TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
----------
Chuyên đề
Đề tài:
Thực tiễn áp dụng chế định án treo đối với tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác tại địa phương thực tập trong
các năm gần đây- một số tồn tại và hướng khắc phục
1
MỤC LỤC
PHẦN 1...........................................................................................................................................5
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ÁN TREO...............................................................................5
Khái niệm án treo..........................................................................................................................5
PHẦN MỞ ĐẦU
2
Con người là chủ nhân của xã hội.Dưới chế độ xã hội, dưới chế độ XHCN con người
được bảo vệ,phát triển toàn diện cả về thể lực và trí lực,sức khoẻ là vốn quý của con người. Nó
là tiền đề cơ bản để con người vươn tới những mục đích cao cả khác. Quyền bất khả xâm phạm
về tính mạng ,sức khoẻ,thân thể con người đã được ghi nhận trong tuyên ngôn về nhân quyền
(1788) Đ71 Hiến Pháp 1992 của nước ta đã chỉ rõ “công dân có quyền bất khả xâm phạm về
thân thể,được pháp luật bảo hộ tính mạng,sức khoẻ,danh dự và nhân phẩm.”
Đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm,duy trì trật tự xã hội là nhiệm vụ quan trọng của nhà
nước ta.Quá trình này được thực hiện bằng nhiễu cách: giáo dục tư tưởng,tổ chức kinh tế xã hội
và bằng sự tác động của pháp luật trong đó có luật hình sự.Thông qua việc áp dụng hình
phạt,luật hình sự được coi là công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ lợi ích của nhà nước và của xã
hội.Tuy vậy việc truy cứu TNHS, kết tội, xử phạt và buộc người phạm tội chấp hành một phần
hay toàn bộ hình phạt không phải là biện pháp duy nhất thực hiện các nhiệm vụ của luật hình
sự. Trong một số trường hợp nhất định,mục đích giáo dục và cải tạo người phạm tội sẽ đạt hiệu
quả tốt hơn bằng biện pháp tác động hình sự khác. Xuất phát từ luật HS Việt Nam và mục đích
của hình phạt thể hiên nguyên tắc nhân đạo XHCN nhằm nâng cao hiệu quả của đấu tranh
riêng.
4
PHẦN 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ÁN TREO
Khái niệm án treo.
Bất kỳ tội phạm nào cũng có các dấu hiệu: tính nguy hiểm cho xã hội, các hành vi,tính có
lỗi,tính trái pháp luật HS gắn liền với tính chịu hình phạt. Một hành vi nguy hiểm cho xã hội
được coi là tội phạm đòi hỏi phải quy định những loại và mức hình phạt tương xứng xứng cho
hàng vi đó. Quan niệm về hình phạt gắn liền với quan niệm về tội phạm.Tội phạm càng nghiêm
trọng thì hình phạt càng nghiêm khắc.
Sự đa dạng về hành vi phạm tội thể hiện ở tính nguy hiểm cho xã hội của nó đặt ra yêu
cầu: một mặt phải đa dạng phong phú về loại và mức hình phạt. Mặt khác cần phải quy định
biện pháp tác động hình sự khác đối với người phạm tội. Những yêu cầu này là điều kiện quan
trọng bảo đảm cho việc thực hiện các nguyên tắc cá thể hoá TNHS ,cá thể hoá hình phạt,nhân
đạo XHCN và công bằng.Sự quy định trong luật là căn cứ pháp lý chặt chẽ cho việc áp dụng
pháp luật một cách thống nhất trong đấu tranh xử lý tội phạm đạt hiệu quả.
Một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hiệu quả đạt được của việc áp dụng hình
phạt đối với người phạm tội là sự hoàn trả cho XH con người đã trở nên vô hại,không còn nguy
cơ tái phạm. Vì vậy trong một số trường hợp nhất định có tác dụng cải tạo,giáo dục người bị
phạt tù tốt hơn nếu T.án áp dụng biện pháp tác động HS khác không cần bắt bị cáo phải thụ
hình. án treo là biện pháp tác động HS được hình thành ngay từ những ngày đầu mới thành lập
nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và nay được quy định tại Điều 60 BLHS nước Cộng Hoà
XHCN Việt Nam: “ Khi xử phạt tù không quá 3 năm,căn cứ vào nhân thân của người phạm tội
và các tình tiết giảm nhẹ.Nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì T.án cho
hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 1 đến 5 năm”.
