Hội thoại trong “Dế mèn phiêu lưu ký” - Pdf 86

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM GIÁP THỊ THUỶ HỘI THOẠI
TRONG “DẾ MÈN PHIÊU LƢU KÝ”

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Tạ Văn Thông


2.2. Nghiên cứu hội thoại trong các tác phẩm của Tô Hoài và
trong Dế Mèn phiêu lưu ký............................................................................. 4
3. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU .......................................... 6
3.1. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................... 6
3.2. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 6
4. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ......................................... 7
4. 1. Mục đích ........................................................................................ 7
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................... 7
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .......................................................... 8
6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN ............................................................. 8
6.1. Về lí luận ........................................................................................ 8
6.2. Về thực tiễn .................................................................................... 8
7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN .................................................................... 8
CHƢƠNG 1- CƠ SỞ LÍ THUYẾT ............................................................ 9
1.1. LÍ THUYẾT HỘI THOẠI TRONG NGỮ DỤNG HỌC ....................... 9
1.2. HỘI THOẠI VÀ VỊ TRÍ HỘI THOẠI TRONG VĂN HỌC TIỂU KẾT ....... 22
TIỂU KẾT .............................................................................................................. 25
CHƢƠNG 2- CẤU TRÚC HỘI THOẠI TRONG DMPLK ................... 26
2.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA CUỘC THOẠI TRONG DẾ MÈN PHIÊU LƢU KÝ ......... 26
2.1.1. Hình thức hội thoại trong các cuộc thoại ................................... 26 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
2.1.2. Các loại vai giao tiếp trong các cuộc thoại ............................... 29
2.1.3. Hoàn cảnh giao tiếp trong các cuộc thoại ................................. 32
2.1.4. Đích giao tiếp của các cuộc thoại ............................................ 33
2.1.5. Sự phù hợp với các nguyên tắc hội thoại ở các cuộc thoại ....... 35
2.1.6. Cấu trúc của các cuộc thoại ...................................................... 37

2.5.3. Liên kết hành vi ............................................................................ 81
TIỂU KẾT ............................................................................................. 83
CHƢƠNG 3 - SỰ THỂ HIỆN NHỮNG QUAN HỆ LIÊN CÁ
NHÂN - PHÉP LỊCH SỰ TRONG DẾ MÈN PHIÊU LƢU KÝ.............. 84
3.1. CÁC LOẠI QUAN HỆ LIÊN CÁ NHÂN TRONG DẾ MÈN
PHIÊU LƢU KÝ ........................................................................................... 84
3.2. SỰ THỂ HIỆN PHÉP LỊCH SỰ QUA NGÔN TỪ TRONG DẾ
MÈN PHIÊU LƢU KÝ ................................................................................. 85
3.2.1. Đặc điểm chung của các phương tiện ngôn ngữ thể hiện
phép lịch sự trong Dế Mèn phiêu lưu ký ....................................................... 85
3.2.2. Sự miêu tả các phương tiện cụ thể ............................................... 87
3.2.2.1. Rào đón.................................................................................. 87
3.2.2.2. Vuốt ve .................................................................................. 87
3.2.2.3. Dùng trợ từ ............................................................................ 90
3.2.2.4. Hành vi nói gián tiếp .............................................................. 92
3.2.2.5. Bày tỏ tình hình bi quan ......................................................... 94
3.2.2.6. Nêu lí do ............................................................................... 96
3.2.2.7. Dùng hô ngữ .......................................................................... 98
3.2.2.8. Dùng tình thái từ ................................................................... 99
3.2.2.9. Dùng từ ngữ xưng hô .......................................................... 101
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3.2.2.10. Xin lỗi, cảm ơn .................................................................. 105
3.2.2.11. Khích lệ đúng mức ............................................................. 106
3.2.2.12. An ủi động viên ................................................................. 107
3.2.2.13. Hứa hẹn ............................................................................. 107
3.2.2.14. Khen ngợi .......................................................................... 108
3.2.2.15. Xin phép và mời mọc ......................................................... 109
3.2.2.16. Dùng kính ngữ ................................................................... 111
TIỂU KẾT .......................................................................................... 112

