Những đặc điểm tiêu biểu của thơ thời kỳ 1954 - 1964 - Pdf 86

1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ THỊ THANH PHƯƠNG

TĂNG CƯỜNG VẬN DỤNG CÁC BÀI TOÁN CÓ NỘI DUNG THỰC TIỄN
VÀO DẠY HỌC MÔN TOÁN
ĐẠI SỐ NÂNG CAO 10 - THPT
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
Mã Số: 60.14.10
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC
...............................................................................................
Vào hồi: giờ ngày .... tháng .... năm 2008 Có thể tìm hiểu Luận văn tại:
Th- viện tr-ờng Đại học S- phạm
3

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Nền thơ cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 trải qua nhiều chặng
đường khác nhau, mỗi chặng đường thơ đều gắn liền với những sự kiện
chính trị lớn, chi phối toàn diện đời sống xã hội và đã đạt được những
thành tựu đáng ghi nhận.
Nhìn lại chặng đường thơ hơn nửa thế kỷ qua, có thể nói thời kì 1954 -
1964 được đánh giá là giai đoạn chuyển tiếp, giai đoạn “bản lề” giữa thơ ca
thời kì chống Pháp và chống Mĩ. Sau những năm kháng chiến chống Pháp,
thơ viết về đất nước mở ra nhiều hướng khai thác và có nhiều sáng tạo mới
mẻ. Đây là giai đoạn mà thơ ca có nhiều mùa gặt bội thu. Nhiều nhà thơ tìm
được cảm hứng từ hiện thực và vẻ đẹp của con người hăng say xây dựng cuộc
sống mới. Thơ ca giai đoạn này là mối duyên đầu của tấm lòng nhà thơ với
chủ nghĩa xã hội. Những đổi thay tốt đẹp từng ngày trong cuộc sống cùng với
những tưởng tượng về cuộc sống ngày mai tươi sáng, gần gũi đã tạo nên
những tứ thơ đẹp giàu ước mơ và chân thực. Hai miền Nam Bắc tuy có những
yêu cầu khác nhau nhưng cùng chung một nhiệm vụ chiến lược: đấu tranh
thống nhất nước nhà.
Có thể nói thơ ca thời kỳ này phát triển cao ở nhiều phương diện, từ lực

văn học sử trong nhà trường phổ thông.
2. Lịch sử vấn đề
Thơ ca giai đoạn 1954 - 1964 là một bộ phận cấu thành nên thơ ca hiện
đại Việt Nam từ sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến nay. Bởi vậy, việc
nghiên cứu đặc điểm của thơ ca giai đoạn này gắn liền với việc nghiên cứu
quá trình hình thành và phát triển của cả nền thơ Việt Nam sau Cách mạng
5
tháng Tám. Nhìn chung, có thể chia lịch sử nghiên cứu thơ thời kỳ 1954 -
1964 theo những mảng chính như sau:
2.1. Những công trình bàn trực tiếp về thơ thời kỳ 1954 - 1964
Trước hết là các công trình nghiên cứu thể hiện trong các giáo trình Đại
học ngành Ngữ văn. Ngay từ năm 1961, GS. Hoàng Như Mai đã dành
Chương XXI trong cuốn Văn học Việt Nam thời hiện đại (1945 - 1960) để
trình bày về “Thơ ca hoà bình lập lại”. Trong khi đánh giá chung về sự phát
triển và thành tựu của thơ ca trong vòng 6 năm sau ngày hoà bình (1954),
Giáo sư cũng đã bước đầu chỉ ra một số đóng góp của các nhà thơ tiêu biểu
như Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh…
Đồng thời, năm 1962 Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũng cho ra đời
cuốn Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam tập VI (1945- 1960) của PGS
Huỳnh Lý và Trần Văn Hối. Trong đó, các tác giả đã nêu ra ba đặc điểm của
thơ ca giai đoạn này là: thơ đi vào hai loại đề tài là đấu tranh thống nhất nước
nhà và lao động kiến thiết xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc. Những năm về sau
trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả của hai trường Đại học
(Sư phạm và Tổng hợp) tiếp tục có Chương, Mục đánh giá về thơ giai đoạn
1954 - 1964 như Văn học Việt Nam 1954 - 1964 của Mã Giang Lân- Lê Đắc
Đô (1990). Văn học Việt Nam 1945 -1975, tập I của GS. Nguyễn Đăng Mạnh
và PGS. Nguyễn Trác, PGS. Trần Hữu Tá. GS. Mã Giang Lân cho rằng: “Thơ
giai đoạn này đã vượt qua những kể lể mộc mạc của giai đoạn trước, cố gắng
khám phá ra vẻ đẹp bên trong của cuộc sống, khái quát tạo ra những hình
tượng thơ có tính chất điển hình. Thơ không chịu nằm lỳ trong những thể loại

