Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Triết học: Quá trình chuyển biến tư tưởng Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911-1930 - Pdf 86

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA TRIẾT HỌC
-----------------------

Ngơ Thị Tuyết Nhung

Q TRÌNH CHUYỂN BIẾN TƢ TƢỞNG NGUYỄN ÁI QUỐC
GIAI ĐOẠN 1911-1930

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: QH-2016-X

HÀ NỘI - 2020


TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN
KHOA TRIẾT HỌC
-----------------------

Ngơ Thị Tuyết Nhung

Q TRÌNH CHUYỂN BIẾN TƢ TƢỞNG NGUYỄN ÁI QUỐC
GIAI ĐOẠN 1911-1930

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH TRIẾT HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chắc chắn khóa luận sẽ khơng tránh
khỏi những hạn chế và thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự đóng
góp ý kiến của các thầy, cơ cùng tồn thể các bạn sinh viên để khóa luận
được hồn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 2020

Ngô Thị Tuyết Nhung


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................... 3
1.Lý do chọn đề tài ................................................................................ 3
2. Tình hình nghiên cứu ........................................................................ 4
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu: ...................................................... 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..................................................... 6
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ....................................... 6
6. Đóng góp của khóa luận.................................................................... 6
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn .............................................................. 6
8. Kết cấu khóa luận .............................................................................. 6
NỘI DUNG................................................................................................... 7
CHƢƠNG I: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ CHUYỂN BIẾN TƢ
TƢỞNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC GIAI ĐOẠN 1911-1930 ................ 7
1.1. Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội thế giới và Việt Nam đầu thế
kỷ XX ........................................................................................................ 7
1.1.1. Điều kiện kinh tế, chính trị thế giới đầu thế kỷ XX ..................... 7
1.1.2. Chuyển biến chính trị, kinh tế, xã hội Việt Nam ......................... 8
1.1.3. Khủng hoảng về đường lối cứu nước ở Việt Nam đầu thế kỷ XX10
1.2. Tiền đề cho sự ra đời và chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái
Quốc giai đoạn 1911-1930 ...................................................................... 11

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................. 61

2


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tư tưởng Nguyễn Ái Quốc là một hệ thống quan điểm toàn diện và
sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa, là kết quả của
sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ
thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại. Lịch
sử tư tưởng Nguyễn Ái Quốc đóng một vai trị quan trọng trong lịch sử tư
tưởng dân tộc nói chung và lịch sử tư tưởng nhân loại nói riêng. Do vậy,
nghiên cứu lịch sử tư tưởng Nguyễn Ái Quốc luôn là hướng nghiên cứu
quan trọng của khoa học xã hội nước ta, đáp ứng thực tiễn xây dựng và
phát triển đất nước.
Mặc dù đã có rất nhiều nghiên cứu về tư tưởng Nguyễn Ái Quốc, tuy
nhiên nghiên cứu về quá trình chuyển biến tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc
trong giai đoạn 1911 – 1930 ở nước ta vẫn cịn khá mới mẻ. Đây khơng chỉ
là đối tượng của triết học, mà còn là đối tượng nghiên cứu của các chuyên
ngành khoa học xã hội khác như chính trị học, sử học. Điều này đã tạo nên
tính cấp thiết và tính hấp dẫn của việc nghiên cứu. Quá trình chuyển biến tư
tưởng của Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911 – 1930 là sự phản ánh tồn tại xã
hội Việt Nam thời kỳ đó, đồng thời nó cũng là kết quả của logic phát triển
của lịch sử tư tưởng nước ta, là động lực phát triển cho lịch sử tư tưởng giai
đoạn tiếp theo.
Giai đoạn 1911 – 1930 là thời kỳ có sự chuyển biến rõ rệt trong tư
tưởng Nguyễn Ái Quốc về vấn đề dân tộc thuộc địa và cách mạng giải
phóng dân tộc. Nó thể hiện logic phát triển của lịch sử tư tưởng Nguyễn Ái

cô đọng cuộc đời hoạt động, sự nghiệp những cống hiến của Nguyễn Ái
Quốc đối với dân tộc, nhân loại, “Chiến sĩ quốc tế Nguyễn Ái Quốc – Hoạt
động thực tiễn và lý luận” của Phan Ngọc Liên.
4