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
 DMPLK (được viết từ năm 1941, với lần xuất bản thứ nhất mang tên là
“Con Dế Mèn") là một trong những tác phẩm đầu tay của Tô Hoài. Đây được
xem là tác phẩm đặc sắc, đã làm say mê độc giả nhiều thế hệ và được dịch ra
nhiều thứ tiếng. Truyện kể về cuộc phiêu lưu kì thú và đầy sóng gió của chàng
hiệp sĩ Dế Mèn trong thế giới loài vật, với ước mơ “xây dựng thế giới đại
đồng, muôn loài kết thành anh em”…
Góp phần làm nên sự thành công của tác phẩm, không thể không kể đến
sự quan sát và miêu tả tinh tường, cách sử dụng ngôn từ khéo léo và sáng tạo,
đặc biệt phải kể đến cách tạo nên những cuộc hội thoại rất đa dạng trong một
thế giới ồn ào, sinh động, nhiều vẻ...của các nhân vật - các loài vật được nhân
hoá, trong tác phẩm này.
 Ở Việt Nam, Ngữ dụng học đã không còn mới mẻ, đặc biệt khi vận
dụng xem xét sự sử dụng ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học (chẳng hạn
các tác phẩm của Vi Hồng, Nam Cao, Kim Lân, Nguyễn Huy Thiệp...). Tuy
nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu đấy đủ và sâu sắc về
hội thoại trong các tác phẩm của Tô Hoài, đặc biệt trong truyện DMPLK,
dưới cái nhìn của ngữ dụng học.
 Là một giáo viên trung học phổ thông, tác giả luận văn này luôn băn
khoăn trước những câu hỏi đặt ra trong các quá trình tìm hiểu và giảng dạy
văn học: Để hiểu được kĩ càng, có cơ sở hơn đối với một tác phẩm văn học,
chẳng hạn như đối với DMPLK của Tô Hoài, phải chăng có thể từ góc nhìn
ngôn ngữ học? Từ việc xem xét hội thoại trong một tác phẩm, chẳng hạn
trong DMPLK của Tô Hoài, có thể hiểu rõ thêm về tính cách nhân vật, về văn
hoá cộng đồng, về phong cách nghệ thuật nhà văn hay không?


tác giả đã đi vào giải quyết một số vấn đề như: tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
của lời thoại văn xuôi Vi Hồng để hiểu về phong cách nghệ thuật của nhà văn,
hiểu thêm về ngôn ngữ đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng, đồng bào miền núi
Việt Bắc nói chung, bước đầu tìm hiểu lí thuyết hội thoại từ góc nhìn văn hoá...
Ngoài những luận án, luận văn kể trên, còn có thể kể đến những bài viết về
mặt này hay mặt khác của hội thoại trong các tác phẩm văn chương như: Các
kiểu thoại dẫn trực tiếp, tự do trong truyện ngắn Nam Cao của Mai Thi Hảo Yến
(1998); Ngôn ngữ đối thoại trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng của Đinh Trí Dũng
(1999); Hiệu quả nghệ thuật của lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Tƣớng
về hƣu của Nguyến Huy Thiệp của Nguyễn Thị Hương (1999); Chất quê
kiểng trong lời thoại của bà cụ Tứ - truyện ngắn Vợ Nhặt của Kim Lân của
Lương Thị Bình (2002); Hành vi nhận xét đánh giá qua lời thoại nhân vật
của truyện ngắn Chu Lai của Cao Xuân Hải (2005); Từ hô gọi trong lời đối
thoại và độc thoại của nhân vật qua khảo sát truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
của Lê Thị Sao Chi (2005); Ngôn ngữ đối thoại nhân vật trong sáng tác của
Franzkafka của Đỗ Thị Thu Hằng (2007); Nghệ thuật tổ chức đối thoại trong
tác phẩm Vũ Trọng Phụng của Châu Minh Hùng (2007)...
(Nói về những nghiên cứu về hội thoại trong các tác phẩm văn học nói
chung, tất nhiên còn phải kể đến những nghiên cứu đối với hội thoại trong
những tác phẩm của Tô Hoài. Xin được trình bày về những nghiên cứu này ở
mục sau).
Như vậy, đã có không ít những công trình cũng như những bài viết
nghiên cứu về hội thoại trong các tác phẩm văn học, xem xét hội thoại ở rất
nhiều khía cạnh khác nhau. Nhưng, hầu như chưa có công trình nào đi vào
nghiên cứu cụ thể, chi tiết đặc điểm của cuộc thoại và các đơn vị nó bao hàm