1964 đã giúp người đọc có cái nhìn đầy đủ hơn diện mạo của thơ Việt Nam
giai đoạn này.
Có thể kể đến các bài của Hoài Thanh, Hà Xuân Trường, Bảo Định
Giang, Lê Đình Kỵ viết về tập Gió Lộng (1961) của Tố Hữu. Các bài của Xuân
7
Diệu, Lê Đình Kỵ, Hà Minh Đức viết về tập thơ Ánh sáng và phù sa (1960)
của Chế Lan Viên. Các bài của Phan Cự Đệ, Lê Nhuệ Giang, Vũ Đức Phúc viết
về các tập thơ Riêng chung (1960), Một khối hồng (1964) của Xuân Diệu. Các
bài của Chế Lan Viên, Lê Đình Kỵ, Đào Xuân Quý, Nguyễn Hoành Khung viết
về các tập Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960), Bài thơ cuộc đời
(1963) của Huy Cận. Các bài của Lê Đình Kỵ, Đỗ Hữu Tấn, Nguyễn Đình,
Hoàng Minh Châu, Thiếu Mai viết về các tập thơ Gửi miền Bắc (1958), Tiếng
sóng (1960), Hai nửa yêu thương (1963) của Tế Hanh…
Nhìn chung, các bài viết về từng tập thơ thường hướng theo phân tích
tác phẩm, nghiêng về khẳng định những thành công và đóng góp của tập thơ,
khẳng định vị trí của tập thơ trong quá trình sáng tác của tác giả. Các ý kiến
đó thường nghiêng về sự biểu dương các thành tựu của cả phong trào cũng
như đặc điểm phong cách nhà văn. Tuy nhiên nó thường được nhìn nhận một
cách riêng lẻ (nhất là các bài viết về từng tập thơ).
Đó là chưa kể nhiều bài viết giới thiệu các nhà thơ có tác phẩm ra đời
vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, thời điểm được mệnh danh là “mùa
gặt” của văn học ta nói chung và thơ ca nói riêng.
Với sự xuất hiện của tuyển tập thơ: Tiếng hát miền Nam, Sức mới
(Tập thơ bạn trẻ)… cũng có những bài phê bình giới thiệu kịp thời. Trong bài
Tựa tập thơ Sức mới, Chế Lan Viên khẳng định sự phát triển của phong trào
thơ, thành công của một hướng đi: từ cuộc sống gắn bó với cuộc sống “nồng
ấm hơi thở cuộc sống”, tuy còn hạn chế không nhỏ “còn chọn lọc cuộc sống
theo một quan niệm “thi vị hoá” khá lỗi thời” “còn lên gân, nhồi nhét các chữ
ầm ĩ, ồn ào trong lời văn tụng ca cuộc sống”, phải làm sao cho “ngọn lửa lí
tưởng trong thơ của thế hệ trẻ bừng cháy thêm” “chất thép sắc nhọn thêm”,