Thứ hai, các tiểu luận tư tưởng Nguyễn Ái Quốc: tác phẩm “Sự hình
thành về cơ bản tư tưởng Nguyễn Ái Quốc” của Trần Văn Giàu đã phân
tích sâu nguồn gốc, cơ sở hình thành tư tưởng Nguyễn Ái Quốc, “Tư tưởng
Nguyễn Ái Quốc và con đường cách mạng Việt Nam” đề tài mang mã số
KX.02.01 thuộc chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX.02
giai đoạn 1991-1995. Công trình trình bày những vấn đề lý luận cơ bản tư
tưởng Nguyễn Ái Quốc về con đường cách mạng Việt Nam, làm rõ những
đóng góp về q trình hình thành, phát triển của tư tưởng Nguyễn Ái Quốc
và những luận điểm sáng tạo lớn của Nguyễn Ái Quốc về đường lối,
phương pháp, chiến lược, sách lược, tổ chức các lực lượng cách mạng, tư
tưởng quân sự, tư tưởng nhân văn, đạo đức, văn hóa Nguyễn Ái Quốc.
Trong “Nguyễn Ái Quốc nhà tư tưởng lỗi lạc”, tác giả Song Thành
tập trung làm rõ quan niệm và tiêu chí để xem xét một nhà tư tưởng, những
tiền đề lý luận và thực tiễn
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1. Mục đích của khóa luận
Khóa luận phân tích và làm rõ sự chuyển biến trong tư tưởng của
Nguyễn Ái Quốc giai đoạn 1911 – 1930, từ đó đưa ra nhận xét về giá trị ý
nghĩa đối với lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung và sự nghiệp cách mạng
Việt Nam nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích bối cảnh và những tiền đề hình thành tư tưởng Nguyễn Ái
Quốc giai đoạn 1911 – 1930
- Phân tích sự chuyển biến tư tưởng Nguyễn Ái Quốc trong giai đoạn

8. Kết cấu khóa luận
Ngồi các phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo,
phần Nội dung của bài nghiên cứu được kết cấu thành 2 chương, 6 tiết.
6


NỘI DUNG
CHƢƠNG I: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ CHUYỂN BIẾN TƢ
TƢỞNG CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC GIAI ĐOẠN 1911-1930
1.1. Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội thế giới và Việt Nam đầu thế kỷ
XX
1.1.1. Điều kiện kinh tế, chính trị thế giới đầu thế kỷ XX
Về kinh tế, cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản
chuyển từ giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền sang chủ nghĩa tư bản cạnh
tranh, đế quốc, tiêu biểu là Anh, Pháp, Đức, Mỹ. Từ giữa thế kỷ XIX đến
đầu thế kỷ XX, các nước phương tây đã tăng cường tiến hành các cuộc xâm
lược thuộc địa và “miếng bánh thế giới đã bị phân chia xong”. Sự xâm lược
thuộc địa của các nước tư bản đã làm nảy sinh mây thuẫn dân tộc giữa dân
tộc áp bức và dân tộc bị áp bức.
Bên cạnh đó, sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, văn hóa, tư tưởng
của các quốc gia phương Tây đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tuy nhiên,
cũng dẫn đến những tác động tiêu cực. Đồng thời, nó khơng thể biện hộ
cho bản chất bóc lột và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc.
Các quốc gia phương Đông trực tiếp chịu sự đe dọa và xâm lược của
các nước đế quốc phương Tây. Một số quốc gia chịu sự ảnh hưởng của mơ
hình nhà nước tập quyền chuyên chế của nền văn minh Trung Hoa như
Triết Tiên, Nhật bản, Việt Nam đã phát triển đến đỉnh cao với các hình thức
khác nhau và dần rơi vào bế tắc, khủng hoảng.
Ở các nước phương Đông, mô hình kinh tế dựa trên nền nơng nghiệp
lúa nước theo phương thức tổ chức sản xuất dựa trên sự kết hợp giữa đơn vị