Không gian, thời gian, cái nhìn nghệ thuật trong tập truyện Tây Bắc của Tô Hoài
của Mai Thị Dung, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên (2005); Tính dân tộc
trong sáng tác của Tô Hoài trƣớc Cách mạng Tháng Tám của Nguyễn Thị Hải Bắc,
Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên (2006); Phong cách nghệ thuật của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5
Tô Hoài, luận án tiến sĩ của Mai Thị Nhung, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
(2006)...Các nghiên cứu nói trên đã xem xét tác phẩm của Tô Hoài ở các góc
độ văn học, chú trọng đến đề tài, cách xây dựng hình tượng nhân vật, không
gian, thời gian, cái nhìn nghệ thuật..., giúp người đọc thấy được sự đóng góp
đáng kể của Tô Hoài cho nền văn học nước nhà.
- Ở phương diện ngôn ngữ học, phải kể đến các công trình, bài viết:
Phong cách viết ngƣời thực việc thực trong tiểu tuyết Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ
của Tô Hoài của tác giả Huyền Kiêu (1972); Ngôn ngữ một vùng quê trong
tác phẩm đầu tay của Tô Hoài của Võ Xuân Quế (1990); Cát bụi chân ai của
Xuân Sách (1993); Cấu trúc thời gian và ngôn ngữ trong Cát bụi chân ai của
Đặng Thị Hạnh (1998); Tô Hoài và thể hồi ký của Vương Trí Nhàn (2002);
Ngôn ngữ giàu tính tạo hình trong văn xuôi viết về đề tài miền núi của nhà
văn Tô Hoài, luận văn của Lê thị Na, Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
(2003)...Nhìn chung, các tác giả đều đi đến khẳng định sự sáng tạo về mặt
ngôn ngữ của Tô Hoài, cho rằng đây là một yếu tố rất quan trọng làm nên
phong cách nghệ thuật đặc sắc của ông.
 DMPLK là một trong những tác phẩm rất nổi tiếng của Tô Hoài. Từ khi
ra đời đến nay, tác phẩm dành cho thiếu nhi độc đáo này luôn nhận được sự
quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình chủ yếu từ góc độ văn học. Có thể
kể đến tác giả là: Trần Đăng Suyền (1984), Nguyễn Lộc, Đỗ Quang Lưu
(1990), Hà Minh Đức (1998)... Các nhà nghiên cứu đều thống nhất đánh giá

Do DMPLK được in rất nhiều lần, có thể có những văn bản không thật sự
trùng khớp. Vì thế, trong luận văn này, bản in tác phẩm DMPLK, xuất bản
năm 2003 của Nxb Giáo dục được chọn làm văn bản để nghiên cứu.
3.2. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu hội thoại dưới cái nhìn ngữ dụng học trong một tác phẩm
như DMPLK là phải miêu tả những đặc điểm của các đơn vị hội thoại, được
thực hiện trong những hoàn cảnh khác nhau, nhằm đạt tới những mục đích
(hay ý đồ) đa dạng trong giao tiếp bằng lời giữa các nhân vật trong tác phẩm. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

7
Để phát hiện những đặc điểm hội thoại trong DMPLK, có thể đặt ra yêu
cầu xem xét đối tượng từ nhiều phương diện: những yếu tố chi phối sự vận
động hội thoại; sự thể hiện các quy tắc hội thoại; cấu trúc các cuộc hội thoại;
sự thể hiện các quan hệ liên nhân, phép lịch sự... cụ thể, trong tác phẩm.
Trong khuôn một khổ luận văn cao học, chỉ hai khía cạnh chính của hội
thoại trong DMPLK được nghiên cứu:
- Về cấu trúc của hội thoại
- Về sự thể hiện những mối quan hệ liên cá nhân và phép lịch sự qua hội thoại.
4. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
4. 1. Mục đích
Qua việc xem xét hội thoại trong DMPLK ở một vài khía cạnh chính
(cấu trúc; quan hệ liên cá nhân và phép lịch sự...), luận văn nhằm chỉ ra các
đặc điểm của hội thoại dưới góc nhìn ngữ dụng học, của rất nhiều nhân vật
thể hiện mình qua nói năng ở các hoàn cảnh khác nhau, với những tâm trạng,
vị thế, mục đích giao tiếp... đa dạng, trong một tác phẩm được coi là rất đặc
sắc của Tô Hoài này.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