là những tư liệu định hướng, gợi ý đối với chúng tôi trong quá trình triển khai
đề tài này.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu đặc điểm thơ thời kỳ 1954 -
1964 trong tiến trình thơ VNHĐ, từ phương diện cảm hứng và các xu hướng
khám phá thể hiện. Trên cơ sở đó đánh giá, khẳng định thành tựu nổi bật của
thơ thời kỳ này.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thơ thời kỳ 1954 - 1964, chủ yếu
là phong trào sáng tác thơ của ba lực lượng: Thơ của các nhà thơ có sáng tác
từ trước Cách mạng tháng Tám, thơ của các nhà thơ trưởng thành trong kháng
chiến chống Pháp và thơ của các nhà thơ trẻ xuất hiện sau 1954.
Chủ yếu khảo sát những bài thơ có giá trị về nội dung tư tưởng và nghệ
thuật và một số tập thơ của các nhà thơ tiêu biểu.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các tác phẩm thơ của các tác giả
tiêu biểu từ 1954 - 1964 với trọng tâm là thơ Cách mạng, thơ kháng chiến.
Luận văn chưa có điều kiện đề cập tới mảng thơ ở các đô thị miền Nam được
sáng tác theo những cảm hứng nội dung tư tưởng khác. Bên cạnh đó để làm rõ
các đặc điểm thơ Việt Nam thời kỳ 1954 - 1964 luận văn lấy các tác phẩm
tiêu biểu trong thơ các giai đoạn khác để tiến hành so sánh.
5. Những đóng góp của luận văn
Luận văn đóng góp một cách nhìn toàn diện, có hệ thống về thơ thời kỳ
1954 - 1964. Nêu lên những nhận định bước đầu, có tính chất khái quát mà trước
đây chỉ mới được phác qua về những tác phẩm cụ thể, những khía cạnh riêng lẻ.
Phác thảo diện mạo chung của đội ngũ, nêu lên những đường nét cơ
bản về sự vận động và phát triển của lực lượng sáng tác, ý thức nghệ thuật,
phong cách nghệ thuật tiêu biểu và các xu hướng vận động phát triển của thơ.
10
Mở rộng phạm vi đề tài, xu hướng khái quát, tổng hợp, triết lí, suy tưởng và
xu hướng tự do hoá hình thức thơ.

1.1. ĐỘI NGŨ SÁNG TÁC VÀ SỰ TRƯỞNG THÀNH CỦA Ý THỨC NGHỆ
THUẬT MỚI
1.1.1. Đội ngũ các nhà thơ
Như một sự tất yếu của mỗi thời kì lịch sử, mỗi giai đoạn văn học, đều
cần có một đội ngũ sáng tác văn học của mình.
Hợp thành đội ngũ thơ 1954 - 1964 là ba lực lượng chính: Thế hệ các
nhà thơ tiền chiến được rèn luyện thử thách và “lột xác” từ trong lò lửa của
cuộc kháng chiến chín năm, những nhà thơ trưởng thành trong phong trào thơ
ca kháng chiến chống Pháp và đáng chú ý là lớp nhà thơ mới xuất hiện, được
nuôi dưỡng và trưởng thành sau hoà bình (1954).
Đối với các thế hệ nhà thơ có quá trình sáng tạo nghệ thuật trước cách
mạng tháng Tám: Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh, Thế Lữ, Lưu
Trọng Lư, Nguyễn Bính, Anh Thơ… đội ngũ ấy bao gồm những nhà thơ đã
trải qua cuộc đời nô lệ của người dân mất nước, hồ hởi đến với cách mạng
“Như chờ vang tiếng sét giữa trời mây” (Chế Lan Viên), đây là giai đoạn
phát triển đến đỉnh cao trên nhiều phương diện: Ý thức nghệ thuật, cá tính
sáng tạo và thành tựu thơ.
Đến với Tố Hữu - một thi sĩ có “tầm cỡ khai sáng cho cả nền thơ trữ
tình cách mạng” [45,280], con chim đầu đàn vạch hướng cho cả một nền
thơ, là người “mở đường” và tiêu biểu nhất cho nền thơ cách mạng. Ngay từ
tiếng nói thơ ca đầu (trước cách mạng), Tố Hữu đã thể hiện rõ một con đường
đi, một hướng sáng tạo. Bởi vậy ngay từ đầu Tố Hữu đã chín với chất sống
12
mới chất đời mới. “Ông không chịu chung quy luật chín lại với thực tế mới
của một số nhà thơ lớp trước và đã vượt qua được bước sôi nổi ban đầu nhưng
còn chưa vững chắc của lớp nhà thơ mới lớn lên với cách mạng tháng Tám”
[22, 134]. Là người cùng thế hệ với nhiều nhà Thơ mới, Tố Hữu trước khi
giác ngộ lí tưởng cách mạng cũng tìm thấy ở họ những tâm trạng gần gũi với
mình trong lúc đang “Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời”. Nhưng con đường thơ
Tố Hữu đã khác hẳn những con đường của các nhà thơ mới, vì nó gắn liền với