Như vậy án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Căn cứ vào
nhân thân người bị kết án và những tình tiết giảm nhẹ T.án sẽ miễn cho người bị kết án không
phải chấp hành hình phạt tù nếu trong thời gian thử thách người đó không phạm tội mới.. Vì
vậy khi quyết định hình phạt T.án phải quy định thời gian phạt tù đúng với tính chất mức độ
phạm tội của bị cáo rồi mới cho hưởng án treo cứ không được nâng cao thời hạn tù án treo vì
thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:
a. Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người.
b. Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân.
c. Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người.
d. Đối với trẻ em ,phụ nữ đang có thai,người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có
khả năng tự vệ.
đ. Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng ,thầy giáo cô giáo của mình.
e. Có tổ chức.
g. Trong thời gian đang bị tạm giữ ,tạm giam ,hoặc đang bị áp dụng biện pháp đua vào
cơ sở giáo dục.
6
h. Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê.
i. Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm.
k. Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ
thương tật từ 31 % đến 60 % hoặc từ 11% đến 30 % nhưng thuộc một trong các trường hợp quy
định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 điều này ,thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.
3. Phạm tội gây thương tích,gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương
tật từ 61 % trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31 % đến 60 %, nhưng thuộc một trong các
trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 điều này. thì bị phạt tù từ 5
năm đến 15 năm.
4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác,thì bị
phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù trung thân.
3. Án treo khác với cải tạo không giam giữ.
Trong công tác xét xử các T.án cũng cần phải phân biệt những trường hợp phạt cải tạo không
giam giữ với những trường hợp phạt tù mà cho hưởng án treo. Vì:
+Phạt tù mà cho hưởng án treo được áp dụng đối với những trường hợp phạm tội “nặng hơn”
nhưnữg trường hợp được xử phạt bằng “cải tạo không giam giữ”
Hậu quả pháp lý của hai loại hình phạt cũng khác nhau
+Người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách và bị phạt tù thì phảI
pháp luật và trách nhiệm trong quần chúng nhân dân.
Thực tiễn xét xử của các toá án cho thấy việc áp dụng án treo phù hợp với yêu cầu quyết định
của pháp luật,đáp ứng được yêu cầu của đấu tranh phòng chống tội phạm là một nhân tố góp
phần nâng cao hiệu quả của hình phạt.
Với vai trò quan trọng của án treo như đã trình bày ở trên,việc quy định về chế định án
treo trong BLHS nước ta là sự cần thiết khách quan,phù hợp với xu thế chung của luật hình sự
nhiều nước trên thế giới và nó mang ý nghĩa thiết thực đối với công tác đấu tranh và phòng
ngừa tội phạm.
PHẦN 2: TÌNH HÌNH ĐẶC ĐIỂM VÀ BẢN CHẤT TỘI CỐ Ý
GÂY THƯƠNG TÍCH,GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHOẺ CỦA
NGƯỜI KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THIỆU HOÁ .
1. Thực tiễn tội cố ý gây thương tích, gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác tại
địa bàn huyện Thiệu Hoá:
8
Bảo vệ con người, bảo hộ quyền được sống khoẻ mạnh của con người là mục tiêu của
nhiều lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, trong đó công cụ sắc béncó tính cưỡng chế pháp lý cao
nhất là luật Hình Sự. Trong thời gian qua, luật Hình Sự đã góp phần to lớn vào việc bảo vệ
quyền con người, giữ vững trật tự kĩ cương xã hội. Tuy nhiên công tácđấu tranh phòng chống
các tội xâm phạm tính mạng sức khoẻ đặc biệt là tội cố ý gây thương tích gây tổn hại cho sức
khoẻ của con người trên phạm vi cả nước nói chung và trên phạm vi huyện Thiệu Hoá nói riêng
còn nhiều vấn đề đặt ra để nghiên cứu một cách nghiêm túc.
2.Phương pháp thu thập thông tin.
Trong khuôn khổ đề tài tốt nghiệp của trường, với thời gian nghiên cứu có hạn ,em đã
sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh dựa trên những kết quả khảo sát,
thu thập nghiên cứu tài liệu, các bản án về tội phạm hính sự nói chung ,tội cố ý gây thương tích
nói chung và qua những kiến thức đã trao đổi với cán bộ trong Viện Kiểm Sát nhân dân Huyện
Thiệu Hoá để tổng kết thực trạng công tác phòng ngừa tội cố ý gây thương tích. Từ đó đánh giá
ưu điểm ,hạn chế và đưa ra những giải pháp, kiến nghị mang ý nghĩa ứng dụng thiết thực góp
phần nâng cao chất lượng công tác . Dưới đây là những kiến thức em đã thu thập được trong
quá trình thực tập tại Viện Kiểm Sát Huyện Thiệu Hoá.