Nhóm 8- Lớp Thị trường chứng khoán 7
Đề tài :
Phân tích cổ phiếu
ngành ngân hàng
Nhóm thực hiện: Nhóm 8- Lớp Tài chính doanh nghiệp A- K49.
Nhóm trưởng: Đỗ Thị Loan
Các thành viên: Bùi Thị Tú Anh
Lương Mai Chi
Nguyễn Thị Đoan
Trần Thanh Hoàng
Phạm Thị Hồng
Trần Thị Thu Nga
Nguyễn Văn Phượng
Nguyễn Thị Thêm
Phạm Thị Hoài Thương
Nguyễn Minh Trí
Nguyễn Đắc Trọng.
1
Nhóm 8- Lớp Thị trường chứng khoán 7
MỤC LỤC
MỤC LỤC................................................................................................................................2
Phần A.Tổng quan về ngành ngân hàng Việt Nam.
1.Quá trình hình thành và phát triển.
Ngành ngân hàng Việt Nam đã có một quá trình phát triển tuy không phải là dài
so với các nước trên thế giới nhưng đã có nhiều sự thay đổi. Nhìn toàn cảnh sự phát
triển của ngành ngân hàng Việt Nam có những nét chính sau:
Trước năm 1990, Hệ thống ngân hàng Việt Nam là hệ thống 1 cấp có nghĩa là
không có sự tách bạch giữa chức năng quản lý và chức năng kinh doanh, ngân hàng
Nhà nước đồng thời cũng là ngân hàng thương mại và ngược lại. Đây là kết quả của
một nền kinh tế tập trung, bao cấp, trong đó cấp phát vốn là nhiệm vụ cơ bản của hệ
Tuy nhiên sự trỗi dậy của khối ngân hàng thương mại cổ phần và trong tương lai là
khối ngân hàng 100% vốn nước ngoài đã và đang đe dọa vai trò này. Ngành ngân
hàng đã và đang có những đóng góp hết sức to lớn cho sự phát triển của nền kinh tế
quốc dân và bản thân kinh doanh ngân hàng đã và đang đem lại những khoản lợi
nhuận khổng lồ cho các ông chủ ngân hàng, nhưng để đánh giá được đấy đủ thực
trạng và triển vọng kinh doanh của ngành ngân hàng Việt Nam, cần thiết phải đánh
giá tổng thể và dựa trên số liệu đáng tin cậy.
2.Số lượng ngân hàng giai đoạn năm 1991-2008.
Trong lịch sử nền kinh tế thương mại qua các năm, ngành ngân hàng đã có sự
thay đổi nhanh chóng cả về số lượng và quy mô. Số lượng ngân hàng tăng từ 9 ngân
hàng trong năm 1991 lên 80 ngân hàng năm 2007, và 81 năm 2008. Số lượng ngân
hàng tăng thêm chủ yếu tập trung vào 2 khối ngân hàng thương mại cổ phần và chi
nhánh ngân hàng nước ngoài cho thấy sức hấp dẫn cuả ngành ngân hàng Việt Nam
đối với các nhà đầu tư trong nước cũng như các tổ chức tài chính quốc tế.
Năm 1991 1993 1995 1997 1999 2001 2005 2006 2007 2008
NHTMLD 1 3 4 4 4 4 4 5 5 6
NHTMQD 4 4 4 5 5 5 5 5 4 5
CNNHTMNN 0 8 18 24 26 26 29 31 35 44
NHTMCP 4 41 48 51 48 39 37 34 35 36
Năm 2008, trên thị trường NHTM Việt Nam có 6 ngân hàng thương mại liên
doanh, 5 ngân hàng thương mại quốc doanh, 44 chi nhánh ngân hàng thương mại
nước ngoài và 36 ngân hàng thương mại cổ phần. Chúng ta có thể thấy số lượng
ngân hàng TMCP ở Việt Nam trong giai đoạn năm 1991-1993, từ con số 4 NH lên
đến 41 NH, các năm sau đó số lượng các ngân hàng TMCP tiếp tục tăng lên và đạt
đến đỉnh điểm là 51 vào năm 1997...Sau đó 1 số ngân hàng NHTMCP do hoạt động
không hiệu quả và bị phá sản, bị mua lại, dẫn đến số lượng các ngân hàng TMCP
giảm xuống và đến năm 2008 số NHTMCP là 36. Và năm 2009 là 39. Các chi
nhánh NHTM nước ngoài thì có số lượng ngày càng tăng lên cùng với sự mở cửa và
tích cực nhất hiện nay. HSBC đã được Ngân hàng Nhà nước chính thức cho phép
thành lập ngân hàng con 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Việc thành lập ngân
hàng con cho phép HSBC mở rộng mạng lưới phân phối rộng hơn, tới các khách
hàng hiện tại cũng như khách hàng mới. HSBC trở thành ngân hàng nước ngoài đầu
tiên tại Việt Nam sở hữu 20% cổ phần tại một ngân hàng trong nước sau khi nâng
cổ phần sở hữu tại Techcombank từ 14,4% lên 20%. Điều này cho phép HSBC mở
rộng sức ảnh hưởng và gia tăng tầm hoạt động của mình. Sức ép cạnh tranh ngày
càng gia tăng đối với các ngân hàng nội.