một đòi hỏi có tính quy luật, một điều không cưỡng lại được. Con đường đi
đến với cách mạng của những nhà thơ lớp trước khá vất vả, không phải là một
vài năm mà hàng chục năm. Đó không chỉ là sự giác ngộ về lí trí mà quan
trọng là ở sự rung động thực sự về tình cảm. Một cuộc tìm đường “trầy trật”
để đến với phương hướng mới, từ một cái tôi cá nhân cô đơn luôn ước ao
“vun hết là vàng để chắn nẻo xuân sang”(Chế Lan Viên). Luôn cho mình là
“Ta là một, là riêng là thứ nhất”(Xuân Diệu), luôn bơ vơ rợn ngợp giữa cô
đơn “Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề” đến với cái tôi công dân, cái ta chung
rộng lớn của cả cộng đồng, hướng về những tình cảm những ý nguyện của cả
cộng đồng, hướng vào khai thác những chất thơ của đời sống kháng chiến.
Các nhà thơ của thế hệ Thơ mới phải trải qua hàng chục năm đi với cách
mạng và nhân dân. Đến thời kì này thực sự tìm lại được cái “tôi” của mình
trong sự hoà hợp, thống nhất với cuộc đời chung với nhân dân và xã hội, niềm
hạnh phúc trong sự hoà hợp giữa cái riêng và cái chung: “Bốn mùa vây quanh,
Con người ở giữa, Tôi ở giữa người”. Nhờ thế, các nhà Thơ mới bước đầu đã
có những đóng góp quý vào nền thơ kháng chiến. Do vậy, xét về mặt hiệu quả
nghệ thuật, quá trình đóng góp, tìm tòi để đổi mới hồn thơ của các nhà Thơ
14
mới trong kháng chiến chống Pháp còn rất hạn chế. Cái tôi trữ tình của nhà
thơ thường vẫn bị khuất lấp sau hiện thực và đối tượng miêu tả. Thành quả
chưa nhiều nhưng mỗi nhà thơ đều có những bài thơ ý nghĩa “đánh dấu” sự
chuyển biến của nhận thức, xúc cảm và bút pháp góp phần vào thành tựu
chung. Chỉ từ sau hoà bình (1954) các nhà thơ mới được rèn luyện, thử thách
và “lột xác” từ trong lò lửa của cuộc kháng chiến chín năm. Giờ đây sau
những ngày bám rễ vào cuộc sống thực tế, họ càng trở nên chín chắn, đồng
thời lại có điều kiện đi sâu thâm nhập vào đời sống, đã “chín” lại với thực tế
đời sống chiến đấu, lao động đông đảo của quần chúng - đã “chín” lại trong
một quan niệm nghệ thuật mới - nghệ thuật gắn bó với đời sống phục vụ cuộc
sống và con người. Các nhà thơ mới bước vào một giai đoạn sáng tác mới, với
tâm thế thanh thản, tự tin, mạnh dạn tìm tòi khám phá và sáng tạo. Mảnh đất