nước thắng trận, Pháp ra sức khai thác thuộc địa, chủ yếu ở Đông Dương
và Châu Phi. Pháp chủ trương tiếp tục sử dụng giai cấp địa chủ và tay sai
người Việt vào cai trị. Các chính sách của Pháp nhằm lơi kéo một bộ phận
nhỏ trong giới thượng lưu người Việt Nam gồm một số nhà tư sản và địa
8


chủ lớn vì quyền lợi cá nhân đứng về phía Pháp để chống lại nhân dân ta,
làm cho tình hình chính trị và sự phân hóa trong xã hội ở Việt Nam càng
thêm gay gắt.
Nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thời phong kiến của Việt Nam dưới
sự tác động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa do Pháp áp đặt vào
dần chuyển sang nền kinh tế thuộc địa – tư bản chủ nghĩa, có sự phát triển
nhanh chóng và tạo ra một cơ cấu kinh tế mất cân đối dẫn đến sự phân hóa
khơng triệt để của cơ cấu giai cấp, tầng lớp trong xã hội.
Từ cuối thế kỷ XIX, xã hội Việt Nam xuất hiện một bộ phận tư sản,
quan cai trị người Pháp. Kết cấu xã hội Việt Nam theo tứ dân: sĩ, nông,
công, thương bị xóa bỏ, thay vào đó là sự phân chia giai cấp dựa vào quyền
lợi kinh tế và quan hệ dựa trên kiến trúc thượng tầng theo phương Tây,
gốm các giai cấp cơ bản: giai cấp địa chủ phong kiến, giai cấp nông dân,
giai cấp công nhân, giai cấp tư sản, tiểu tư sản.
Đầu thế kỷ XX, hệ thống giáo dục Việt Nam tồn tại ba hình thức
khác nhau tương ứng với Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ. Ở Nam Kỳ, chữ
Hán hầu như bãi bỏ, đa số các tổng xã đều có trường tiểu học Pháp –
Việt dạy chữ Pháp và chữ Quốc ngữ. Ở Bắc Kỳ và nhất là Trung Kỳ, các
trường lớp dạy chữ Hán vẫn tồn tại khắp nơi, trường dạy chữ Pháp và
chữ quốc ngữ rất ít. Do ba chế dộ giáo dục khác nhau khiến người Pháp
gặp khó khăn trong việc thống nhất chính sách cai trị nên Pháp đã thực
hiện các cuộc cải cách giáo dục. Năm 1906, cải cách giáo dục lần thứ
nhất do toàn quyền P.Beau khởi xướng và chỉ đạo, giáo dục Pháp – Việt

một bộ phận tiểu tư sản yêu nước, trí thức tiến bộ. Phan Bội Châu chủ
trương chống đế quốc, giành độc lập dân tộc mà trước mắt là mục tiêu
chống phong kiến. Ơng khởi xướng phong trào Đơng Du, chủ trương dựa
vào nhật, cầu viện Nhật để chống thực dân Pháp. Trái với Phan Bội Châu,
Phan Châu Trinh chủ trương chống đế quốc, giành tự do, dân chủ bằng
phương pháp ơn hịa, dựa vào Pháp để chống phong kiến. Các phong trào
duy tân do Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp khởi

