháng. Cần
lu ý rằng, đối với phơng thức tín dụng theo hạn mức tín dụng, khi cho vay

22
không phải khế ớc vay tiền mà chỉ phải ký kết hợp đồng tín dụng thì tính chất
pháp lý của khoản cho vay thể hiện ngay trên các chứng từ phát tiền vay nh séc
lĩnh tiền mặ, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu cũng nh hàng tháng tiến hành đối
chiếu xác nhận nợ theo số d các tài khoản cho vay theo hạn mức tín dụng trên
cơ sở hạch toán chi tiết.
1.2.2.2. Tài khoản sử dụng.
Tài khoản phản ánh nghiệp vụ cho vay thuộc tài sản có của Ngân hàng,
nó dùng để ghi chép, phả ánh toàn bộ số tiền cho vay của Ngân hàng đối với ng-
ời đi vay, đồng thời cũng ghi chép, phản ánh số tiền ngời vay trả nợ Ngân hàng

Bên có: - Số tiền thu nợ quá hạn.
- Số tiền chuyển sang tài khoản nợ quá hạn cao hơn.
D nợ: Phản ánh số d nợ quá hạn cha trả.
+ Nhóm tài khoản lãi cộng dồn dự thu: 217.
Kết cấu của tài khoản:
Bên nợ: - Phản ánh số tiền lãi cộng dồn dự thu.
Bên có: - Phản ánh số tiền lãi mà Ngân hàng thu đợc.
- Số tiền lãi đến kỳ mà Ngân hàng không thu đợc phải chuyển
sang tài khoản lãi cha thu đợc.
D nợ: Phản ánh số lãi mà NHTM còn phải thu nhng cha thu đợc.
Tài khoản này mở chi tiết theo từng khách hàng vay. Cũng nh hạch toán
tài khoản lãi cộng dồn dự trả thì ngời ta căn cứ vào bảng tính lãi hàng tháng để
hạch toán mà không quan tâm đến việc có thu đợc hay không.
+ Tài khoản dự phòng phải thu khó đòi (219).
Tài khoản này dùng để phản ánh việc lập dự phòng và xử lý quỹ dự
phòng khi có rủi ro vào cuối niên độ kế toán khoản dự phòng này đợc hạch toán
từ chi phí theo qui định của Ngân hàng Nhà nớc.
Kết cấu tài khoản:
Bên có: - Phả ánh số tiền trích lập dự phòng theo qui định.
Bên nợ: - Phản ánh các khoản nợ phải thu khó đòi, không thu đợc phải xử
lý xoá nợ.

24
- Kết chuyển số chênh lệch về dự phòng phải thu khó đòi đã lập
không sử dụng còn lại ở cuối niên độ kế toán.
D có: - Phản ánh số dự phòng phải thu khó đòi còn lại ở cuối kỳ.
Hạch toán chi tiết: Mở một tài khoản chi tiết duy nhất. Theo qui định số
488 NHNN ban hành 08/02/1999 về phân loại tài sản có để trích lập dự phòng
rủi ro.
- Nhóm tỷ lệ trích 0%:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status