kháng chiến, đã thôi thúc họ cầm bút, họ tạc được những nét chắc khoẻ của
hình ảnh kháng chiến, dồi dào những cảm xúc tươi mới của đời sống. Nếu
như chín năm kháng chiến chống Pháp đã tạo sự quyết định trong tư tưởng
tình cảm của các nhà thơ, thì hiện thực những năm xây dựng hoà bình và đấu
tranh thống nhất đã bồi đắp vững chắc cho tư tưởng, tình cảm và mở rộng
nguồn cảm xúc. Họ đạt đến một độ “chín” thực sự xét trên cả hai phương
diện: cảm hứng sáng tạo và nghệ thuật thơ, đặc biệt đạt đến sự hài hoà, nhuần
nhị giữa hiện thực đời sống và hiện thực tâm trạng, một số nhà thơ đã xuất
bản những tập thơ có giá trị riêng, tiêu biểu như: Nguyễn Đình Thi với Người
chiến sĩ (1956) và Bài thơ Hắc Hải (1959), Hoàng Trung Thông với Quê
hương chiến đấu (1955), Những cánh buồm (1964), Trần Hữu Thung có liên
tục ba tập thơ: Đồng tháng tám (1955), Ngày thu ấy (1957), Gió nam (1962),
Nguyễn Xuân Sanh hết nghe Tiếng quê ta (1955) lại Lắng nghe bước xuân
16
về (1961). Nông Quốc Chấn nhà thơ Tày, năm 1943 đã kể chuyện Việt Bắc
đánh giặc nay hoà bình được hân hoan với Tiếng ca người Việt Bắc (1962)
và Người núi hoa (1961)…
Sự bổ sung, tiếp nối các thế hệ nhà thơ là quy luật tự nhiên, tất yếu của
mỗi nền thơ. Đến giai đoạn thơ 1954 - 1964, cùng với hai lực lượng chủ đạo:
các nhà thơ trước cách mạng tháng Tám và các nhà thơ xuất hiện trưởng
thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp đã có sự bổ sung đáng quý của một
lực lượng sáng tác trẻ xuất hiện từ sau hoà bình: Nguyễn Bao, Xuân Quỳnh,
Bằng Việt, Ngô Văn Phú, Võ Văn Trực, Ca Lê Hiến (Lê Anh Xuân), Bùi
Minh Quốc, Phạm Tiến Duật, Vân Long… Lực lượng thơ trẻ dào dạt bay
bổng trong cảm hứng về cuộc sống mới, họ nói được một cách tự nhiên, đằm
thắm lí tưởng mới con người mới, họ mang đến cho thơ hơi thở nồng ấm của
của cuộc sống dựng xây náo nức trên miền Bắc sau hoà bình. “Họ ở trong
nhiều ngành nghề, địa phương khác nhau, đứng từ nhiều góc độ khác nhau để
nhìn cuộc sống. Do đó, gộp tất cả các cái nhìn riêng của họ lại, ta có một số
thành không đơn điệu, một cái nhìn chung khá phong phú về cuộc đời [59,6]. Và

đọc dễ nhớ, dễ thuộc, dễ phổ biến. Với quá trình tìm tòi, mò mẫm từ bước
nhận đường qua chặng quá độ để đến được sự định hình khuôn mặt nền thơ ca
mới, để đạt tới sự chân thực nghệ thuật. Như giáo sư Hà Minh Đức đã nhận
xét: Thơ ca kháng chiến có một vẻ đẹp chân thực, giản dị, hồn nhiên, nhưng
chưa phong phú, đa dạng. Phong trào thơ có chiều rộng nhưng chưa có chiều
sâu, có thành tựu đáng kể nhưng chưa đều. Hình thức trong thơ nhiều lúc còn
đơn giản sơ lược [22.144] Đến giai đoạn này (Giai đoạn 1954 - 1964) cùng
với những chuyển đổi nội dung, các nhà thơ đã thật sự quan tâm tìm đến một
hướng tìm tòi hình thức vận động nội tại của thơ. Cùng với cuộc sống xây
dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất nước nhà tiến không ngừng lên
18
một mức độ cao, đặt cho thơ một nhiệm vụ lớn và sâu, đòi hỏi các thi sĩ phải
làm thơ hay hơn nữa, “tức là đưa thêm cái phần lãng mạn bay bổng kết bạn
khăng khít với cái phần hiện thực vững vàng…tăng cường chất thơ, chất suy
nghĩ hình tượng, chất cảm xúc, chất nhạc điệu” [13.172]. “Những con ong hút
nhuỵ từ những bông hoa của đời sống” [20,169] đã ý thức rõ ràng và sâu sắc
hơn về tính chất “chuyên nghiệp” của cả một nền thơ. “Nói cho cùng thơ là
kết quả của sự nhập tâm” đời sống trí tuệ, tài năng của nhân dân, nhập tâm
được bao nhiêu là nhờ ở cuộc đời của mình gắn bó được bao nhiêu với nhân
dân mình. Nhập tâm từ tâm hồn, tình cảm, đến dáng đi, giọng nói, tiếng khóc,
tiếng cười. Nhập tâm đến một mức độ nào đó thì thơ ấy hình thành. Có thể
nói thơ chỉ tràn ra khi con tim ta cuộc sống đã thật đầy [42,439].
Có thể nói đến giai đoạn thơ này những vấn đề rất cơ bản: Tính dân tộc
và hiện đại, hiện thực và lãng mạn, mối quan hệ giữa nội dung và hình thức
đã được đặt ra khẩn thiết và nghiêm túc. Trên định hướng lớn về đường lối và
văn nghệ mà Đại hội Đảng Việt Nam lần thứ ba (1960) đã vạch ra: “Phát triển
nền văn nghệ mới với nội dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc, có tính Đảng
và tính nhân dân sâu sắc. Nắm vững phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa,
phấn đấu để có thêm nhiều tác phẩm phản ánh chân thật cuộc sống mới, con
người mới góp phần giáo dục và động viên nhân dân đấu tranh cho cách mạng