10


xướng nhằm đổi mới chính trị và văn hóa đất nước để đi tới độc lập tự chủ.
Phong trào này chủ trương “ỷ Pháp, cầu tiến bộ”, dựa vào sự giúp đỡ của
đế quốc Pháp nhằm thực hiện “dân quyền”, “dân chủ” ở nước ta. Phương
pháp tiến hành cách mạng của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh lãnh đạo
đã phân hóa phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản ở Việt Nam
thành hai xu hướng: bạo động mang tính chất truyền thống và cải cách tư
sản mới mẻ. Trên cơ sở đó, nhiều phong trào cứu nước mang sắc thái, hình
thức hoạt động đa dạng nổ ra, tiêu biểu là phong trào Đông Kinh Nghĩa
Thục do Lương Văn Can và Nguyễn Quyền khởi xướng với mục tiêu
truyền bá nền văn hóa mới để thực hiện chủ nghĩa yêu nước mới. Tuy
nhiên các phong trào này đều lần lượt đi đến thất bại.
Có thể thấy, tuy các phong trào yêu nước có xu hướng tư sản đều bộc
lộ những hạn chế, sự bế tắc, không phát triển được và đi đến thất bại,
nhưng chúng đã góp phần cổ vũ, thức tỉnh tinh thần yêu nước trong nhân
dân, nhất là thanh niên, trí thức, học sinh.
Như vậy, đầu thế kỷ XX, Việt Nam đứng trước sự khủng hoảng trầm
trọng về đường lối cứu nước, các phong trào yêu nước đều thiếu giai cấp
tiên tiến lãnh đạo, tập hợp, thiếu lý luận tiên tiến dẫn đường. Do vậy, cần
một lý luận mới, một bộ phận lãnh đạo có thể giải quyết được các vấn đề

“Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”[8,321]
Nam quốc sơn hà được coi là Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân
tộc Việt Nam. Tư tưởng chủ đạo và xuyên suốt bài thơ là sự khẳng định
chủ quyền của dân tộc Việt Nam. So với giai đoạn trước, ở đây, khái niệm
dân tộc đã được phát triển hơn, dân tộc gắn liền với chủ quyền. Trong điều
12


kiện xã hội phong kiến phương Đông, chủ quyền của vua chính là chủ
quyền dân tộc. Bài thơ như một lời tuyên bố đanh thép, phản bác lại tư
tưởng sai trái của các triều đình phong kiến Trung Hoa chỉ coi Việt Nam là
một bộ phận, những quận, huyện của Trung Quốc và khẳng định chủ quyền
của dân tộc Việt Nam, nước Việt Nam tương đương và ngang hàng với
Trung Hoa.
Trong Hịch tướng sĩ, Trần Quốc Tuấn gắn quốc gia, dân tộc với sự
thống nhất về mặt lợi ích: thái ấp, bổng lộc, gia quyến, xã tắc. Ông đã cảnh
báo binh lính, nếu để mất nước thì “chẳng những thái ấp của ta khơng cịn
mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác, chẳng những gia quyến
của ta bị đuổi mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi, chẳng những xã
tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị
kẻ khác bới đào, chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau
tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu, mà gia thanh các ngươi cũng không
khỏi mang danh là tướng bại trận.”
Nửa đầu thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã đưa ra tư duy sâu hơn, phát
triển hơn về quốc gia, dân tộc Đại Việt trong Bình Ngơ đại cáo.
“Xét như nước Đại Việt ta,

thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa”
của V.I.Lênin “cái cần thiết cho chúng ta”, “con đường giải phóng chúng
ta”. Lý luận của V.I.Lênin là sự vận dụng sáng tạo lý luận của C.Mác và
Ph.Ăngghen vào điều kiện cụ thể và nâng lý luận ấy lên một tầm cao mới.
C.Mác đã nói tới phương thức tồn tại của con người với tư cách là
toàn bộ hoạt động cải tạo thế giới vật chất của con người, hoạt động sản
xuất của con người. Mác chỉ ra hình thức cộng đồng người đầu tiên trong
lịch sử lồi người là thị tộc(chỉ có khoảng vài trăm người có cùng huyết
thống), tiếp theo là bộ lạc (được hình thành từ nhiều thị tộc có quan hệ
14