 Luận văn là một minh chứng cho khả năng áp dụng các tri thức chung
về hội thoại nói riêng, về ngữ dụng học nói chung, để nghiên cứu ngôn ngữ
trong một tác phẩm cụ thể.
 Kết quả luận văn có thể được dùng làm cơ sở đối với cách phân tích
ngôn từ nghệ thuật trong tu từ học, đặc biệt để làm sáng rõ phong cách ngôn
ngữ của các nhà văn qua các tác phẩm của họ.
6.2. Về thực tiễn
Luận văn hướng tới khả năng giúp cho việc tìm hiểu phục vụ dạy và học
về ngôn ngữ văn học nói chung và về ngôn ngữ tác phẩm DMPLK nói riêng
trong nhà trường, đặc biệt dạy tiếng Việt ở trường trung học phổ thông.
7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn gồm ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết
Chương 2: Cấu trúc hội thoại trong Dế Mèn phiêu lưu ký
Chương 3: Sự thể hiện những quan hệ liên cá nhân - phép lịch sự trong
Dế Mèn phiêu lưu ký. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. LÍ THUYẾT HỘI THOẠI TRONG NGỮ DỤNG HỌC
1.1.1. Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, căn bản, phổ biến của
ngôn ngữ và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác. Trong
tác phẩm nổi tiếng là “Thi pháp tiểu thuyết”, M.Bakhtin cũng đã nhấn mạnh
vai trò của hội thoại (ông gọi là “đối thoại”). Theo ông, đối thoại là bản chất
của ý thức, bản chất của cuộc sống con người…Sống tức là tham gia vào đối

nên cái khác biệt của các cuộc thoại. Đó là: tính chủ động hay bị động của
các đối tác (còn gọi là “đối ngôn”); sự có mặt hay vắng mặt của vai nghe
trong hội thoại.
- Cuộc thoại còn khác nhau ở tính có đích hay không có đích. Những
cuộc hội thoại trong thương thuyết, ngoại giao, hội thảo khoa học... thường có
chủ đích, chủ đề được xác định rõ ràng. Trong khi đó những cuộc chuyện trò
tán gẫu thường là không có đích, lan man.
- Hội thoại còn mang tính có hình thức hay không có hình thức cố định.
Những cuộc hội nghị thương thảo thường có hình thức tổ chức khá chặt chẽ,
trang trọng đến mức thành nghi lễ. Những chuyện trò “đời thường, vặt vãnh”
thường không cần một hình thức tổ chức cố định và chặt chẽ nào cả.
1.1.2. Trong bất cứ cuộc hội thoại nào cũng có ba vận động chủ yếu: trao lời,
trao đáp và tương tác. Đây được coi là những điều kiện cần và đủ để hình
thành nên một cuộc giao tiếp hoàn chỉnh và đúng thể thức.
Vận động đầu tiên xuất hiện trong một cuộc hội thoại là người nói đưa ra
phát ngôn của mình hướng về người nghe nhằm truyền đi một lượng tin nhất
định và hướng tới một (một số) mục đích nhất định, đây được gọi là “vận
động trao lời của người nói (người phát - Sp1).
Sau khi tiếp nhận phát ngôn của người nói, người nghe (Sp2) đưa ra phát
ngôn để thể hiện quan điểm, ý kiến, tình cảm của mình (phát ngôn phản ứng)
để đáp lại lời trao từ Sp1, đây được gọi là “vận động trao đáp”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
Trong quá trình hội thoại, các đối ngôn sẽ có ảnh hưởng lẫn nhau, tác
động đến cách ứng xử của nhau. Đây được xem là vận động tương tác xảy ra
trong hội thoại. Trước khi hội thoại giữa các đối ngôn tồn tại một khoảng cách
nhất định về sự hiểu biết lẫn nhau, về tâm lí, tình cảm… Sau khi hội thoại,