lối văn nghệ cách mạng của Đảng “Nền văn nghệ ta là nền văn nghệ của nhân
dân lao động. Văn nghệ sĩ chúng ta phải là người nói lên cuộc đời và tâm
trạng của công nông, trả lời được những vấn đề của cuộc sống cách mạng đặt
ra” [42.31]. Bởi, “Văn học là cuộc đời”… “Cuộc đời ấy là trái tim của mình
của người nghệ sĩ”. Trái tim ấy nó gắn liền với với tiếng nói yêu thương, với
lời ca tranh đấu, giàu ước mơ và khát vọng, gắn liền với lí tưởng bay bổng,
20
phần cao đẹp của tâm hồn và kết tinh lại ở những cảm xúc trong sáng, những
suy nghĩ cao đẹp tích cực nhất của người nghệ sĩ.
Tế Hanh cũng đã nêu cho mình phương châm sáng tạo qua suy nghĩ:
“Câu thơ đẹp là câu thơ có ích - Uống tự nguồn những suối ban mai”.
Câu thơ “đẹp”, những câu thơ “có ích” với cuộc sống cũng đã được đặt
ra từ thời kì kháng chiến chống Pháp. Đến thời kì này thơ với cuộc sống lại
được quan niệm một cách rõ ràng và sâu sắc hơn, gắn với yêu cầu hết sức lớn
lao của thời đại, thơ đã được mở rộng cảm xúc theo hướng phong phú, đa
dạng để có thể bao quát được từ những vấn đề chung lớn lao để hoà với
những nhịp sống chung gần gặn nhất của mỗi con người. Thơ không thể
không đi vào cuộc sống, sống trong cuộc sống bởi nếu tách khỏi nó thì thơ ca
sẽ như “cây nhổ khỏi đất ”, “cá ra ngoài nước”. “Thơ là sự thể hiện con người
và thời đại một cách cao đẹp. Thơ không chỉ nói lên tình cảm riêng của nhà
thơ mà nhiều khi thông qua tình cảm đó nói lên… ước mơ của nhân dân, vẽ
lên những nhịp đập của trái tim quần chúng”(Sóng Hồng).Các nhà thơ quan
niệm thơ không chỉ là những “hầm chông giết giặc”, “những dòng thơ lửa
cháy” mà thơ còn là những “dòng thơ tươi xanh” là “nhành hoa mát mặt cho
đời” như “thơ giữa cuộc đời” như “hoa giữa nắng”, làm sao cho “Mỗi câu thơ
che một trận tuyến tâm tình”. Nhà thơ phải làm sao cho thơ mình thật sự
“mang cánh lửa” bay hoà vào cuộc sống chung.
Các nhà thơ đã suy nghĩ và thể hiện một cách nghiêm túc và sâu sắc
nhất về mục đích và nhiệm vụ của thơ ca thời kì này. Với suy nghĩ đó, đã
khiến cho hồn thơ ảo não bậc nhất thơ mới của Huy Cận đã nhìn thấy Trời