huyết thống hoặc quan hệ hôn nhân liên kết), sau nữa là bộ tộc(liên kết
nhiều bộ lạc trên cùng một vùng lãnh thổ), cuối cùng là dân tộc(cộng đồng
dân cư được hình thành từ một bộ tộc hoặc từ sự liên kết nhiều bộ tộc trên
một vùng lãnh thổ).
C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh, rằng tác nhân cơ bản dẫn tới
việc chuyển từ hình thức cộng đồng người từ thị tộc sang dân tộc là tác
nhân kinh tế và dân tộc điển hình là dân tộc tư sản. Dân tộc này bao gồm
các giai cấp, tầng lớp khác nhau, trong đó tư sản và vơ sản đối lập nhau về
địa vị kinh tế, song lại có quan hệ chặt chẽ trong hệ thống kinh tế tư bản
chủ nghĩa.
C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra khi chủ nghĩa tư bản trở thành thống
trị, “nó buộc tất cả các dân tộc phải thực hành phương thức sản xuất tư sản,
nếu không sẽ bị tiêu diệt, nó buộc tất cả các dân tộc phải du nhập cái gọi là
văn minh, nghĩa là phải trở thành tư sản”[12,601]. Bằng sức mạnh của
mình, “nó đã bắt những dân tộc nông dân phải phụ thuộc vào những dân
tộc tư sản, bắt phương Đông phải phụ thuộc vào phương Tây”[12,602].
Qua sự phân tích của mình, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra sự thống trị
của giai cấp tư sản với dân tộc và với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã

minh trên phạm vi quốc tế “Vô sản tất cả các nước đồn kết lại”. Nó là tiền
đề đưa cách mạng vô sản đến thắng lợi trên phạm vi quốc tế để hồn thành
sứ mệnh lịch sử: giải phóng con người.
V.I.Lênin là người bảo vệ thành công, vận dụng sáng tạo và phát
triển chủ nghĩa Mác lên một tầm cao mới. Ơng cũng nói đến nhữngvấn đề
giải phóng: dân tộc, giai cấp, con người nhưng dựa trên những tiền đề có
tính lịch sử, thời đại, V.I.Lênin đã đưa ra cách nhìn nhận, đánh giá mới về
những vấn đề này.Thời đại mà V.I.Lênin sống là thời đại của chủ nghĩa đế
quốc –giai đoạn độc quyền của chủ nghĩa tư bản. Các đế quốc tranh giành
thuộc địa với mục đích phân chia lại thế giới. Theo V.I.Lênin các quốc gia
có một nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa phát triển đều tiến rất nhanh đến
việc xâm lược thuộc địa.

16


Vấn đề cách mạng giải phóng dân tộc để xây dựng quốc gia độc lập
của các nước thuộc địa và phụ thuộc cũng trở thành một trong những vấn
đề cấp bách của thời đại. Vấn đề dân tộc được V.I.Lênin nói tới trên khía
cạnh: dân tộc là quốc gia dân tộc. V.I.Lênin nhận định rằng trong khi thế
giới có sự phân chia thành dân tộc bị áp bức và dân tộc đi áp bức, thì phải
coi việc đảm bảo quyền dân tộc tự quyết và thành lập các quốc gia độc lập
là yêu cầu chính trị trung tâm trong vấn đề dân tộc –thuộc địa. Do vậy,
V.I.Lênin khẳng định sự bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc, đồng
thời đề cao vấn đề liên hiệp công nhân ở tất cả các dân tộc. Nhận thức rõ
cách mạng giải phóng dân tộc gắn liền và là bạn đồng minh của cách mạng
vơ sản, V.I.Lênin khẳng định: “Khơng có sự cố gắng tự nguyện tiến tới sự
liên minh và sự thống nhất của giai cấp vô sản, rồi sau nữa, của toàn thể
quần chúng cần lao thuộc tất cả các nước và các dân tộc trên tồn thế giới,
thì khơng thể chiến thắng hoàn toàn chủ nghĩa tư bản được”[38,206] và

cuộc đấu tranh của những người công nhân làm thuê hay những người vô
sản chống những người hữu sản hay giai cấp tư sản. Cuộc đấu tranh giai
cấp theo nghĩa này mở rộng ra chính là đấu tranh dân tộc, đấu tranh vì bình
đẳng thật sự giữa người và người, bởi hiện tại các nước chính quốc, bọn tư
sản chính là những người nắm trong tay đặc quyền, đặc lợi trong khi giai
cấp vô sản, nhân dân lao động ở các nước thuộc địa lại khơng có gì cả.
Trong quan niệm của V.I.Lênin, vấn đề dân tộc, vấn đề giai cấp có
quan hệ chặt chẽ với nhau,bởi cuộc cách mạng dân tộc nào cũng cần có
một giai cấp dân tộc lãnh đạo. Mặt khác, dân tộc trong quan niệm của
V.I.Lênin hồn tồn khơng phải chủ nghĩa dân tộc hẹp hịi, ơng đã giải
quyết vấn đề dân tộc trên cơ sở gắn nó với giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, từ
đó mở rộng phạm vi dân tộc nhỏ bé ở châu Âu thành vấn đề giải phóng,
độc lập cho các dân tộc trên thế giới. Vì vậy vậy, những luận điểm của
V.I.Lênin về vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con
người trở nên có ý nghĩa đối với tất cả các dân tộc bị áp bức.