hội thoại…
Trước C.K. Orecchioni, từ năm 1967 Grice cũng đã từng xuất phát từ
quy luật trong hội thoại mà đề ra nguyên tắc cộng tác hội thoại và các
phương châm hội thoại. Nội dung chủ yếu của nguyên tắc cộng tác hội
thoại được P. Grice đề xuất là:
Hãy làm cho phần đóng góp của anh (vào cuộc thoại) đúng như nó được
đòi hỏi ở giai đoạn (của cuộc hội thoại) mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay
phương hướng của cuộc hội thoại mà anh đã chấp nhận tham gia vào.
Nguyên tắc này bao trùm bốn phạm trù mà Grice gọi tên là: phạm trù
lượng, phạm trù chất, phạm trù quan hệ, phạm trù cách thức. Mỗi phạm trù
như vậy tương ứng với một tiểu nguyên tắc mà Grice gọi là phương châm, và
mỗi phương châm lại bao gồm một số tiểu phương châm. Đó là: phương
châm về lượng; phương châm về chất; phương châm quan hệ; phương châm
về cách thức.
1.1.3.3. Trong hội thoại, ngoài quan hệ trao đổi thông tin (miêu tả, trần
thuật- những thông tin được đánh giá theo tiêu chí đúng sai lôgic) còn có quan
hệ được gọi là “liên cá nhân” (quan hệ giữa các “vai” trong giao tiếp). Liên
quan trực tiếp tới quan hệ liên cá nhân là vấn đề lịch sự trong giao tiếp.
 Theo cách hiểu thông thường, “lịch sự” là cách giao thiệp, cách cư xử
khiến cho người khác vui lòng. Tuy nhiên ở góc độ ngữ dụng học, khái niệm
“lịch sự” không chỉ hiểu đơn giản như vậy, mà phải được đưa ra trên khái niệm
“thể diện” mới đảm bảo được tính toàn vẹn và đầy đủ. Theo C.K. Orecchioni,
đây là một khái niệm bao trùm tất cả các phương diện của diễn ngôn, bị chi
phối bởi các quy tắc có vai trò giữ gìn sự hài hoà của quan hệ liên cá nhân.
Còn theo George Yule, bên trong một cuộc tương tác, lịch sự được xem như
phương tiện dùng thể hiện sự nhận thức được thể diện của người khác. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
Một học giả có tên tuổi khác là J.N. Leech đã đề xuất các quy tắc về lịch
sự. Các quy tắc này được xây dựng không phải trên khái niệm “thể diện” mà
trên hai khái niệm “tổn thất” và “lợi ích”, với 6 phương châm lịch sự lớn:
- Hướng xem xét theo cộng tác hội thoại:
B. Fraser (1975) và Nolen (1981) đã tìm ra cách tiếp cận này. Cùng với
việc tán đồng các quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước, hai tác giả chỉ
ra rằng lịch sự là sự cộng tác của các bên khi tham gia hội thoại. Nếu sự cộng
tác hài hoà thì tạo nên được lịch sự, nếu sự hài hoà bị phá vỡ thì dẫn đến bất
lịch sự.
- Hướng xem xét theo thể diện:
P. Brown và S. Levison (1978 và 1987) được xem là hai tác giả nổi tiếng
nhất trong lĩnh vực nghiên cứu về lịch sự. Theo các tác giả này, phép lịch sự
trong giao tiếp có liên quan đến thể diện của người nói và người nghe khi giao
tiếp. Đây là lí thuyết hiện nay được coi là nhất quán, có ảnh hưởng rộng rãi
nhất đối với việc nghiên cứu về phép lịch sự. Vậy thể diện là gì?
Theo J. Thomas, thể diện nên được hiểu là cảm giác về giá trị cá nhân
của mỗi người, là hình ảnh về ta, về chính mình. Cái hình ảnh này có thể bị
tổn hại, được giữ gìn hay được đề cao trong tương tác.
Như vậy “thể diện” hiểu một cách khái quát, là tư cách, là lợi ích tinh
thần, là danh dự mà mỗi cá nhân khi tham gia giao tiếp đều muốn là phía bên
kia sẽ tôn trọng và giữ gìn nó.
Nhìn vào bản chất của thể diện, P. Brown và S. Levison đã phân biệt hai
phương diện như sau:
Thể diện dương tính là sự cần được người khác thừa nhận, thậm chí quý
mến, được đối xử như một thành viên trong nhóm đó.
Thể diện âm tính là sự cần được độc lập, có tự do trong hành động,
không bị áp đặt bởi người khác. Theo các tác giả này , “Nói đơn giản thể