luôn được sự cổ vũ của đường lối văn nghệ của Đảng và nhiệt tình của quần
22
chúng cách mạng, nhà thơ đã xác định được chỗ đứng vững chắc của mình
trong lòng quần chúng:
Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi
Cùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máu,
Tôi sống với cuộc đời chiến đấu
Của triệu người yêu dấu gian lao
Cùng yêu thương, gắn bó với con người như “ruột thịt”:
Những người ấy với tôi là ruột thịt
Trong lời thơ tôi gửi hết yêu thương
(Tiếng sóng - Tế Hanh)
Vấn đề đặt ra ở đây là thơ ở đây không chỉ đơn thuần là miêu tả tâm tư
tình cảm mà còn muốn qua thơ ca thấy một cách đặt và giải quyết những vấn
đề căn bản, lớn lao, bức thiết của đời sống xã hội, đời sống cá nhân con người:
“Thơ xưa chỉ hay than mà không biết hỏi
Đảng dạy ta: Thơ phải trả lời”
(Nghĩ về thơ - Chế Lan Viên)
Xác định được mục đích và nhiệm vụ cho thơ ca thời kì này các nhà
thơ đã hát lên tiếng lòng của mình với cuộc sống với thái độ chân tình, thấm
thía, với những suy tư đầy trăn trở sâu sắc và trách nhiệm. Một khi người
nghệ sĩ đã có được quan niệm rõ ràng về thơ ca, có được sự chín muồi trong ý
thức nghệ thuật là cơ sở để đánh dấu sự trưởng thành của một nền thơ.
1.1.2.2. Đổi mới trong ý thức nghệ thuật
Đất nước hồi sinh đã tạo ra nguồn cảm hứng lớn cho thơ, quyết định
đến sự chuyển biến tư tưởng của nhà thơ. Khơi gợi những tình cảm tốt đẹp,
những nhận thúc đúng đắn và cách cảm cách nghĩ về đối tượng của văn học.
Thực tế, ngay sau Cách mạng tháng Tám và cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp, hiện thực cuộc sống đã cuốn hút các nhà thơ, thực sự đã đưa các nhà
23

sĩ cảm thấy như “không sống kịp” và “bỡ ngỡ”, hoặc không viết nổi, hoặc viết
mà không cảm thấy hài lòng” [29]. “Trong cái thế giới xúc cảm của tôi lúc
bấy giờ chưa thật nảy nở những yếu tố cảm xúc mới. Mà trong việc sáng tác
thơ thì tư tưởng phải nhào nặn với cảm xúc thành một trạng thái tâm hồn duy
nhất, thôi thúc thì mới sinh ra tác phẩm được [29]. Chính vì vậy khi đi vào
cuộc kháng chiến chống Pháp, hoà nhập vào dòng thác cách mạng các nhà thơ
“tiền chiến” còn không ít những điều “bất ổn”, kìm hãm sức sáng tạo nghệ
thuật. Ở họ đã mang khuynh hướng nghệ thuật khác nhau, quan niệm thơ khác
nhau thậm chí đối lập nhau. Nếu như các nhà thơ cách mạng quan niệm: “Thơ
và cách mạng không thể tách rời”, “thơ là vũ khí đấu tranh cách mạng”, thì
các nhà thơ mới lại quan niệm cực đoan “Nghệ thuật vị nghệ thuật”, nhà thơ
chỉ “Là con chim đến từ núi lạ - Ngứa cổ hót chơi” (Xuân Diệu). Dường như
họ chưa thoát ra khỏi quỹ đạo của cái tôi, bởi cái tôi xưa cũ đã trở thành một
thói quen, một vật sở hữu riêng tư, gạt bỏ nó quả là điều không dễ dàng. Bởi,
“Cái chất hưởng thụ cầu an tích luỹ trong thể xác và tâm trí… hàng mấy chục
năm, nay làm thành sức ỳ khó lay chuyển” [71,72]. Chịu đựng, thử thách và
vượt qua những trạng thái tình cảm đó sẽ tiếp cận và gặp gỡ được với niềm
vui rộng rãi, bao la, ấm áp nồng hậu của tập thể. Tế Hanh đã nói lên cảnh
phân li với con người cũ:
Sang bờ tư tưởng ta lìa ta
Một tiếng gà lên tiễn nguyệt tà
Bước chuyển biến ấy diễn ra và kéo dài suốt thời kỳ kháng chiến chống
Pháp. Phải làm sao để có sự ăn nhập với cuộc sống mới, tâm tình chung của
nhà thơ phù hợp với tâm tình chung của quần chúng cách mạng. Chế Lan Viên
đã nói lên chân thực những băn khoăn của lớp nhà thơ lớp trước khi đi theo
25
cách mạng: “Nhớ những ngày mới cách mạng rồi trải qua những năm tháng
đầu kháng chiến nữa, gần như có một sự chuệch choạc, một khoảng cách gần
không ra gần, xa chẳng ra xa giữa bạn đọc với tâm hồn tác giả và ngay trong
tâm hồn tác giả giữa cái phần này và phần khác của mình” [21,100].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status