18


Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa củaV.I.Lênin đã góp
phần tạo nên sự chuyển biến căn bản trong tư tưởng Nguyễn Ái Quốc,
hướng Nguyễn Ái Quốc đi theo con đường của cuộc Cách mạng Tháng
Mười Nga. Để sau đó diễn ra bước ngoặt cách mạng trong cuộc đời
Nguyễn Ái Quốc khi quyết định tham gia Đại hội Tua, bỏ phiếu cho Quốc
tế III, trở thành một trong những người cộng sản.
Nguyễn Ái Quốc đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác –Lênin vào
điều kiện cụ thể Việt Nam. Theo Nguyễn Ái Quốc, muốn cứu nước và giải
phóng dân tộc, khơng có con đường nào khác ngồi cách mạng vô sản. Dựa
trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Nguyễn Ái Quốc
nói chung và về vấn đề dân tộc thuộc địa, cách mạng giải phóng dân tộc

Nguyễn Tất Thành lựa chọn cách đi tìm đường cứu nước khác với
những con đường đương thời:
Thứ nhất, lựa chọn tàu buôn làm phương tiện để đi khắp thế giới, từ
đó quan sát xã hội, tích lũy kiến thức, giao kết bạn bè. Sau châu Âu,
Nguyễn Tất Thành tiếp tục làm công trên các tàu buôn, nhờ tàu buôn mà đi
gần khắp các hải cảng châu Âu, cận Đông, châu Phi, châu Mỹ,… Đi đến
đâu cũng quan sát xã hội và ghi chép những nỗi thống khổ của các dân tộc
bị áo bức, của giai cấp bị bóc lột, của người da màu bị khinh miệt và tàn
sát, đồng cảm sâu sắc với tâm tư kỳ vọng của những người nô lệ. Đồng
thời, kết bạn với những người yêu nước của các thuộc địa, những chiến sĩ
đấu tranh chống áp bức dân tộc và chống bóc lột giai cấp.
Thứ hai, Nguyễn Tất Thành lựa chọn hịa mình vào cuộc sống của
giai cấp cơng nhân và nhân dân lao động. Đa phần những người lao động
công nhân hay nơng dân đều muốn cho chính mình hay con cái thoát khỏi
kiếp làm lụng, tay chân, cố gắng học hành để làm quan hay trở thành thầy
đồ. Tuy nhiên Nguyễn Tất Thành thì khác. Từ một thầy giáo dạy chữ Nho
và chữ quốc ngữ trường Dục Thanh, Nguyễn Tất Thành trở thành thủy thủ

20


tàu buôn rồi tiếp tục làm nhiều nghề lao động tay chân khác, khi xúc tuyết,
khi bồi bếp, khi rửa ảnh, khi tô, vẽ đồ sứ. Nguyễn Tất Thành đã lựa chọn
đặt mình vào đội ngũ của giai cấp cơng nhân và nhân dân lao động, Điều
này đã giúp Nguyến Tất Thành hiểu rõ những vấn đề của phong trào giải
phóng dân tộc ở thuộc địa.
Thứ ba, vừa lao động chân tay để kiếm sống, vừa tích lũy khối lượng
kiến thức văn hóa phương Tây. Ngồi thời gian làm tàu, làm bếp,…Nguyễn
Tất Thành dành thời gian đi thư viện, đi bảo tàng, học tiếng Anh, tiếng
Pháp, đọc sách của Dickens, Shakespear, Anatole France,…viết kịch, viết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status