Cạnh tranh với ngân hàng trong nước: Điều này là hiển nhiên nhưng có xu thế
mới đó là việc hợp tác của các ngân hàng nội. Việc rõ ràng nhất là “liên minh
ATM”. (Vietcombank và Techcombank). Điều này làm gia tăng tầm hoạt động, khả
năng cạnh tranh, sức thu hút khách hàng hơn là những ngân hàng không nằm trong
liên minh.
2.Ngành ngân hàng 6 tháng đầu năm 2009
Bước sang năm 2009, nền kinh tế đã có những chuyển biến tích cực, hệ thống
ngân hàng Việt Nam đã dần đi vào hoạt động ổn định. Đặc biệt vừa qua gói kích
cầu của Chính phủ đã phát huy tác dụng đúng lúc, giúp hoạt động của ngành tài
chính khởi sắc hơn. Đến thời điểm này, nhiều ngân hàng thương mại thông báo đã
hoàn thành những kế hoạch kinh doanh chính của cả năm 2009.
4
Nhóm 8- Lớp Thị trường chứng khoán 7
a) Quy mô vốn điều lệ.
Năm 2008 và 2009 là khoảng thời gian mà rất nhiều ngân hàng tiến hành tăng
vốn điều lệ theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP về danh mục mức vốn pháp định
của các tổ chức tín dụng do Chính phủ ban hành, đối với ngân hàng TMCP, mức
vốn pháp định áp dụng cho đến cuối năm 2008 là 1.000 tỷ đồng và áp dụng cho đến
cuối năm 2010 là 3.000 tỷ đồng. Theo kế hoạch đề ra trong năm nay của nhiều ngân
hàng (NH) thì vốn điều lệ sẽ được điều chỉnh tăng lên ở mức khá cao so với năm
2007. Nhiều NH đặt kế hoạch tăng vốn lên hàng đầu, với tham vọng nâng cao tiềm
lực tài chính, mở rộng tín dụng.
(tỷ đồng)
13.790 7.766 7.638 2.267
Tổng Tài sản
(tỷ đồng)
221.950 105.306 67.469 14.381
5
Nhóm 8- Lớp Thị trường chứng khoán 7
Tổng huy động
(tỷ đồng)
196.507 75.113 58.635 n/a
Dư nợ cho vay
(tỷ đồng)
112.793 34.833 33.708 n/a
LNTT 2008
(
tỷ đồng)
3325 2561 1110 269
KH LNTT 2009
(tỷ đồng)
3320 2700 1600
Số điểm giao
dịch 271 n/a 247 n/a
CBCNV 9.212 n/a 6.016
n/a
Xét trên một số tiêu chí hoạt động như tổng tài sản, vốn chủ sở hữu, huy động, dư
nợ… thì Vietcombank có quy mô lớn hơn rất nhiều so với ACB và Sacombank.
Trong khi đó, đây lại là hai ngân hàng lớn nhất trong số các ngân hàng TMCP tư
nhân.
Tính đến 31/12/2008, tổng tài sản của VCB đạt 222 nghìn tỷ đồng, gấp đôi ACB
(105 nghìn tỷ) và gấp 3 lần STB (67 nghìn tỷ). Với tổng tài sản chỉ đạt hơn 14 nghìn