dụng hành vi ngôn ngữ nhằm bày tỏ tình thân hữu, chú ý rằng cả hai người
đều có cùng một điều mong muốn, và cả hai có cùng một mục tiêu chung. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
Mỗi chiến lược lịch sự đều có những cách biểu hiện ngôn ngữ khác nhau,
như giảm thiểu sự xung khắc, tình thái hoá, “tháo ngòi nổ”, vuốt ve…, trong
chiến lược lịch sự âm tính, hay dùng những hành vi tôn vinh thể diện người
nhận, dùng các yếu tố ngôn ngữ để xác lập quan hệ cùng nhóm xã hội giữa
người nói và người nhận.
1.1.4. Cấu trúc hội thoại
Hội thoại được xem là một tổ chức có tôn ti, nên cũng có các đơn vị cấu
trúc từ lớn đến tối thiểu. Lớn nhất trong cấu trúc hội thoại là cuộc thoại và
nhỏ nhất là hành vi ngôn ngữ.
1.1.4.1. Cuộc thoại được hiểu là cuộc tương tác bằng lời, là đơn vị hội thoại
lớn nhất, tính từ khi các đối ngôn gặp nhau, khởi đầu nói và nghe cho đến lúc
chấm dứt quá trình này.
Trong một cuộc nói chuyện, những bên tham gia có thể trao đổi hết vấn
đề này đến vấn đề khác, nhưng bao giờ cũng có lúc bắt đầu và lúc kết thúc.
Những lúc như thế làm nên ranh giới một cuộc thoại. Lúc bắt đầu được gọi là
“mở thoại”, do một bên đề ra, lúc kết thúc cũng là một bên chủ động đề ra,
gọi là “kết thoại”. Giữa mở thoại và kết thoại là phần trung tâm cuộc thoại là
thân thoại.
Cấu trúc tổng quát của một cuộc thoại thường bào gồm:
Đoạn thoại mở thoại
Đoạn thoại thân thoại
Đoạn thoại kết thoại.
Dựa vào những tiêu chí nào để xác định một cuộc thoại? Đó là các tiêu chí:

Thực ra trong ngữ dụng học hiện nay, sự phân định các loại đoạn thoại
vẫn chưa rành mạch, cũng như sự phân định cuộc thoại. Tuy nhiên đây vẫn là
những đơn vị thực có, dù đường ranh giới giữa chúng đôi khi rất mơ hồ và
việc phân định có khi phải dựa vào trực cảm và võ đoán. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

18
1.1.4.3. Cặp thoại được coi là đơn vị hội thoại nhỏ nhất của một cuộc thoại,
do các tham thoại tạo nên. Nói cách khác: cặp thoại được cấu thành từ các
tham thoại.
Xét về cấu trúc, có các loại cặp thoại như sau:
- Cặp thoại một TT: xảy ra khi người nghe thực hiện một hành động vật lí
(gật đầu, lắc đầu, xua tay…) thay cho hành động ngôn ngữ, hoặc người nghe im
lặng, không có hành động gì cả, lúc đó ta có cặp thoại được gọi là “hẫng”.
- Cặp thoại hai TT: được coi là dạng thông thường nhất trong hội thoại.
Trong cặp thoại hai tham thoại, mỗi tham thoại thường ứng với một chức
năng cụ thể: tham thoại thứ nhất được gọi là “tham thoại dẫn nhập”, tham
thoại thứ hai được gọi là “tham thoại hồi đáp”. Ở cặp thoại này, lượt lời trùng
khớp hoàn toàn với một tham thoại (một tham thoại trùng khớp hoàn toàn với
một hành vi ngôn ngữ). Đây là dạng cấu trúc đơn giản nhất của cặp thoại
trong trong hiện thực giao tiếp. Nhưng trong thực tế có rất nhiều trường hợp
cặp thoại gồm ba tham thoại.
- Cặp thoại phức tạp: là cặp thoại có nhiều tham thoại tham gia, hoặc
có thể có ít tham thoại nhưng lại có nhiều hành vi ngôn ngữ, trong quan hệ
ràng buộc lẫn nhau.
Có thể có những dạng cặp thoại phức tạp như sau:
Dạng thứ nhất: Loại cặp thoại có nhiều tham thoại dẫn nhập, nhưng chỉ
có một tham thoại hồi đáp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status